1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot

17 414 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 433,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 1: Tóm tắt cách xử trí khi bị súc vật nghi dại cắn Tình trạng vết cắn Tình trạng súc vật kể cả chó đã được tiêm phòng Điều trị 10 ngày Da bị xước ở gần thần kinh trung ương tiêm nế

Trang 1

thể bị nhiễm virus dại) Sau khi rửa thì bôi cồn sát trùng hay dung dịch Iode Sát khuẩn vết thương để chống bội nhiễm và giảm đến mức tối thiểu lượng virus dại xâm nhập

6.2.2.Tiêm vaccine

Điều trị cần được bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi bị cắn nhưng các trường hợp đến muộn dù bao lâu cũng vẫn điều trị cho họ

- Nếu trường hợp vết cắn nhẹ, xa thần kinh trung ương (như ở cẳng chân) và tại thời điểm cắn con vật vẫn bình thường thì không cần tiêm vaccine mà chỉ cần theo dõi con vật trong vòng 10 ngày Trong thời gian theo dõi nếu thấy con vật bỏ ăn, chết, mất tích hoặc bị bán mổ thịt thì phải được tiêm vaccine dại ngay Nếu theo dõi sau 10 ngày, con vật vẫn sống bình thường thì không cần tiêm

- Cần tiêm vaccine ngay sau khi bị cắn trong những trường hợp sau:

+ Vết cắn nhẹ, xa thần kinh trung ương nhưng không theo dõi được con vật

+ Vết cắn không nặng lắm và xa thần kinh trung ương nhưng tại thời điểm cắn con vật đang bị ốm

+ Con vật nghi dại hoặc đang lên cơn dại

+ Vết cắn ở đầu, mặt cổ, đầu chi nơi có nhiều dây thần kinh, bộ phận sinh dục dù vết cắn rất nhẹ

+ Có nhiều vết cắn

+ Vết cắn sâu

- Vaccine Fuenzalida: do Việt Nam sản xuất

+ Tác dụng phụ không đáng kể: có thể có vài biểu hiện tại chỗ tiêm như ngứa, mẩn đỏ, đôi khi mệt hoặc đau đầu nhẹ, triệu chứng sẽ hết sau khi ngừng tiêm

+ Chỉ định tiêm: Những người sau khi bị súc vật dại hoặc nghi ngờ mắc dại cắn, kể cả phụ nữ có thai và trẻ em đều có thể tiêm được nhưng phải dưới sự hướng dẫn, theo dõi của bác sĩ chuyên khoa

+ Liều tiêm: Tiêm trong da 6 liều, mỗi liều cách nhau 2 ngày

Từ 15 tuổi trở lên: mỗi liều tiêm 0,2 ml

Dưới15 tuổi: mỗi liều tiêm 0,1ml

Tiêm nhắc lại vào ngày thứ 21 và 30 sau mũi tiêm thứ nhất

- Vaccine Verorab: của viện Pasteur (Pháp)

+ Tác dụng phụ: Phản ứng tại chỗ nhẹ nơi tiêm: đỏ, hơi cứng Hiếm khi có sốt

+ Chỉ định tiêm: Những người sau khi bị súc vật dại hoặc nghi ngờ mắc dại cắn + Liều tiêm: Tiêm dưới da hoặc trong da 5 liều, mỗi liều 0,5ml vào các ngày N 0, N 3,

N 7, N 14, N 30 Tiêm nhắc lại 1 liều vào ngày thứ 90

6.2.3 Huyết thanh kháng dại

- Chỉ định: Trong những trường hợp sau cần phải tiêm đồng thời cả vắc xin và huyết thanh kháng dại:

+ Con vật nghi dại hoặc đang lên cơn dại

+ Vết cắn ở đầu, mặt cổ, đầu chi nơi có nhiều dây thần kinh, bộ phận sinh dục dù vết cắn rất nhẹ

+ Có nhiều vết cắn

+ Vết cắn sâu

Tiêm huyết thanh kháng dại càng sớm càng có hiệu quả cao, nếu chậm quá cũng không nên quá 7 ngày sau khi bị cắn

- Cách tiêm và liều lượng:

Trước khi tiêm phải thử phản ứng

Huyết thanh kháng dại được dùng cùng lúc với liều vaccine đầu tiên Huyết thanh kháng dại phải đựợc ngấm sâu vào vết thương và tiêm quanh vết thương Ttiêm một liều duy nhất

Trang 2

Có 2 loại:

+ Loại chế từ huyết thanh người: dùng 20UI/kg cân nặng

+ Loại chế từ huyết thanh ngựa: dùng 40UI/kg cân nặng

Bảng 1: Tóm tắt cách xử trí khi bị súc vật nghi dại cắn

Tình trạng

vết cắn

Tình trạng súc vật (kể cả chó đã được tiêm phòng)

Điều trị

10 ngày

Da bị xước ở gần

thần kinh trung

ương

tiêm nếu ngày thứ 10 súc vật vẫn sống bình thường

Da bị xước Bình thường Ốm có xuất

hiện triệu chứng dại

Tiêm vaccine ngay nếu xuất hiện triệu chứng dại ở súc vật

Vết cắn nhẹ -Có triệu chứng dại

-Mất tích không theo dõi được chó

Tiêm vaccine ngay khi bị cắn

Nếu bị vết thương

và có tiếp xúc đồ

vật có dính nước dãi

của súc vật

Nghi dại Vẫn sống bình

thường

Tiêm vaccine ngay và thôi tiêm nếu ngày thứ 10 súc vật vẫn sống bình thường

-Vết cắn gần đầu

-Vết cắn sâu

-Có nhiều vết cắn

Bình thường Vẫn sống bình

thường

Tiêm huyết thanh kháng dại Tiêm vaccine dại và thôi tiêm nếu ngày thứ 10 súc vật vẫn sống bình thường

Vết cắn ở nơi có

nhiều dây thần kinh

(đầu chi, bộ phận

sinh dục)

-Dại -Mất tích -Đã bán

Tiêm huyết thanh kháng dại

và tiêm vaccine phòng dại

6.3 Điều trị khi đã lên cơn dại

Hiện nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại Chỉ điều trị triệu chứng: an thần, để nơi yên tỉnh, riêng biệt

Bệnh dại được coi là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc phải mặc đầy đủ trang bị (mũ, khẩu trang, găng tay, ủng, quần áo dài tay), rửa tay bằng xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát trùng bằng cồn

Các đồ dùng của bệnh nhân cần đốt hủy Cần lau rửa giường, sàn nhà bằng xà phòng

và phun thuốc khử trùng

ZW XY

Trang 3

DỊCH TỄ HỌC NHIỄM HIV/AIDS Mục tiêu học tập:

1 Trình bày được tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam

2 Trình bày được các phương thức lây và không lây truyền HIV

3 Trình bày được các biện pháp phòng chống nhiễm HIV/AIDS

I MỞ ĐẦU

AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

AIDS là một đại dịch nguy hiểm đối với toàn nhân loại cũng như ở nước ta, là mối hiểm hoạ đối với sức khoẻ, tính mạng cũng như tương lai nòi giống của các dân tộc trên thế giới; ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế xã hội, chính trị của từng quốc gia nhất là các nước đang phát triển

- Chưa có thuốc điều trị hay phòng AIDS có hiệu quả

- Vaccine vẫn còn đang là hướng nghiên cứu trước mắt và trong tương lai

- Phòng chống căn bệnh, đẩy lùi hiểm họa là trách nhiệm của toàn thế giới, toàn xã hội

và mỗi người

- Làm cho mọi người hiểu biết hiểm họa HIV/AIDS để phòng tránh bằng các phương tiện giáo dục truyền thông

II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐẠI DỊCH HIV/AIDS

Diễn biến của HIV/AIDS trên thế giới có thể tóm tắt qua 3 giai đoạn:

1 Thời kỳ yên lặng

Trường hợp AIDS đầu tiên được phát hiện vào năm 1981 Do thời gian ủ bệnh trung bình 8-10 năm cho thấy HIV đã xâm nhiễm con người từ thập kỷ 70 về trước và hoàn toàn nằm ngoài sự quan tâm chú ý của y học

2 Thời kỳ phát hiện AIDS (1981-1985)

Những trường hợp AIDS đầu tiên được phát hiện năm 1981 đã kết thúc thời kỳ yên lặng, mở đầu cho thời kỳ thứ 2 của lịch sử AIDS: thời kỳ phát hiện AIDS

Trong thời kỳ này, phương thức truyền bệnh đã được xác định, virus đã được phân lập, kỹ thuật xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV trong máu đã được phát triển Những mốc quan trọng trong thời kỳ này là:

- 8/1981: Những trường hợp AIDS đầu tiên được mô tả ở Los Angeles bởi Michael Gottlieb

- 5/1983: Luc Montagier ở viện Pasteur Paris lần đầu tiên phân lập được virus gây AIDS ở Trung Phi

- 5/1984: Robert Galo ở viện nghiên cứu ung thư Mỹ cũng phân lập được virus gây AIDS

- 3/1985: Kỹ thuật xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV trong máu đã được phát triển

- 3/1985: Luc Montagier và cộng sự phân lập được virus khác cúng gây AIDS ở Tây Phi, được gọi là HIV-2

- 3/1987: Thuốc điều trị AIDS đầu tiên được thử nghiêm lâm sàng là Azidothymidine

3 Thời kỳ động viên toàn thế giới chống AIDS

Chương trình phòng chống AIDS toàn cầu đã được thiết lập vào ngày 1/2/1987 với 3 mục tiêu:

- Phòng nhiễm HIV

Trang 4

- Giảm ảnh hưởng cá nhân và xã hội của nhiễm HIV

- Hợp nhất các cố gắng quốc gia và quốc tế chống AIDS

Đứng trước sự phát triển ngày càng nghiêm trọng của đại dịch HIV/AIDS, tháng

12/1994, liên hiệp quốc đã quyết định thành lập chương trình liên hiệp phòng chống AIDS

III TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/AIDS TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới

Nhiễm HIV/AIDS đang trở thành vấn đề nghiêm trọng cho y tế công cộng trên toàn

thế giới và ở Việt Nam Kể từ những trường hợp AIDS đầu tiên được phát hiện tại Mỹ vào

tháng 6/1981 đến nay, dịch HIV/AIDS đã lan tràn khắp nơi trên thế giới và trở thành đại dịch

của toàn cầu

Theo UNAIDS tính đến cuối năm 2005, tổng số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là

40,3 triệu, trong đó có 38,0 triệu người lớn và 2,3 triệu trẻ em Trong số 38,0 triệu người lớn

nhiễm HIV/AIDS có 17,5 triệu phụ nữ

Số người mới nhiễm HIV/AIDS trong năm 2005 là 4,9 triệu trong đó có 4,2 triệu

người lớn và 0,7 triệu trẻ em Số người chết vì AIDS là 3,1 triệu, trong đó 26 triệu người lớn

và 0,57 triệu trẻ em

Bảng1: Thống kê HIV/AIDS theo từng khu vực năm 2005

Khu vực Năm 2005

Châu Đại Dương 74.000

Bắc Phi và Trung Đông 510.000

Caribe 300.000

2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam

- Ở Việt Nam, trường hợp phát hiện nhiễm HIV đầu tiên là một phụ nữ ở thành phố

Hồ Chí Minh (12/1990) nhưng đến năm 1993 dịch HIV/AIDS thật sự bùng nổ trong những

nhóm người nghiện chích ma tuý ở miền Nam, đặc biệt ở Nha Trang và TP Hồ Chí Minh;

đến năm 1998 dịch đã lan tràn trên phạm vi toàn quốc.Tính đến mgày 31/07/2005:

+ Tổng số trường hợp được phát hiện: 97.800

+ Tổng số trường hợp đã chuyển sang AIDS: 15.957

+ Tổng số người chết do AIDS: 9.126

Về địa dư xuất hiện dịch HIV/AIDS thì cho đến nay tất cả 64/64 tỉnh, thành phố trong

toàn quốc đã xuất hiện các trường hợp nhiễm HIV

- Một số đặc điểm đáng chú ý của tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam

+ Nam đang ở giai đoạn dịch tập trung, tỷ lệ nhiễm HIV cao trong các nhóm ma: tuý,

gái mại dâm và thấp trong các nhóm dân cư

+ Dịch xảy ra chủ yếu trong giới trẻ 95% - 98% ở độ tuổi 15 - 49

+ Nhiễm HIV/AIDS không chỉ xảy ra trong nhóm nghiện chích ma tuý và mua bán

dâm mà ngày càng có dấu hiệu chứng tỏ HIV/AIDS đã lan rộng ra cộng đồng dân cư bình

thường

+ Nhiễm HIV/AIDS không chỉ khu trú trong các khu vực đô thị mà đã lan ra các vùng

nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Trang 5

IV NHỮNG ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CỦA ĐẠI DỊCH

1 Hiện tượng tảng băng nổi

Thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi tiến triển thành AIDS dài ngắn khác nhau ở từng bệnh nhân Thời gian nhiễm HIV không triệu chứng kéo dài, đa số người nhiễm HIV trông khoẻ mạnh và họ là nguồn lây nhiễm rất lớn Khi có một bệnh nhân AIDS thì thực tế đã có hàng trăm người nhiễm HIV không triệu chứng trong cộng đồng Đây chính là hiện tượng

“Tảng băng nổi “: phần rất nhỏ nổi trên mặt nước là số bệnh nhân AIDS, còn phần nặng rất

lớn chìm dưới nước là số người nhiễm HIV không triệu chứng và những bệnh nhân ở giai đoạn nhiễm trùng cơ hội

2 Nhiễm HIV là nhiễm suốt đời

Khi HIV xâm nhập vào cơ thể nó sẽ tồn tại suốt đời trong cơ thể người bị nhiễm và làm lây lan cho người khác trong quần thể

3 Những hinh thái dịch tễ học

Tổ chức Y tế thế giới và chương trình toàn cầu phòng chống AIDS đã mô tả các hình thái dịch tễ học dựa trên 2 yếu tố: thời gian những trường hợp bị nhiễm HIV xuất hiện và bắt đầu lan tràn ra các quần thể dân cư và phương thức lây truyền

- Hình thái I: Xảy ra ở các nước công nghiệp phát triển như Bắc Mỹ, Uc, Tây Âu Dịch HIV bắt đầu xuất hiện cuối những năm 70 và đầu những năm 80, lây truyền ban đầu chủ yếu qua tình dục đồng giới và tiêm chích ma túy

- Hình thái II: Ở vùng cận Sahara-Châu Phi, dịch HIV bắt đầu xuất hiện cuối những năm 70 và đầu những năm 80, lây truyền chủ yếu qua tình dục khác giới

- Hình thái III: Bao gồm những khu vực coin lại như Nam và Đông Nam Á, Đông Á

và Thái Bình Dương, Bắc Phi và Trung Đông, Đông Âu và Trung Á Dịch HIV xuất hiện và bắt đầu lan rộng ra cuối những năm 80, phương thức lây truyền chủ yếu qua tình dục khác giới và tiêm chích ma túy

V TÁC NHÂN GÂY BỆNH

- HIV (Human Immunodeficiency Virus) là căn nguyên của AIDS

- HIV lần đầu tiên do một nhóm các nhà khoa học Pháp ở viện Pasteur Paris phân lập

từ máu của một bệnh nhân năm 1983 và gọi là virus có liên quan với viêm hạch (Lymphadenopathy Associated Virus) Năm 1984, các nhà khoa học Mỹ cũng phân lập được virus gây AIDS và gọi nó là virus hướng tế bào lympho T ở người Về thực chất cả hai laọi trên đều là một loại virus mà sau đó năm 1986 Hội nghị định danh quốc tế về virus đã thống nhất tên gọi là HIV-1 Cùng năm đó, các nhà khoa học Pháp đã phân lập được HIV-2 ở Tây Phi Trong khi HIV-1 phân bbố trên khắp thế giới thì HIV-2 chỉ khu trú ở một số nước Tây Phi và TâyẤn Độ Hai virus này cùng gây nên AIDS với bệnh cảnh lâm sàng không thể phân biệt được Đường lây hoàn toàn giống nhau nhưng chúng khác nhau về cấu tạo di truyền

- Về cấu trúc có 3 lớp :

+ Lớp vỏ ngoài là màng lipid trên đó có các gai nhú glycoprotein (GP), đặc biệt là GP120 và GP 41 có tính kháng nguyên cao

+ Lớp vỏ trong gồm 2 lớp protein, đặc biệt các protein có trọng lượng phân tử là 24 kilodalton (p24) Đây là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV

- Khi vào trong cơ thể HIV có khả năng xâm nhập vào nhiều loại tế bào nhưng chủ yếu tấn công và gây tổn thương tế bào lympho T CD4, dẫn đến gây suy giảm miễn dịch vì tế bào T CD4 là trụ cột của hệ thống miễn dịch Tế bào T CD4 không còn khả năng giúp đỡ tế bào lympho B sinh kháng thể, không kích hoạt tế bào lympho T CD8 trở thành T CD8 hoạt hóa để tiêu diệt tế bào đích mang HIV; giảm số lượng và chức năng của T CD8, lympho B, tế bào diệt tự nhiên, giảm chức năng đại thực bào Kết quả là hệ thống miễn dịch suy giảm, cơ

Trang 6

thể không được bảo vệ, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng mà bình thường một người khỏe mạnh

có thể chống đỡ được

- HIV dễ dàng bị bất hoạt bởi các yếu tố vật lý, hóa chất và nhiệt độ Trong dung dịch

nó bị phá hủy ở 56oC sau 20 phút Ở dạng đông khô nó bị mất hoạt tính ở 68 oC sau 2 phút Với các hóa chất như ethanol, hypoclorit, phenol, hydrogen peroxid HIV nhanh chóng bị bất hoạt

VI TIẾN TRIỂN CỦA QUÁ TRÌNH NHIỄM HIV

Quá trình nhiễm HIV thường tiến triển qua các giai đoạn:

- Nhiễm trùng cấp tính (sơ nhiễm): Xảy ra sau khi nhiễm HIV vài tuần đến vài tháng Khoảng 50% bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng nhiễm trùng cấp giống như cúm Các triệu chứng thường gặp là: sốt, viêm họng, mệt mỏi, sưng hạch, nổi mẩn đỏ ở da và tự khỏi Đây cũng là lúc mà cơ thể sản xuất ra kháng thể và người ta có thể phát hiện được bằng xét nghiệm

- Nhiễm HIV không triệu chứng: kéo dài trung bình 8-10 năm, có kháng thể trong máu Những người này đóng vai trò rất quan trọng về mặt dịch tễ học

- Giai đoạn có các biểu hiện lâm sàng từ nhẹ là các bệnh có liên quan với HIV đến nặng là AIDS điển hình là giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV Bệnh bộc phát nghiêm trọng gây tử vong do:

+ Nhiễm trùng cơ hội

+ Viêm não do HIV

+ Gầy mòn

+ Ung thư: các ung thư thường gặp là Sarcoma Kaposi, u lympho

Khoảng thời gian từ khi chẩn đoán AIDS đến khi chêt là khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện chẩn đoán sớm, điều trị đặc hiệu HIV, điều trị nhiễm trùng cơ hội và ung thư

VII XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN NHIỄM HIV

Người bị nhiễm HIV, nói chung nhìn bề ngoài không có gì đặc biệt, họ trông vẫn khỏe mạnh bình thường, khó mà chẩn đoán lâm sàng, chỉ có xét nghiệm máu mới biết bị nhiễm HIV hay không

1 Xét nghiệm phát hiện kháng thể

- Xét nghiệm sàng lọc: sử dụng 2 kỹ thuật SEORDIA và ELISA

- Xét nghiệm khẳng định nếu làm xét nghiệm phát hiện ELISA 2 lần đều (+) thì phải khẳng định bằng một trong các xét nghiệm sau:

+ Phương pháp Western Blot

+ Kỹ thuật kết tủa miễn dịch phóng xạ

+ Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang

2 Xét nghiệm phát hiện trực tiếp sự có mặt của HIV

- Phát hiện kháng nguyên HIV

- Phân lập virus

- Phản ứng khuếch đại chuỗi (PCR)

3 Quy định xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV

Bộ Y tế (5/2000) quy định xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV ở nước ta hiện nay như sau:

3.1 Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV đối với người lớn và trẻ em ≥18 tháng tuổi

Một mẫu máu được gọi là có kháng thể HIV dương tính khi cả 3 lần xét nghiệm với 3 loại sinh phẩm có chế phẩm kháng nguyên khác nhau và các nguyên lý phản ứng khác nhau đều dương tính Ví dụ:

- Lần xét nghiệm thứ nhất: Serodia-HIV hoặc Quick test (+)

Trang 7

- Lần xét nghiệm thứ hai: ElISA-HIV (+)

- Lần xét nghiệm thứ ba: ELISA-Gencreen-HIV (+)

Kết luận: Kháng thể kháng HIV (+)

3.2 Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 tháng tuổi

Trẻ em dưới 18 tháng tuổi khi kháng thể kháng HIV (+) cần gửi mẫu huyết thanh về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương hoặc Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh để xét nghiệm kháng nguyên p24 hoặc kỹ thuật PCR

VIII CÁC PHƯƠNG THỨC LÂY VÀ KHÔNG LÂY TRUYỀN HIV

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của nhiễm HIV Không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật Tất cả mọi người đều có khả năng cảm nhiễm HIV

1 Các phương thức lây truyền HIV

HIV đã được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể, nhưng nhiều nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy rằng chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây truyền HIV Do đó chỉ có 3 phương thức làm lây truyền HIV

1.1 Lây truyền theo đường tình dục

Đường tình dục là một trong những đường lây truyền chủ yếu của đại dịch HIV/AIDS Ước tính tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới qua đường tình dục chiếm khoảng 75% trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS

HIV lây truyền qua giao hợp với người nhiễm HIV Nguy cơ lây nhiễm HIV qua một lần giao hợp với người nhiễm HIV là 0,1% đến 1% Người nhận tinh dịch trong giao hợp thì

có nguy cơ nhiễm HIV nhiều hơn Người nào có nhiều bạn tình, đồng thời quan hệ tình dục không an toàn thì càng có nguy cơ lây nhiễm HIV Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (giang mai, lậu ) đều làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV lên gấp 20 lần

1.2 Lây truyền theo đường máu

HIV có trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu Do đó HIV có thể được truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV Nguy cơ lây truyền qua đường máu có tỷ lệ rất cao, trên 90% Kể từ năm

1985, sau khi có các xét nghiệm sàng lọc phát hiện kháng thể kháng HIV, nguy cơ lây truyền theo đường máu ở nhiều nước đã giảm đi rõ rệt Tuy nhiên ngay cả khi xét nghiệm máu cho kết quả âm tính, khả năng lây nhiễm HIV vẫn có thể xảy ra, do máu được lấy ở người mới bị nhiễm HIV, người đó đang ở trong “thời kỳ cửa sổ” của quá trình nhiễm HIV Nguy cơ này xảy ra nhiều ở nơi có tỷ lệ nhiễm HIVcao, đặc biệt ở những nơi người cho máu chuyên nghiệp cao và họ thường thay đổi địa điểm cho máu

HIV cũng truyền qua các dụng cụ xuyên, chích qua da chưa được tiệt trùng như bơm kim tiêm (tiêm chích ma túy), kim xâu tai, dao cạo râu khi các dụng cụ đó có HIV

Lây truyền trong chăm sóc y tế: Việc sử dụng các dụng cụ trong tiêm chích, chữa răng, phẩu thuật trong y tế mà không được tiệt trùng cẩn thận cũng có khả năng làm lây truyền HIV

Chăm sóc, cứu chữa bệnh nhân HIV/AIDS khi tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch mà bản thân người chăm sóc bị trầy xước da

HIV có thể lây truyền qua việc cấy truyền cơ quan tổ chức và cho tinh dịch, do đó cần phải xét nghiệm, sàng lọc máu của những người cho trước khi cấy truyền

1.3 Lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ chu sinh

Trang 8

- Khi thai còn trong tử cung: Virus HIV được truyền từ mẹ sang thai nhi ở giai đoạn

rất sớm ngay từ tuần thứ 8 và kéo dài trong suốt thời gian mang thai

Cấy máu cuống rốn đã phân lập được HIV ở những trẻ sơ sinh mà người mẹ có phản

ứng huyết thanh HIV dương tính Mức độ virus càng tăng và dễ phân lập ở những đứa con

của các bà mẹ bị bệnh AIDS Người ta cũng tìm thấy virus HIV ở nhiều phủ tạng (gan, não,

thận) ở cơ thể các thai nhi bị sẩy thai từ tuần thứ 13 ở những thai phụ có HIV(+) Như vậy

HIV đã được truyền từ me sang thai qua bánh rau và được gọi là lây truyền dọc Có từ

20-30% số trẻ sơ sinh được truyền virus từ mẹ có HIV(+) theo con đường này

- Khi thai đi qua đường sinh dục: Nếu là cuộc đẻ khó, có sự can thiệp làm tổn thương

đường sinh dục thì nguy cơ nhiễm virus sẽ tăng lên rất nhiều, ví dụ như Forceps, giác hút sản

khoa, cắt nới tầng sinh môn

- Vấn đề lây truyền qua bú sữa mẹ: Các nhà khoa học đã phân lập được HIV từ sữa

của người mẹ bị nhiễm HIV

HIV có thể lây qua khi trẻ bú mẹ: HIV có trong sữa mẹ, có thể qua các nứt ở núm vú

xâm nhập vào trẻ khi trẻ đang mọc răng hoặc có tổn thương ở niêm mạc miệng Nếu bà mẹ bị

áp xe vú hay đau ở vú có thể làm tăng nguy cơ lây truyền HIV cho con qua bú sữa mẹ

Tỷ lệ lây nhiễm qua bú mẹ khoảng 15%, sẽ tăng lên khi ở giai đoạn cuối hoặc bị

nhiễm HIV khi cho con bú vì nồng độ virus trong máu lúc này cao

Nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tùy từng nước, từ 25-40% ở các nước

kém hoặc đang phát triển, từ 15-20% ở các nước công nghiệp phát triển

Bảng 2: Nguy cơ nhiễm HIV theo hình thức phơi nhiễm và phân bố trên toàn cầu

Hình thức phơi nhiễm Tỷ lệ truyền bệnh mỗi lần

phơi nhiễm

Tỷ lệ nhiễm trùng toàn cầu

Mẹ truyền sang con 25% - 40% ở nước kém phát triển

15% - 25% ở các nước phát triển hơn

2% - 3%

Kim đâm và những phơi nhiễm

do chăm sóc y tế khác

Dưới 0,5%

Người nhà có tiếp xúc phơi

nhiễm với máu

2 Những phương thức không lây truyền HIV

Ngoài 3 phương thức lây truyền nêu trên, hiện nay chúng ta không có bằng chứng về

phương thức lây truyền nào khác

- HIV không lây qua đường hô hấp như ho, hắt hơi

- HIV không lây qua tiếp xúc sinh hoạt thông thường như nơi làm việc, trường học,

rạp hát, bể bơi HIV không lây truyền qua bắt tay, ôm hôn, mặc chung quần áo, dùng chung

cốc, chén, bát, đĩa, thìa

- Muỗi đốt không làm lây truyền HIV Thực tế ở Châu Phi cho thấy rằng những vùng

bị sốt rét nặng nề không tường ứng với vùng có tỷ lệ nhiễm HIV cao Khi vào cơ thể muỗi,

HIV bị dịch vị dạ dầy tiêu diệt, nó không thể sống và nhân lên trong cơ thể muỗi được

IX BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

Nguyên tắc cơ bản phòng chống HIV/AIDS

- Dự phòng nhiễm HIV

- Giảm tác động của HIV/AIDS đối với cá nhân và xã hội

- Huy động và thống nhất các nổ lực quốc gia, toàn cầu phòng chống HIV/AIDS

Trang 9

1 Dự phòng nhiễm HIV

1.1 Phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục:

Để phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục, cần phải thực hiện các biện pháp sau:

- Giáo dục lối sống lành mạnh và thực hiện an toàn tình dục:

+ Biện pháp có hiệu quả nhất là quan hệ tình dục lành mạnh, chung thủy một vợ, một chồng Không quan hệ tình dục bừa bãi

+ Sử dụng bao cao su khi sinh hoạt tình dục giúp cho người nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm HIV tránh lây lan cho người bạn tình

+ Giáo dục kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, khuyến khích họ đến các cơ sở y tế khám, điều trị khi nghi ngờ mắc bệnh

- Cung cấp các dịch vụ y tế và xã hội:

+ Mở rộng dịch vụ cung cấp bao cao su

+ Các dịch vụ y tế xã hội nhằm xử lý các bệnh lây truyền qua dường tình dục

+ Phát triển mạng lưới xét nghiệm HIV và tư vấn

- Khống chế nạn mại dâm đề phòng lây lan HIV từ các tệ nạn mại dâm

1.2 Phòng lây nhiễm HIV qua đường máu

- Qua truyền máu và các sản phẩm của máu:

+ Phát động phong trào hiến máu nhân đạo, tự nguyện để tăng nguồn máu dự trữ + Mọi người cho máu phải được tư vấn để xác định không thuộc nhóm nguy cơ cao, kiểm tra tình trạng nhiễm HIV ở người cho máu, máu nghi ngờ HIV (+) phải loại bỏ ngay Chỉ định truyền máu và các sản phẩm của máu chỉ khi thật cần thiết

+ Các dụng cụ tiêm truyền phải được tiệt trùng theo đúng qui định

- Qua tiêm chích ma túy

+ Vận động không tiêm chích ma túy

+ Vận động và tổ chức cai nghiện, tạo và thu xếp công ăn việc làm cho những người sau khi đã cai nghiện, chống tái nghiện

+ Giáo dục cho những người cai nghiện hiểu biết về HIV/AIDS để thực hiện các nguyên tắc vệ sinh tự bảo vệ mình và bảo vệ người khác, thực hiện an toàn tình dục

+ Ngăn chặn và xử lý nghiêm những người buôn bán ma túy, chủ ổ tiêm chích

- Qua tiêm chích, thủ thuật và phẫu thuật

+ Các dụng cụ tiêm truyền và phẩu thuật, kim châm phải được tiệt trùng

+ Nâng cao trình độ của các nhân viên y tế và có trang thiết bị đảm bảo vô trùng trong mọi dịch vụ y tế

+ Tuân thủ các nguyên tắc vệ sinh khi tiếp xúc với người nhiễm HIV /AIDS

1.3 Phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con

Đa số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ bị nhiễm HIVqua quan hệ tình dục, vì vậy việc phòng chống nhiễm HIV qua quan hệ tình dục đối với phụ nữ là chiến lược tốt nhất để phòng chống nhiễm HIV từ mẹ sang con

- Giáo dục tuyên truyền cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phòng nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là phụ nữ có hành vi nguy cơ cao

- Chẩn đoán sớm thai phụ bị nhiễm HIV bằng vận động những người có nguy cơ cao xét nghiệm để phát hiện HIV

- Phụ nữ đã nhiễm HIV khuyên họ không nên có thai vì sẽ tiến triển nhanh chóng tới AIDS, con sinh ra có khả năng bị AIDS Nếu có thai nên nạo thai, sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục

- Nếu thai phụ muốn giữ thai thì phải gởi họ đến khoa sản bệnh viện tỉnh hoặc các tuyến kỹ thuật cao hơn để được quản lý và điều trị dự phòng bằng các thuốc chống Retrovirus

Trang 10

Việc một bà mẹ bị nhiễm HIV có tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ hay không cần phải được cân nhắc cẩn thận bởi vì ho bú sữa mẹ có nhiều ưu điểm sau:

- Cung cấp chất bổ dưỡng tốt nhất cho trẻ

- Cung cấp các kháng thể giúp cho trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng

- Cho con bú kích thích các hormon làm chậm rụng trứng tránh thụ thai, thực hiện kế hoạch hóa gia đình

- Cho bú sữa mẹ làm cho cả mẹ và con có cảm giác ấm áp và an toàn hơn

- Cho bú sữa bình dễ bị nhiễm trùng và làm cho trẻ có nguy cơ bị tiêu chảy

- Cho bú sữa mẹ có thể làm chậm hay ngăn sự tiến triển thành AIDS ở trẻ em bị nhiễm HIV

2 Giảm tác động của dịch HIV/AIDS đối với cá nhân và xã hội

2.1 Chăm sóc, tư vấn và chữa bệnh tại gia đình và cộng đồng

- Gia đình và cộng đồng phải chăm sóc người thân của mình bị nhiễm HIV/AIDS và những người bị nhiễm phải bảo vệ cho gia đình và cộng đồng

- Các dịch vụ y tế, xã hội phải dễ tiếp cận, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân, với cán bộ

có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác xã hội

- Chăm sóc ngoại trú và tại nhà sẽ tạo mối liên lạc chặt chẽ giữa người bệnh với gia đình, cộng đồng và cơ quan y tế

2.2 Hỗ trợ kinh tế, xã hội cho người bệnh và gia đình

- AIDS đặc biệt đe dọa các nước đang phát triển, các nhóm người nghèo và gia đình

họ

- Gánh nặng AIDS được nhân đôi cho phụ nữ vì họ có vai trò chăm sóc gia đình, ngoài việc chăm sóc con cái, họ phải chăm sóc người thân bị nhiễm HIV/AIDS

- Những người lãnh đạo cộng đồng và làm công tác xã hội, nhân đạo và tôn giáo là người hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ

- Cần có sự phối hợp ở cơ sở cộng đồng giữa chính quyền, y tế, xã hội, tư nhân trong việc hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ

- Cần thành lập các tổ chức xã hội, nhân đạo ở cơ sở chuẩn bị chăm sóc trẻ mồ côi và người góa bụa, không nên phân biệt đối xử

2.3 Giảm tác động kinh tế xã hội của dịch HIV/AIDS

- Tác động kinh tế, xã hội của AIDS tại nhiều nước rất lớn

- Mọi khu vực kinh tế, nhà nước, tư nhân phải góp phần giải quyết đại dịch này vì đó

là quyền lợi chung

- Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS

- Cần nghiên cứu tác động của HIV/AIDS đến các ngành khác nhau, lên các hệ thống chăm sóc sức khỏe và liên quan giữa đại dịch với sự phát triển toàn bộ

3 Huy động và sử dụng các nổ lực phòng chống HIV/AIDS của quốc gia, quốc tế

- Để huy động các quốc gia tham gia phòng chống HIV/AIDS, cần phải chống lại thái

độ phân biệt đối xử, sự từ chối và lạc quan thái quá của các nhà lãnh đạo, của cá nhân và gia đình họ

- Cam kết liên ngành rộng rãi

- Huy động sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, các đoàn thể

- Phối hợp quốc tế trong nghiên cứu

ZW XY

Ngày đăng: 24/07/2014, 21:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tóm tắt cách xử trí khi bị súc vật nghi dại cắn - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 1 Tóm tắt cách xử trí khi bị súc vật nghi dại cắn (Trang 2)
Bảng 2: Nguy cơ nhiễm HIV theo hình thức phơi nhiễm và phân bố trên toàn cầu - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 2 Nguy cơ nhiễm HIV theo hình thức phơi nhiễm và phân bố trên toàn cầu (Trang 8)
Bảng 1. Kết quả tiêm chủng của trẻ em <1 tuổi theo tỉnh, thành phố 2001 (61) - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 1. Kết quả tiêm chủng của trẻ em <1 tuổi theo tỉnh, thành phố 2001 (61) (Trang 12)
Bảng 2. Mắc, chết một số bệnh truyền nhiễm của trẻ em - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 2. Mắc, chết một số bệnh truyền nhiễm của trẻ em (Trang 13)
Bảng 3. Lịch tiêm chủng vaccin uốn ván cho phụ nữ - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 3. Lịch tiêm chủng vaccin uốn ván cho phụ nữ (Trang 15)
Bảng 4. Các loại vaccin, nguồn gốc và cách sử dụng - Giáo trình dịch tễ học y học part 5 pot
Bảng 4. Các loại vaccin, nguồn gốc và cách sử dụng (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm