CHUYÊN ĐỀ 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Đặt vấn đề Trong những năm qua, phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguy
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN
MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Đặt vấn đề
Trong những năm qua, phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để đang là những vấn đề bức xúc
Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa đồng bộ để có thể kết hợp một cách có hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trong các chiến lược, quy hoạch tổng thể và
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cũng như của các ngành và địa phương, 3 mặt quan trọng trên đây của sự phát triển cũng chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước và thực hiện các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21
1 Các thách thức về kinh tế - xã hội - môi trường và phát triển toàn cầu
và Việt Nam
1.1 Sự phân hoá giầu nghèo và mất ổn định chính trị
Sự tăng trưởng cao không đi đôi với sự giảm tỷ lệ nghèo đói nhanh Bình quân các nước đang phát triển có mức phân hoá giầu nghèo cao, hệ số giảm nghèo
Trang 2là 1,3 % năm so với mức 10 % năm giảm nghèo của các nước có mức độ bình đẳng cao
Hình 1 chỉ quan hệ giữa nghèo và tăng trưởng của các nước (Theo Ngân hàng Thế giới 2003a)
1.2 Sự nghèo đói cùng cực
Thế giới hiện nay còn 1,2 tỉ người có mức thu nhập dưới 1 US$ mỗi ngày, chiếm khoảng 24 % dân số thế giới ; 2,8 tỉ người dưới 2 US$ mỗi ngày, chiếm khoảng 55 % dân số thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2003)
Hình 1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ giảm nghèo
(Ngân hàng Thế giới 2003a)
1.3 Bệnh tật
Mỗi năm có 11 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết ; 15 triệu trẻ em bị chết do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được như chấn thương, tiêu chảy, nhiễm trùng đường hô hấp
Trang 3Trên toàn thế giới có 37,8 triệu người mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, mỗi năm có 3 triệu ngưòi chết vì căn bệnh này, trong đó có 0,5 triệu là trẻ em, mỗi ngày
có 8000 người, 10 giây có một người chết
1.4 Tăng dân số
Mặc dầu đã có những cố gắng lớn về kế hoạch hoá dân số tại tất cả các nước trên thế giới nhưng dân số vẫn tiếp tục tăng Hiện nay, dân số thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và sẽ tiếp tục tăng tới 8,5 tỷ trong 3 thập kỷ tới Trong số đó 83,4%
là dân các nước đang phát triển Sau năm 2005, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050
Tốc độ tăng trưởng dân số toàn thế giới là 1,68% trong thời gian 1990 –
1995 và sẽ giảm xuống còn 1,43% trong thời gian 2000-2005 Hiện nay, mỗi năm trên Trái Đất có thêm khoảng 93 triệu trẻ sơ sinh, vào đầu thế kỷ XXI con số này
92 triệu ở Châu á tốc độ tăng trưởng dân số hiện nay là 1,78% và sẽ giảm xuống còn 1,39% trong thời gian 2000 – 2005
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tốc độ tăng trưởng dân số là 1,8%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn thế giới một ít (1,68%) Tới năm 2030, dân số tại đây sẽ lên tới khoảng 5,8 tỷ, xấp xỉ dân số thế giới năm 1995
Chúng ta đang sống trong thế giới đổi thay với tốc độ nhanh, một thế giới trong đó có hơn 1 tỷ người – bằng 20% dân số toàn cầu – sống trong nghèo khổ, bệnh tật và suy dinh dưỡng Một thế giới trong đó khoảng 1 tỷ người ở các nước công nghiệp phát triển có thu nhập lớn gấp 30 – 40lần so với 4,5 tỷ người thuộc thế giới thứ ba và sử dụng hơn 75% tài nguyên của Trái Đất Một thế giới mà bình quân thu nhập đầu người của 42 quốc gia nghèo nhất khoảng 200 USD Một thế giới mỗi năm có 20 triệu người, trong số đó có 9 triệu trẻ em chết yểu Cũng chính thế giới đó trong vòng 40 – 50 năm tới sẽ bị đe doạ do dân số tăng lên gấp đôi, đến 11tỷ, trong đó 90% dân số thuộc các nước đang phát triển
1.5 Sử dụng năng lượng toàn cầu
Gỗ củi tiếp tục bị khai phá để sự dụng như là nguồn năng lượng quan trọng của nhân loại, đặc biệt ở cỏc nước đang phỏt triển khi cỏc nguồn nguyờn liệu tỏi tạo khỏc chưa được chỳ trọng thớch đỏng Lượng gỗ củi trên được khai thác hàng
Trang 4năm vào đầu thập kỷ 1990 lên tới khoảng 1731 triệu m3, trong đó lượng gỗ dùng làm củi đốt chiếm khoảng 51%, mức tăng hàng năm gần 2%
Ở Việt Nam trữ lượng gỗ củi ước lượng còn khoảng 48 triệu tấn Gỗ củi cùng với các nhiên liệu nguồn gốc thực vật khác (cỏ, phụ phẩm, phế thải công nghiệp) chiếm 50 – 60% tổng năng lượng trong nước hoặc 70 – 80% năng lượng dùng ở nông thôn Do nạn phá rừng, tại một số vùng trữ lượng gỗ củi đang suy giảm với tốc độ khoảng 2 -3% / 1năm
1.6 Suy thoái tầng Ozon
Tầng ôzôn đang bị suy thoái: ở khu vực cận cực Bắc (Bắc Mỹ, Canada, Châu Âu, Liên xô cũ) đã bị mỏng tới 40% khiến cho mùa xuân đến sớm và mùa đông đến muộn ở Nam cực, tầng zôn giảm 50% tạo nên các lỗ hổng rộng hơn 20 triệu km2
Sự suy thoái tầng ôzôn cũng góp phần làm tăng nhiệt độ của trái đất, thay đổi chế độ khí hậu toàn cầu Bên cạnh đó sự suy thoái tầng ôzôn cũng tác động lên hệ sinh thái làm giảm sản lượng sinh học của chúng, làm tăng phóng xạ cực tím trên mặt đất, suy thoái chất lượng không khí, gây ung thư da, bệnh về mắt, ảnh hưởng xấu tới hệ miễn dịch
Nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp lạnh, phân bón hoá học, máy bay, sử dụng các nhiên liệu hóa thạch
đã thải vào khí quyển các chất như CFC, CH4, N2O, NO có khả năng hoá hợp với ôzôn; ngoài ra còn do các nguồn khí tự nhiên khác từ núi lửa, sấm chớp
1.7 Thay đổi khí hậu toàn cầu
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, thay đổi khí hậu toàn cầu có ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu Theo dự báo của IPCC nhiệt độ trái đất đến năm
2100 sẽ tăng khoảng 1 đến 3,5 oC và năm 2100 sẽ là năm nóng nhất trong 10.000 năm qua Mực nước biển sẽ tăng khoảng 70-100 cm/100 năm, sẽ dẫn đến việc mất đất của hàng triệu người dân sống ở vùng đất thấp, quan trọng hơn nữa là có thể mất đi cả một nền văn hoá
Thay đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sông hồ, đầm lầy qua sự thay đổi nhiệt độ nước và mực nước làm thay đổi lớn tới thời tiết (chế độ mưa, bão, hạn hán, cháy rừng, elino…), tới lưu lượng, đặc biệt là tần suất và thời gian của
Trang 5những trận lũ và hạn hán lớn gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế các nước, đặc biệt là cho các nước nghèo và chậm phát triển, bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các động thực vật trong hệ sinh thái nước ngọt, làm tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC 1998)
Nguyên nhân chính của sự thay đổi khí hậu là do phá rừng và do các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông và sinh hoạt (chủ yếu do
sử dụng một lượng lớn chất đốt trong khu vực năng lượng và giao thông) Tất cả các hoạt động này đã làm tăng nồng độ các loại khí gây hiệu ứng nhà kính (CO2,
N2O, NO, CH4, H2S bụi và hơi nước)
Hình 2 Sự tăng nhiệt độ bình quân của trái đất (IPCC, 2001)
1.8 Suy thoái tài nguyên đất, nước
Suy thoái tài nguyên đất
Do các hoạt động chặt phá rừng, hoạt động quản lý đất, canh tác đất quá yếu kém, sự mở rộng diện tích chăn thả không có quy hoach, sự lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, khai hoang các vùng đất ven để trồng trọt, thải rác bừa bãi,
do các chất gây ô nhiễm và do kế hoạch sử dụng đất không hợp lý đã dẫn đến sự xuống cấp của đất đai trên toàn thế giới Nhiều vùng đất canh tác trở thành đất hoang hoá do hiện tượng sa mạc hoá do thiếu nước, do canh tác quản lý không
TOÀN CẦU
Nhiệt độ trái đất tăng 0.6oC so với năm
1860 Nền nhiệt độ bình quân 1961-1990
Trang 6hợp lý Đặc biệt tại các nước chậm phát triển, áp lực về tăng dân số và sản lượng lương thực thấp không đủ cung cấp cho nhu cầu sống tối thiểu đã làm cho vấn đề chặt phá rừng, canh tác trên các vùng đất dễ bị rửa trôi, sạt lở để mở rộng diện tích thêm nghiêm trọng
Theo UNEP/ISRIC (1991) có khoảng 1900 triệu ha đất trên thế giới bị thoái hoá Vùng ảnh hưởng lớn nhất là Châu Á-Thái bình dương với khoảng 550 triệu ha Chỉ riêng Trung quốc, từ 1957 đến 1990, diện tích đất có thể trồng trọt được đã giảm xuống bằng cả diện tích đất trồng trọt của Đan mạch, Pháp, Đức và
Hà lan ở Châu Phi có khoảng 500 triệu ha đất bị xuống cấp từ 1950 Sản lượng nông nghiệp của Châu Phi có thể giảm đi 50% trong vòng 40 năm nếu sự xuống cấp của đất đai vẫn giữ như ở mức hiện tại (Scotney and Pykhus 1998)
Phá và sử dụng không bền vững rừng 80% diện tích rừng nguyên sinh bao phủ trái đất đã bị xoá sổ, bị chặt phá hoặc bị xuống cấp (WIR 1997) Trên phạm
vi toàn cầu, chỉ tính riêng giai đoạn 1990-1995 đã có 56 triệu ha rừng bị biến mất, tổng diện tích rừng bị mất ở các nước đang phát triển là 65 triệu ha trong khi đó ở các nước phát triển mới tăng diện tích rừng lên khoảng 9 triệu ha
Kể từ năm 1960 đến nay 1/2 diện tích rừng trên thế giới bị chặt trắng Rừng nhiệt đới bị giảm diện tích từ 11,8 triệu ha/năm trong thập kỷ 70 và 15,4 triệu ha trong thập kỷ 80 Riêng rừng nhiệt đới bị giảm với tốc độ 0.7 %/năm Riêng ở Đông Âu, sự mất năng suất rừng ước tính chừng 30 triệu USD/năm
Nguyên nhân của việc chặt phá rừng là do sự nghèo đói, sự gia tăng dân số,
sự phát triển kinh tế, sự đô thị hoá và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Việc phá rừng cho mục đích nông nghiệp là nguyên nhân chính, tuy nhiên cũng chỉ chiếm khoảng từ 1/3 đến 1/2 tổng diện tích ở Châu Á
Hoang mạc hoá là nguy cơ hết sức to lớn huỷ diệt môi trường đang xảy ra trên toàn thế giới Chỉ trừ Châu Âu và Bắc Mỹ là không có sa mạc, Châu Phi, Châu
Á, Châu Úc, Nam Mỹ và Trung Mỹ đều có sa mạc Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có 860 triệu hec ta trước đây là đất nông nghiệp, hiện nay đã bị hoang mạc hoá Với tình hình phá rừng và kỹ thuật canh tác không hợp lý, trong thập kỷ tới một diện tích quan trọng tại các vùng khô cằn và bán khô cằn trong khu vực sẽ tiếp tục bị hoang mạc hoá
Trang 7Suy thoái tài nguyên nước
Đầu thế kỷ này lượng nước dùng cho nông nghiệp trên toàn thế giới chỉ vào khoảng 500 tỷ m3, dự kiến tới năm 2000 sẽ là 3300 tỷ m3, lượng nước dùng cho công nghiệp tăng từ khoảng 50 tỷ lên 1300 tỷ m3, lượng nước dùng cho sinh hoạt tăng từ 20 tỷ sẽ lên 400 tỷ m3 Để khắc phục tình trạng phân bố tự nhiên không đều của nước, con người đã xây dựng hàng chục vạn hồ chứa nước nhân tạo, trong đó
có khoảng 36000 hồ có đập cao hơn 15m, chứa khoảng 5000 tỷ m3, trong tổng số
47000 tỷ m3 dòng chảy Các hồ chứa này bên cạnh tác dụng điều tiết nước còn gây
ra nhiều tác động phức tạp về môi trường
Lượng nước mặt qua lãnh thổ Việt Nam chảy ra biển ước tính khoảng 880 tỷ m3, trong đó 325 tỷ m3 hình thành trên lãnh thổ (37%) và 555 tỷ m3 từ ngoài chảy vào (63%) Lượng dòng chảy phong phú nhưng do không đều theo thời gian và không gian, kết hợp với tỡnh trạng khai thỏc rừng đầu nguồn một cỏch quỏ mức tạo nên tình trạng lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng Nước sông ngòi có hàm lượng bùn cát rất cao, hàng năm đổ ra biển 340 – 400 triệu tấn phù sa Vùng cửa sông nước bị nhiễm mặn và chua phèn Nước dưới đất có trữ lượng vào khoảng 1513m3/s, chất lượng nói chung tốt Tỷ lệ dân được cấp nước sạch trong cả nước là khoảng 30%, tại các đô thị là 68,5%
1.9 Mất đa dạng sinh học
Sự phong phú về môi trường cạn và nước của Trái Đất đã tạo nên một số lượng lớn hệ sinh thỏi (HST) Những sinh cảnh rộng lớn bao gồm rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ, đất ngập nước, san hô và rừng ngập mặn Thông thường, các khu vực chứa đựng nhiều HST khác nhau, thường giàu có về đa dạng sinh học Nhưng những hệ sinh thái riêng biệt chứa đựng các loài đặc hữu cũng góp phần quan trọng cho đa dạng sinh học toàn cầu Các sinh cảnh giầu có nhất của thế giới là rừng ẩm nhiệt đới Mặc dù, chúng chỉ chiếm 7% tổng diện tích của bề mặt Trái Đất nhưng chúng chứa ít nhất là 50%, thậm chí đến 90% số loài của động và thực vật
Sự đa dạng của sinh giới phong phú như vậy, nhưng hoạt động sản xuất của con người đã dẫn đến sự khai thác quá mức các loài, huỷ hoại các hệ sinh thái để phát triển nông nghiệp, đô thị và cuộc sống Ví dụ, thời gian từ 1700 – 1980, đất trồng cây của toàn thế giới đã tăng 4 lần và đất rừng đã giảm xuống 20% Theo
Trang 8tính toán, hàng năm có khoảng 15 triệu ha rừng nhiệt đới ẩm (bằng 4 lần diện tích nước Thuỵ Sĩ đang bị huỷ hoại) cùng với 5-10% các loài của rừng nhiệt đới sẽ bị tuyệt diệt trong vòng 30 năm tới Một diện tích rừng mưa ôn hoà đã bị chặt từ năm
1977 đến 1987 chỉ riêng với nước Mỹ Tổn thất đa dạng loài và hệ sinh thái làm tổn thất đa dạng di truyền Ví dụ, trên toàn thế giới có 492 chủng quần thực vật có tính chất di truyền độc đáo đang bị đe doạ tuyệt diệt Sự đe doạ không chỉ riêng đối với động và thực vật hoang dại mà nhiều thập kỷ gần đây, với công cuộc cách mạng xanh và nền nông nghiệp, công nghiệp hoá đã làm biến mất nhiều giống, loài địa phương quý hiếm, 1.500 giống lúa địa phương đã bị tuyệt chủng trong 20 năm qua ở Inđonexia Hiện tượng này cũng xảy ra tương đối với vật nuôi trên toàn cầu đã có
474 giống vật nuôi được coi là hiếm và tổng cộng có 617 giống vật nuôi đã tuyệt chủng từ năm 1892 Nguyên nhân chính của sự mất đa dạng sinh học là:
- Mất nơi sinh sống do những lý do khác nhau, đặc biệt là phát triển kinh tế
- Săn bắt quá mức trong đó có buôn bán trong nước và quốc tế nhằm thoả mãn nhu cầu của con người về thực phẩm, dược liệu, làm cảnh, tôn giáo…
- Ô nhiễm đất, nước, không khí
- Nhập nội các loài động thực vật
1.10 Ô nhiễm và suy thoái nguồn nước
Tiêu dùng nước ngọt trên phạm vi toàn cầu đã tăng gấp 6 lần trong giai đoạn 1990-1995, lớn hơn gấp 2 lần tỷ lệ tăng dân số Có khoảng 1/3 dân số thế giới đang sống ở những vùng bị thiếu nước, nơi mà nhu cầu sử dụng nước cao hơn 10% nguồn nước có thể tái tạo được Với mức độ tiêu thụ như hiện nay thì cứ
3 người có 2 người trên trái đất sẽ phải sống thiếu nước vào năm 2025 (WMO và cộng sự 1997)
Tình trạng suy giảm nguồn nước ngọt trên thế giới cả về chất lượng và số lượng sẽ là vấn đề nổi cộm về môi trường và sự phát triển trong thế kỷ tới Khoảng 20% dân số thế giới sẽ không có nước sạch để uống và khoảng 50 % dân
số sống trong điều kiện không đủ vệ sinh
Ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, nước thải bị ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt là một vấn đề bức xúc và rộng lớn Hàm lượng chất rắn lơ lửng của các con sông châu Á đã tăng lên 4 lần kể từ
Trang 9cuối thập kỷ 70, gấp 4 lần trung bình thế giới và gấp 20 lần hàm lượng chất rắn lơ lửng ở các sông tại các nước OECD Việc sử dụng chất diệt cỏ và phân bón tràn lan dẫn đến ngày càng có nhiều các chất hoá học xâm nhập vào các nguồn nước ở nhiêu nơi gây ô nhiễm Ô nhiễm nitrat do sử dụng quá nhiều phân bón ngày nay
là một vấn đề quan trọng trong kiểm soát chất lượng nước Chất thải công nghiệp
là nguyên nhân gây ô nhiễm nước chính tại nhiều khu vực, đặc biệt là các kim loại năng như chì, thuỷ ngân, arsen và cadimi và một số hợp chất hữu cơ Ô nhiễm nguồn nước mặt cũng thường kéo theo ảnh hưởng đến tầng nước ngầm như ở Merida, Mexico, Srilanka và nhiều thành phố khác ở Ấn độ Việc khai thác quá mức nguồn nước ngầm cũng ảnh hưởng đến chất lượng nước Như sự nhiễm mặn của nước ngầm vùng ven biển
1.11 Sự hình thành các siêu đô thị
Số dân đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 – 6,5% cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Năm 1995, 45% dân số thế giới sống ở các đô thị Dự báo đến năm 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50% dân sống ở đô thị và tại các nước phát triển tỷ lệ này là 75%
Ở Châu Á tỷ lệ dân số đô thị trong tổng số dân đã là 34% so với năm 1965 mới có 22,2% Số dân đô thị trên 750.000 dân trên thế giới hiện nay đã lên tới 376
ở Châu Á số này là 142 Trung bình trên toàn thế giới, 9 người dân có 1 xe ô tô, ở Châu Á số này là 32
Ở Việt Nam, tỷ lệ cư dân đô thị trong tổng số từ 19,1% năm 1980 đã tăng chậm chạp lên 19,3% năm 1985 Đến năm 1990 đã tăng lên 20,3%, năm 1992 lên 20,4%, năm 2000 là 25% Dự báo tới và năm 2010 là 35% Tỷ lệ nhân lực lao động nông nghiệp tại các đô thị và ngoại thành hiện nay vào khoảng 10%, tới năm 2005 chỉ còn 4%
Xu thế đô thị hoá sẽ dẫn tới sự hình thành các siêu đô thị (Megacities) với dân số trung bình trên 4 triệu người Năm 2000, trên thế giới sẽ có 20 siêu đô thị với dân số trên 10 triệu người, trong đó có 11 ở Châu Á, 7 ở Châu Mỹ và 2 ở Châu Phi ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã có 18 thành phố trên 4 triệu dân, con
số này sẽ tăng lên 52 vào năm 2025 Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một trong các siêu đô thị như vậy
Trang 10Sự hình thành các siêu đô thị tại tất cả các nước đều gây nên những vấn đề khó khăn và phức tạp do sự hình thành các nhóm dân cư nghèo khổ phải sinh sống trong các khu “ổ chuột”, thiếu điều kiện vệ sinh, tiện nghi, dịch vụ đời sống vật chất, văn hoá và xã hội; hoặc những người lớn thất nghiệp, trẻ em cơ nhỡ hình thành các nhóm dân cư “hè phố” với cuộc sống vô cùng thiếu thốn, bất định Việc kết hợp các chính sách phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch các khu dân cư nhằm trách xa được xu thế hình thành các siêu đô thị tại các nước thu nhập thấp là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng về môi trường và xã hội
1.12 Ô nhiễm bởi các chất hữu cơ khó phân huỷ
Rác thải rắn độc hại gồm các chất có khả năng tồn lưu và phát tán trong không khí, đất và nước (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất độc màu da cam, các chất thải bệnh viện, chất có phóng xạ, muối, kim loại năng) thải ra môi trường ngày càng nhiều (Anh 11 triệu tấn /năm; Pháp 3 triệu tấn/năm; Mỹ 72 triệu tấn/năm) Các chất này đã gây ra ô nhiễm trực tiếp hay gián tiếp cho môi trường (nhất là khi xử lý) hoặc gây bệnh (rác thải bệnh viện)
Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là nơi đã và đang có sự gia tăng mạnh mẽ về sử dụng thuốc trừ sâu Trong thập kỷ 80, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng tại các nước Indonesia, Pakistan, Srilanka đã tăng hơn 10% hàng năm Lượng phân hoá học được sử dụng tại đây dự kiến sẽ giảm với tốc độ khoảng 4,3% hàng năm Tuy nhiên, do đất nông nghiệp hàng năm đang giảm đi 0,25%, nhu cầu lương thực lại tăng lên, nên có thể dự báo rằng, nông nghiệp sẽ tiếp tục phát triển Thuốc trừ sâu đang gây tắc hại sâu sắc đến chất lượng môi trường và sức khoẻ con người WHO ước lượng rằng mỗi năm có 3% lực lượng lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển (tức 25% triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Vào đầu thập kỷ
90, ở Châu Phi mỗi năm có khoảng 11 triệu trường hợp nhiễm độc, ở Malaysia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm và 15% người bị ngộ độc ít nhất 1 lần trong đời
Ở nước ta, hiện nay đang sử dụng khoảng 200 loại thuốc trừ sâu và hơn 100 loại trừ bệnh, diệt cỏ, diệt chuột Trong đó có nhiều loại thuộc các hợp chất Lân hữu cơ, Cácbamat và Pyrethroid Trong thực tế, nông dân ưu dùng các loại thuốc
họ đã quen như Wolfatox, Monitor và cả DDT mặc dầu các loại này đã bị cấm Liều lượng dùng khoảng 2500ml hoặc 2500g thuốc cho 1 hecta lúa Các vùng
Trang 11trồng chè, rau, thuốc lá, nho đều sử dụng thuốc trừ sâu với tần số phun rất lớn Vùng chè phun khoảng 30 lần/năm, vùng rau 30-60lần/1 vụ Kết quả nghiên cứu về
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đậu đỗ, hoa quả cũng như trong đất và không khí đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Về đất có vùng 39% số mẫu xem xét quá tiêu chuẩn từ 2 – 50 lần, 55% mẫu không khí quá tiêu chuẩn từ 2 – 10 lần
1.13 Suy thoái môi trường và tài nguyên biển
Môi trường tự nhiên ở các vùng ven biển, bao gồm vùng đầm lầy, vùng cửa sông, vùng rừng ngập mặn đã bị xuống cấp do quá trình phát triển nông nghiệp và
đô thị, các hoạt động công nghiệp, xây dựng đường xá và hải cảng
Nước ở vùng ven biển bị ô nhiễm bởi các nguồn từ đất liền, đặc biệt là nước thải từ các thành phố lớn đã gây ra hiện tượng phù dưỡng Tác động của các hoạt động của con người lên môi trường biển thể hiện ở cả ba khía cạnh: ô nhiễm, tăng nhiệt độ, nâng cao mực nước biển
Phá huỷ vùng đầm lầy và vùng rừng ngập mặn, những vùng hoạt động như tầng lọc tự nhiên đối với trầm tích làm cho hàm lượng nitơ cao và thúc đẩy sự tích luỹ các chất dinh dưỡng Các nguồn ô nhiễm khác chủ yếu do rò rỉ hoặc tràn dầu từ các tầu thuyền, các dàn hoạt động khoan khai thác thăm dò dầu và khoáng chất Một
số chất ô nhiễm tồn dư lâu dài đã ảnh hưởng đến các tầng sâu của đại dương Sự phá hủy các bãi san hô do ô nhiễm, do khai thác bừa bãi, do bị vùi lấp bởi các hoạt động khai thác mỏ Hơn một nửa bãi san hô ngầm trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người, có hơn 80% trong số đó ở các vùng đông dân cư (WRI, ICLARM, WCWC, UNEP 1998)
Ngoài ra sự suy thoái tài nguyên biển còn thể hiện ở khía cạnh các tài nguyên biển bị khai thác một cách quá mức Hơn 2/3 các nguồn cá biển trên thế giới bị đánh bắt ở ngoài mức năng suất tối đa cuả chúng
Trang 121.14 Sự tương tỏc qua lại giữa cỏc vấn đề trờn
3
Suy thoái tầng ôzôn
Tác động mạnh Tác động ít hơn Tác động tương đươngCác vấn đề môi trườngtrường toàn cầu
Hỡnh 3 Sự tương tỏc giữa cỏc vấn đề về mụi trường toàn cầu
1.15 Cỏc thỏch thức đối với phỏt triển bền vững của Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đó cú nhiều nỗ lực nhằm khắc phục những hậu quả mụi trường do chiến tranh để lại Nhiều chớnh sỏch quan trọng về quản lý,
sử dụng tài nguyờn thiờn nhiờn và bảo vệ mụi trường đó được xõy dựng và thực hiện Hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ mụi trường đó được hỡnh thành ở cấp Trung ương và địa phương Cụng tỏc quản lý mụi trường, giỏo dục ý thức và trỏch nhiệm bảo vệ mụi trường cho mọi tổ chức, cỏ nhõn ngày càng được mở rộng và nõng cao chất lượng Cụng tỏc giỏo dục và truyền thụng về mụi trường đang được đẩy mạnh Nội dung bảo vệ mụi trường đó được đưa vào giảng dạy ở tất cả cỏc cấp học trong hệ thống giỏo dục quốc dõn Việc thực hiện những chớnh sỏch trờn đó gúp phần tăng cường quản lý, khai thỏc hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyờn thiờn nhiờn; phũng ngừa, ngăn chặn ụ nhiễm, suy thoỏi và sự cố mụi trường; phục hồi và cải thiện một cỏch rừ rệt chất lượng mụi trường sinh thỏi ở một số vựng
Bờn cạnh những thành tựu núi trờn, trong kế hoạch phỏt triển kinh tế-xó hội của đất nước, ngành và địa phương, tớnh bền vững của sự phỏt triển vẫn chưa được quan tõm đỳng mức và vẫn cũn một số tồn tại chủ yếu sau đõy:
a Về nhận thức
Trang 13Quan điểm phát triển bền vững chưa được thể hiện một cách rõ rệt và nhất quán qua hệ thống chính sách và các công cụ điều tiết của Nhà nước Các chính sách kinh tế-xã hội còn thiên về tăng trưởng nhanh kinh tế và ổn định xã hội, mà chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến tính bền vững khi khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Mặt khác, các chính sách bảo vệ môi trường lại chú trọng việc giải quyết các sự cố môi trường, phục hồi suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường, mà chưa định hướng phát triển lâu dài nhằm đáp ứng những nhu cầu tương lai của xã hội Quá trình lập quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quá trình xây dựng chính sách bảo vệ môi trường còn chưa được kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý với nhau Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu lực
b Về kinh tế
Nguồn lực phát triển còn thấp nên những yêu cầu về phát triển bền vững ít
có đủ điều kiện vật chất để thực hiện Đầu tư được tập trung chủ yếu cho những công trình mang lại lợi ích trực tiếp, còn rất ít đầu tư cho tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác chưa thuộc loại cao và chưa tới giới hạn nguy hiểm, song nó đang tăng lên nhanh chóng và sẽ có nguy cơ
đe doạ tính bền vững của sự phát triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay chưa được sử dụng có hiệu quả Mức độ chế biến, chế tác nguyên vật liệu trong nền kinh
tế Việt Nam còn rất thấp và mức độ chi phí nguyên, nhiên, vật liệu cho một đơn vị giá trị sản phẩm còn cao; sản phẩm tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu phần lớn là sản phẩm thô; sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu là theo chiều rộng trong khi
đó những nguồn tài nguyên thiên nhiên chỉ có hạn và đã bị khai thác đến mức tới hạn
Xu hướng giảm giá các sản phẩm thô trên thị trường thế giới gây ra nhiều khó khăn cho tăng trưởng nông nghiệp ở Việt Nam Với cơ cấu sản xuất như hiện nay, để đạt được một giá trị thu nhập như cũ từ thị trường thế giới, Việt Nam đã phải bán đi một số lượng hàng hoá hiện vật nhiều hơn trước
Các mục tiêu phát triển của các ngành có sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn mâu thuẫn nhau và chưa được kết hợp một cách thoả đáng Các cấp chính quyền ở
Trang 14cả Trung ương và địa phương chưa quản lý có hiệu quả việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
c Về xã hội
Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, tình trạng thiếu việc làm ngày một bức xúc, tỷ lệ hộ nghèo còn cao vẫn là những trở ngại lớn đối với sự phát triển bền vững Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp Số lượng và chất lượng lao động kỹ thuật (về cơ cấu ngành nghề, kỹ năng, trình độ) chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động
Khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường Mô hình tiêu dùng của dân cư đang diễn biến theo truyền thống của các quốc gia phát triển, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải và chất độc hại Mô hình tiêu dùng này đã, đang và
sẽ tiếp tục làm cho môi trường tự nhiên bị quá tải bởi lượng chất thải và sự khai thác quá mức
Một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, tham nhũng còn chưa được ngăn chặn có hiệu quả, gây thất thoát và tốn kém các nguồn của cải, tạo ra nguy cơ mất ổn định xã hội và phá hoại sự cân đối sinh thái
d Về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Do chú trọng vào phát triển kinh tế, nhất là tăng trưởng GDP, ít chú ý tới hệ thống thiên nhiên, nên hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây nên suy thoái môi trường và làm mất cân đối các hệ sinh thái đang diễn ra phổ biến Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bệnh viện…gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Quá trình đô thị hoá tăng lên nhanh chóng kéo theo sự khai thác quá mức nguồn nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước mặt, không khí
và ứ đọng chất thải rắn Đặc biệt, các khu vực giàu đa dạng sinh học, rừng, môi trường biển và ven biển chưa được chú ý bảo vệ, đang bị khai thác quá mức
Tuy các hoạt động bảo vệ môi trường đã có những bước tiến bộ đáng kể, nhưng mức độ ô nhiễm, sự suy thoái và suy giảm chất lượng môi trường vẫn tiếp tục gia tăng Điều này chứng tỏ năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy làm công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển bền vững
Trang 15Công tác bảo vệ môi trường có tính liên ngành, liên vùng, liên quốc gia và toàn cầu, cần phải được tiến hành từ cấp cơ sở phường xã, quận huyện Chúng ta còn thiếu phương thức quản lý tổng hợp môi trường ở cấp vùng, liên vùng và liên ngành, trong khi đó lại có sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp, các ngành trong công tác bảo vệ môi trường Quản lý nhà nước về môi trường mới được thực hiện ở cấp Trung ương, ngành, tỉnh, chưa hoặc có rất ít ở cấp quận huyện và chưa có ở cấp phường xã Một số quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng đã được xây dựng, song chưa có cơ chế bắt buộc các địa phương và các ngành tham gia khi xây dựng và thực hiện quy hoạch này
2 Phát triển và phát triển bền vững (PTBV)
2.1 Định nghĩa và mô hình PTBV
Phát triển bền vững đuợc hiểu một cách khát quát là “sự phát triển đáp ứng đuợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thuơng khả năng của các thế hệ tuơng lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của chính họ”
Có một số định nghĩa về PTBV, trong đó tuy còn những vấn đề chưa thật thống nhất, thậm chí còn tranh cãi, song có một sự thống nhất cao là đều tập trung chú ý tới phúc lợi lâu dài của con nguời và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp, lồng ghép một cách hài hoà ít nhất ba mặt (Hình 3): (i) tăng truởng kinh tế, (ii) công bằng xã hội và (iii) bảo vệ môi truờng Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nguời còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hoá, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong khi hoạch định chiến luợc và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể
Trang 16Hỡnh 3 Sơ đồ Phỏt triển bền vững
2.2 Mục tiờu của PTBV
Phỏt triển bền vững khụng chỉ là một chiến lược, một lối sống, một quan niệm đạo đức mà là một quỏ trỡnh hoà nhập sự phỏt triển mọi mặt của con người, xó hội loài người với thiờn nhiờn Tại Hội nghị Thuợng đỉnh, cỏc mục tiờu phỏt triển thiờn niờn kỷ PTBV cũng đó đuợc nhất trớ với 8 mục tiờu sẽ đuợc thực hiện đến truớc năm 2015 là:
Xoỏ tỡnh trạng nghốo đúi cựng cực;
Thực hiện phổ cập giỏo dục tiểu học;
Khuyến khớch bỡnh đẳng về giới và nõng cao địa vị của phụ nữ;
Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em;
Nõng cao sức khoẻ sinh sản;
Phũng chống HIV/AIDs, sốt rột và cỏc bệnh khỏc;
Bảo đảm bền vững về mụi truờng; và
Phỏt triển quan hệ đối tỏc toàn cầu phục vụ hoạt động phỏt triển
뀠Bảo vệ môi
Tăng trưởng kinh tế
Công bằng xã hội
Phát triển bền vững
Trang 17Để thực hiện các mục tiêu này, 18 chỉ tiêu đã đuợc đề xuất với các tiêu chí đánh giá cụ thể Trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là sẽ giảm một nửa số nguời sống trong tình trạng nghèo đói cùng cực đến truớc năm 2015
2.3 27 nguyên tắc về PTBV của thế giới
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận thông qua Tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản
về Phát triển bền vững và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21), xác định các hành động cho sự phát triển bền vững của toàn thế giới trong thế kỷ thứ 21 Đây là những nguyên tắc chung nhất để các quốc gia có thể vận dụng vào việc xây dựng các nguyên tắc phát triển bền vững cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và thể chế chính sách riêng của nước mình Sau đây là 27 nguyên tắc PTBV của thế giới :
1 Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên
2 Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp Quốc tế Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia
3 Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai
4 Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó
5 Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển