1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nhà máy xử lý khí dinh cố

32 621 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 256,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khí khô sau khi tách hydrocarbon nặng được vận chuyển tới Bà Rịa và Phú Mỹ để dùng làm nhiên liệu cho nhà máy điện.Hiện nay, do sản lượng khí từ mỏ Bạch Hổ đang giảm dần theo thời gian n

Trang 1

I TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY XỬ LÍ KHÍ DINH CỐ.

I.1 SƠ LƯỢC VỀ NHÀ MÁY:

I.1.1 Mục đích chính của nhà máy:

 Xử lý, chế biến khí đồng hành thu gom được trong quá trình khai thác dầu tại mỏ Bạch Hổ

 Cung cấp khí thương phẩm làm nhiên liệu cho các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ,

và làm nhiên liệu cho các ngành công nghiệp khác

 Thu hồi các sản phẩm lỏng có giá trị kinh tế cao hơn so với khí đồng hành ban đầu

Việc xây dựng nhà máy sẽ tận dụng được một lượng lớn khí đồng hành bị đốt lãng phí

ở ngoài khơi và làm tăng hiệu quả kinh tế trong quá trình sử dụng nó Hơn nữa khí đồng hành là một nguồn năng lượng sạch để sử dụng, có giá thành rẻ và được xem là nhiên liệu

lý tưởng để thay thế than, củi, dầu diesel…

I.1.2 Vị trí:

Nhà máy chế biến khí Dinh Cố được xây dựng tại thị xã An Ngãi, huyện Long Đất, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách Long Hải 6 km về phía bắc, cách điểm tiếp bờ của đường ống dẫn khí từ Bạch Hổ khoảng 10 km Diện tích nhà máy 89.600 m2 (dài 320 m, rộng 280m)

 Ngày kí hợp đồng: 04/09/1997

 Ngày khởi công xây dựng: 04/10/1997

 Đơn vị trúng thầu: Tổ hợp Samsung Engineering Company Ltd (Hàn Quốc), công

ty NKK (Nhật Bản) theo phương thức trọn gói (EPCC)

 Tổng số vốn đầu tư là 79 triệu USD, 100% vốn đầu tư của Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PetroVietNam)

 Công suất thiết kế: 1,5 tỷ m3 khí/năm

 Công suất hiện tại: gần 6 triệu m3 khí/ngày

 Tổng nhân sự:73 người

I.1.3 Các nguồn cung cấp khí cho nhà máy:

Khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ (107 km) ngoài khơi bờ biển Vũng Tàu được vận chuyển qua đường ống 16” tới Long Hải và được xử lý tại nhà máy GPP Dinh Cố để thu

Trang 2

hồi LPG và các hydrocarbon nặng hơn Khí khô sau khi tách hydrocarbon nặng được vận chuyển tới Bà Rịa và Phú Mỹ để dùng làm nhiên liệu cho nhà máy điện.

Hiện nay, do sản lượng khí từ mỏ Bạch Hổ đang giảm dần theo thời gian nên nhà máy

sẽ tiếp nhận khí bổ sung từ các mỏ khác từ khu vực bể Cửu Long: Sư Tử Trắng, Rồng - Đồi Mồi, Tê Giác Trắng…

Một số chỉ tiêu về nguốn nguyên liệu:

Nguyên liệu đầu vào theo thiết kế:

 Áp suất: 10900 kPa

 Nhiệt độ: 25.60C

 Lưu lượng: 1.5 tỷ m3/năm (4.3 triệu m3/ngày trên cơ sở vận hành 350 ngày)

 Hàm lượng nước: bão hòa (trên thực tế thì hàm lượng nước trong khí đã được xử

Trang 3

McycloC6 4.9995E-4

Nguyên liệu đầu vào theo thực tế vận hành hiện nay:

Từ năm 2002, nhà máy tiếp nhận thêm nguồn khí đồng hành từ mỏ Rạng Đông được đưa vào giàn nén trung tâm qua đường ống 16 inch dài khoảng 40km thì thành phần khí vào bờ đã thay đổi như sau:

Cùng với sự thay đổi thành phần khí vào bờ, lưu lượng khí ẩm cũng tăng từ 4.3 triệu

m3/ngày (theo thiết kế ban đầu) lên khoảng 5.7 triệu m3/ngày Trong đó bao gồm từ 1.5 – 1.8 triệu m3/ngày khí từ mỏ Rạng Đông và 4.2 – 4.8 triệu m3/ngày khí từ mỏ Bạch Hổ

I.1.4 Sản phẩm của nhà máy:

Trang 4

Các sản phẩm khí của nhà máy xử lý khí Dinh Cố bao gồm: khí khô thương phẩm, condensate, hỗn hợp bupro, propane, butane

Điểm sương hydrocarbon (oC) 20.3 -10.7 -38.7

Trang 5

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000 400000

352173

371764 372000

353000 338000

147832 158228

132000 118000 107000 80941 71600

183,000,000 281,000,000 532,000,000

900,000,000 1,027,000,000 1,223,000,000 1,233,000,000

1,577,000,000 1,617,000,000 1,618,000,000 1,613,000,000 1,623,000,000

1,264,900,000

1,179,000,000

LPG Condensate Khí khô

Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện sản lượng của nhà máy giai đoạn 1995 – 2008.

I.1.5 Các giai đoạn thiết kế của nhà máy:

Để đảm bảo cho việc vận hành nhà máy được linh hoạt đề phòng một số thiết bị chínhcủa nhà máy bị sự cố, và hoạt động của nhà máy được liên tục khi thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị không gây ảnh hưởng đến việc cung cấp khí cho nhà máy điện, đạm,nhà máy được lắp đặt và hoạt động theo 3 giai đoạn với 3 chế độ chính:

Giai đoạn thiết bị cực tối thiểu (AMF) chỉ sản xuất condensate ổn định với công

suất 342 tấn/ngày và 3,8 triệu m3 khí/ngày, hoạt động vào tháng 10/1998

Giai đoạn thiết kế tối thiểu (MF) sản xuất condensate ổn định với công suất 380 tấn/

ngày, hỗn hợp butan- propan với công suất 629 tấn/ngày và 3,5 triệu m3/ngày khí khô, hoạt động vào tháng 12/1998

Chế độ GPP (Gas Processing Plant): Giai đoạn nhà máy hoàn chỉnh (GPP) sản

xuất condensate ổn định, butan và propan được tách độc lập và khí khô Giai đoạn hoàn chỉnh với công suất khí đầu vào là 1,5 tỷ m3 khí/năm thu hồi propan: 537 tấn/ngày; 417 tấn/ngày; condensate: 402 tấn/ngày và khí khô:3,34 triệu m3/ngày Giai đoạn này sử dụngcông nghệ Turbo-Expander với khả năng thu hồi sản phẩm lỏng cao

Trang 6

Tuy nhiên, từ cuối năm 2001, lượng khí vận chuyển theo đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố tăng từ 4,3 triệu m3/ngày lên 5,7 triệu m3/ngày do có thêm đường ống dẫn khí

từ mỏ Rạng Đông nối vào Như vậy, lượng khí tiếp nhận ở nhà máy xử lý khí Dinh Cố sẽ tăng thêm khoảng 1 triệu m3/ngày Việc tăng lưu lượng khí dẫn vào bờ đã gây nên sự sụt

áp đáng kể trên đường ống dẫn khí vào bờ và áp suất tại đầu tiếp nhận khí của nhà máy giảm từ 109 barg xuống khoảng từ 60 – 80 barg Áp suất khí đầu vào thấp sẽ làm giảm khả năng ngưng tụ của các cấu tử nặng dẫn tới giảm khả năng thu hồi sản phẩm lỏng của nhà máy, đồng thời làm giảm áp suất của dòng khí khô cung cấp cho nhà máy điện

Để khắc phục vấn đề này, nhà máy đã tiến hành- Chế độ MGPP (Modified Gas Processing Plant): Chế độ GPP sửa đổi, lắp đặt thêm trạm nén khí đầu vào để nén khí

đầu vào lên áp suất 109 barg theo đúng thiết kế ban đầu

Ngoài 4 chế độ trên trong quá trình vận hành nhà máy tùy theo tình trạng vận hành bảo dưỡng của thiết bị mà VHV có thể linh hoạt điều chỉnh chế độ vận hành để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả thu hồi lỏng tối đa

I.2 QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ:

Nhà máy GPP được thiết kế dựa trên lưu lượng khí ẩm là 4,3 triệu m3/ngày Với lưu lượng này, áp suất đầu vào nhà máy sẽ khoảng 109 barG và là thông số quan trọng quyết định hiệu suất làm việc của các thiết bị bên trong nhà máy Năm 2001 cùng với việc đưa khí Rạng Đông vào xử lý, lưu lượng khí qua nhà máy đạt mức tối đa khoảng 5,7 triệu m3/ngày, áp suất đầu vào GPP giảm xuống còn khoảng 70-75 barG, cụm máy nén K-1011 đãđược lắp đặt nhằm nâng áp suất khí đầu vào tới áp suất thiết kế 109 barG Từ đó sơ đồ công nghệ chính của nhà máy có một số thay đổi chính gồm:

 Khí đầu vào GPP được nâng áp từ 70-75 barG tới 109 barg và nhiệt độ khí sau trạm nén K-1011 tăng lên khoảng 45°C cao hơn so thiết kế

 Áp suất bình tách V-03 giảm từ 75 barg xuống 45 barG để đạt 2 mục đích:

- Lượng khí ẩm vượt quá công suất vận hành của GPP được bơm qua V-101 để cấp thẳng cho các hộ tiêu thụ Lỏng tách được ở V-101 sẽ được đưa về V-03 để

xử lý

- Lỏng tách được tại Scrubber trước K-1011 cũng được đưa về V-03 để đảm bảo

an toàn

Trang 7

Trong các chế độ vận hành nói trên, hai chế độ AMF, MF là các chế độ được thiết kế

để vận hành trong giai đoạn lắp đặt để chạy thử Sau khi hoàn thành việc lắp đặt, các chế

độ này rất ít khi được vận hành vì nó làm giảm khả năng thu hồi sản phẩm lỏng Trong trường hợp một số thiết bị trong chế độ GPP bị hỏng thì nhà máy mới chuyển sang chế độAMF hoặc MF để duy trì hoạt động của nhà máy

Thực chất, nhà máy hoạt động với 3 chế độ chính là AMF, MF, GPP còn chế độ MGPP là để đáp ứng những yêu cầu thực tế hiện tại trong quá trình cung cấp khí Do nhu cầu của thị trường không cần tách butane và propane riêng, mà chỉ cần hỗn hợp LPG sử dụng cho nhu cầu đốt dân dụng nên tháp C3/C4 Splitter không được sử dụng Mặc khác

kể từ năm 2002, nhà máy tiếp nhận thêm dòng khí từ mỏ Rạng Đông nâng lưu lượng dòng về bờ là 5.7 triệu m3/ngày, tuy nhiên lưu lượng khí về bờ tăng nhưng áp lực đầu vàogiảm xuống còn 70 bar đến 80 barg, vì vậy để đảm bảo áp lực đầu vào và công suất vận hành của nhà máy, nên đã lắp đặt thêm 4 máy nén K-1011A/B/C/D và đường rẽ qua bồn V-101

I.2.1 Chế độ AMF:

I.2.1.1 Mục đích :

Chế độ AMF có khả năng đưa nhà máy sớm đi vào hoạt động nhằm cung cấp khí thương phẩm với lưu lượng 3,7 triệu m3/ngày cho các nhà máy điện và thu hồi condensat với sản lượng 340 tấn/ngày Đây đồng thời cũng là chế độ dự phòng cho chế độ MF, khi các thiết

bị trong chế độ MF, GPP xảy ra sự cố hoặc cần sửa chữa, bảo dưỡng mà không có thiết bị

Trang 8

Khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ được đưa tới Slug Catcher của nhà máy bằng đường ống 16” với áp suất 109 bar, nhiệt độ 25,60C Tại đây, condensat và khí được tách ra theo các đường riêng biệt để tiếp tục xử lý, còn nước chứa trong condensat cũng được tách nhờ trọng lực và đưa vào bình tách nước (V-52) để xử lý Ở đây nước được giảm áp tới

áp suất khí quyển và hydrocacbon bị hấp thụ sẽ được giải phóng đưa vào đốt ở hệ thống cột đuốc Nước sau đó được đưa tới hầm đốt (ME-52)

Dòng lỏng đi ra từ Slug Catcher sẽ được giảm áp và đưa vào bình tách V-03 hoạt động ở 75 bar và được duy trì ở nhiệt độ 200C V-03 dùng để tách hydrocacbon nhẹ hấp thụ trong lỏng bằng cách giảm áp Với việc giảm áp từ 109 bar xuống 75 bar, nhiệt độ sẽ giảm thấp hơn nhiệt độ hình thành hydrate nên để tránh hiện tượng này bình được gia nhiệt đến 200C bằng dầu nóng ở thiết bị E-07 Sau khi ra khỏi V-03 dòng lỏng này được trao đổi nhiệt tại thiết bị E-04A/B để tận dụng nhiệt

Trang 9

Dòng khí thoát ra từ Slug Catcher được dẫn vào bình tách/lọc V-08 nhằm tách triệt đểcác hạt lỏng nhỏ bị cuốn theo dòng khí do SC không tách được và lọc các hạt bụi trong khí (nếu có) để tránh làm hư hỏng các thiết bị chế biến khí phía sau.

Khí từ đầu ra của V-08 được đưa vào thiết bị hòa dòng EJ-01A/B/C để giảm áp suất

từ 109 Bar xuống 47 Bar Việc giảm áp của khí trong EJ có tác dụng để hút khí từ đỉnh tháp C-01 Đầu ra của EJ-01A/B/C là dòng hai pha có áp suất 47 bar và nhiệt độ 200C cùng với dòng khí nhẹ từ V-03 đã giảm áp được đưa vào tháp C-05 Mục đích của EJ-01A/B/C là nén khí thoát ra từ đỉnh tháp C-01 lên áp suất làm việc của tháp C-05, vì vậy

nó giữ áp suất làm việc của tháp C-01 ổn định

Tháp C-05 hoạt động ở áp suất 47 bar, nhiệt độ 200C Phần đỉnh của tháp hoạt động như bộ tách khí lỏng Tháp C-05 có nhiệm vụ tách phần lỏng ngưng tụ do sự sụt áp của khí từ 109 bar xuống 47 bar khi qua EJ-01A/B/C Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-05 được đưa ra đường khí thương phẩm để cung cấp cho các nhà máy điện Lỏng tại đáy C-05 được đưa vào đĩa trên cùng của tháp C-01

Ở chế độ AMF tháp C-01 có 2 dòng nhập liệu:

 Dòng từ V-03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01

 Dòng lỏng từ đáy của tháp C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01

Áp suất hơi của condensat được giảm đi và được điều chỉnh trong tháp C-01 nhằm mục đích phù hợp cho việc chứa trong bồn chứa ngoài trời Với ý nghĩa đó trong chế độ AMF tháp C-01 hoạt động như là tháp ổn định condensat Trong đó, phần lớn

hydrocacbon nhẹ hơn Butan được tách ra khỏi Condensat bởi thiết bị gia nhiệt của đáy

C-01 là E-C-01A/B đến 1940C Khí ra ở đỉnh tháp có nhiệt độ 640C được trộn với khí nguyên liệu nhờ EJ-01A/B/C Dòng Condensat ở đáy tháp được trao đổi nhiệt tại E-04A/B và được làm lạnh bằng không khí ở E-09 để giảm nhiệt độ xuống 450C trước khi ra đường ống dẫn Condensat về kho cảng hoặc chứa vào bồn chứa TK-21

Trang 10

I.2.2 Chế độ MF:

I.2.2.1 Mục đích:

Trong chế độ vận hành MF, sản phẩm của nhà máy ngoài lượng khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện, còn thu được lượng Condensat là 380 tấn/ngày và lượng Bupro là 630 tấn/ngày

I.2.2.2 Các thiết bị chính:

Đây là chế độ hoạt động trung gian của nhà máy MF là chế độ cải tiến của chế độ AMF Nên ở chế độ này nhà máy bao gồm toàn bộ các thiết bị của chế độ AMF (trừ EJ-A/B/C) cộng thêm các thiết bị chính sau :

Dòng khí từ Slug Catcher được đưa đến bình tách lọc V-08, đây là thiết bị được thiết

kế để tách nước, hydrocacbon lỏng, dầu và lọc các hạt rắn Mục đích của V-08 là bảo vệ lớp chất hấp thụ trong V-06A/B khỏi bị hỏng hoặc giảm tác dụng và giảm tuổi thọ của chúng Sau khi được loại nước tại V-06A/B dòng khí được đưa đồng thời đến hai thiết bị E-14 và E-20 để làm lạnh Dòng khí sau khi ra khỏi E -14 và E-20 là dòng hai pha lỏng khí được đưa vào tháp C-05 để tách lỏng Khí ra tại đỉnh tháp C-05 làm tác nhân lạnh bậc

1 cho dòng nguyên liệu tại E-14 (nhiệt độ giảm từ 26,50C xuống -170C) trước khi làm lạnh bậc hai tại van giãn nở, dòng khí thương phẩm ra từ đỉnh C-05 này sau khi qua E-14 nhiệt độ được tăng lên đủ điều kiện cung cấp cho các nhà máy điện

Trang 11

Hai tháp hấp thụ V-06A/B được sử dụng luân phiên, khi tháp này làm việc thì tháp kiatái sinh Quá trình tái sinh được thực hiện nhờ sự cung cấp nhiệt của một phần dòng khí thương phẩm được gia nhiệt đến 2200C bằng dòng dầu nóng tại E-18, dòng khí này sau khi ra khỏi thiết bị V-06A/B sẽ được làm nguội tại E-15 và được tách lỏng ở V-07 trước khi ra đường khí thương phẩm.

Sơ đồ dòng lỏng trong chế độ MF giống như trong chế độ AMF, ngoại trừ việc đưa khí từ V-03 đến C-01 thay vì đến C-05 như chế độ AMF Ngoài ra trong chế độ MF, thápC-02 được đưa vào để thu hồi Bupro

Nhằm tận thu bupro và tách một ít metan, etan còn lại, dòng khí từ V-03 được đưa đến tháp C-01 để tách triệt để lượng metan, etan

Dòng lỏng từ thiết bị V-03 được đưa đến tháp C-01 sau khi được gia nhiệt từ 200C lên

800C tại thiết bị E-04A/B nhờ dòng lỏng ra từ tháp ổn định C-02

Trang 12

Có 3 dòng nguyên liệu được đưa đến tháp C-01:

 Dòng khí đến từ V-03 vào giữa đĩa thứ 2 và 3 của tháp C-01

 Dòng lỏng từ V-03 vào đĩa thứ 20 của tháp C-01

 Dòng lỏng đến từ đáy C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01

Tại đây các hydrocacbon nhẹ như C1, C2 được tách ra và đi lên đỉnh tháp, sau đó nó được nén từ 25 bar lên 47 bar nhờ máy nén K-01 trước khi được dẫn qua đường dẫn khí thương phẩm

Phần lỏng ra từ đáy tháp C-01 được đưa đến tháp C-02

Tháp C-02 làm việc ở áp suất 11 bar, nhiệt độ đỉnh 600C và nhiệt độ đáy 1540C Tại đây C5+ được tách ra ở đáy tháp, sau đó chúng được dẫn qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04A/

B để gia nhiệt cho dòng lỏng ra từ đáy V-03 Sau khi ra khỏi E-04A/B lượng lỏng này được đưa đến làm lạnh tại thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-09 trước khi đưa ra đường ống hoặc ra bồn chứa condensat TK-21

Phần hơi ra khỏi đỉnh tháp C-02 là Bupro, hơi Bupro được ngưng tụ tại E-02, một phần được cho hồi lưu trở lại C-02 để đảm bảo độ phân tách của sản phẩm, phần còn lại theo đường ống dẫn sản phẩm Bupro

I.2.3 Chế độ GPP:

I.2.3.1 Mục đích:

Trong chế độ vận hành này sản phẩm thu được của nhà máy bao gồm: khoảng 3,34 triệu

m3 khí/ngày để cung cấp cho các nhà máy điện, Propan khoảng 540 tấn/ngày, Butan khoảng 415 tấn/ngày và lượng Condensat khoảng 400 tấn/ngày

Trang 13

 Các thiết bị trao đổi nhiệt: E-17, E-11 …

I.2.3.3 Mô tả chế độ vận hành GPP:

Khí từ ngoài khơi vào nhà máy được tiếp nhận đầu tiên tại Slug Catcher (SC-01/02),

ở đây dòng nguyên liệu là dòng hai pha có nhiệt độ 25,6oC và áp suất 109 bar được tách riêng ra để xử lí tiếp theo

Dòng khí từ Slug Catcher qua V-08 để tách nốt phần lỏng còn lại, lượng lỏng tách ra này được đưa đến bình tách V-03 để xử lý, còn dòng khí tách ra từ V-08 sẽ đi vào V-06A/B để tách tách nước

Do chế độ này thiết bị Turbo – Expander được đưa vào hoạt động thay thế E-20 trong chế độ MF, nên khoảng 2/3 lượng khí ra khỏi V-06A/B được chuyển tới phần giãn nở củathiết bị CC-01, tại đó khí được giãn từ 109 bar xuống 33,5 bar và nhiệt độ cũng giảm xuống -18oC, sau đó dòng khí này sẽ được đưa vào tháp tinh lọc C-05

Phần khí còn lại khoảng 1/3 dòng từ V-06A/B được đưa tới thiết bị trao đổi nhiệt E-14 đểlàm lạnh dòng khí từ 26oC xuống - 35oC bởi dòng khí lạnh từ đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ

Trang 14

–42.5oC Áp suất của dòng sau đó được giảm từ 109 bar xuống 33,5 bar nhờ van giảm áp FV-1001 Sau quá trình giãn nở đoạn nhiệt này, nhiệt độ giảm xuống đến -62oC Dòng này được đưa vào đỉnh của tháp tinh lọc C-05 như một dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp.Trong chế độ GPP, tháp C-05 làm việc ở áp suất 33,5 bar, nhiệt độ đỉnh -42.5oC và nhiệt độ đáy -20oC Khí ra khỏi đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -42.5oC được sử dụng làm lạnh khí đầu vào thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14 trước khi được nén ra dòng khí thương phẩm bằng phần nén của CC-01.

Quá trình thu hồi lỏng trong chế độ này có khác biệt so với chế độ AMF và chế độ

MF do sự có mặt của tháp 04 và các máy nén K-02, K-03 Khí thoát ra từ đỉnh tháp

C-01 được máy nén K-C-01 nén từ 29 bar lên 47 bar rồi tiếp tục được làm lạnh trong thiết bị trao đổi nhiệt E-08 với tác nhân lạnh là dòng lỏng ra từ V-03 có nhiệt độ là 20oC và cả haidòng này vào tháp C-04 để tách nước và hydrocacbon nhẹ lẫn trong dòng lỏng đền từ V-

03

Tháp C-04 làm việc ở áp suất 47,5bar, nhiệt độ đỉnh và đáy lần lượt là 44oC và 40oC Khí sau khi ra khỏi thiết bị C-04 được nén tiếp tới áp suất 75 bar bằng máy nén K-02 rồi được làm lạnh bằng thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-19 Lượng khí này được trộnlẫn với lượng khí thoát ra từ V-03, được nén tiếp tới 109 bar bằng máy nén K-03, chúng tiếp tục được làm lạnh và nhập vào dòng khí nguyên liệu trước V-08

Phần lỏng đi ra từ đáy tháp C-04 được đưa đến đĩa thứ 14 của tháp C-01 và dòng lỏng

đi ra từ tháp C-05 được đưa đến đĩa thứ nhất của tháp C-01 đóng vai trò như dòng hồi lưungoài ở đỉnh tháp

Trong chế độ này, tháp C-01 làm việc ở áp suất 29 bar, nhiệt độ đỉnh 14oC và nhiệt độđáy 109oC Sản phẩm đáy của tháp C-01 có thành phần chủ yếu là C3+ sẽ được đưa đến tháp C-02 (áp suất làm việc của tháp C-02 là 11 bar, nhiệt độ đỉnh 55oC và nhiệt độ đáy

134oC) để tách riêng condeasat và Bupro

Sản phẩm đỉnh của tháp C-02 là bupro được tiến hành ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ

43oC trong thiết bị ngưng tụ bằng không khí E-02, sau đó được đưa tới bình hồi lưu V-02

có dạng nằm ngang Một phần Bupro được bơm trở lại tháp C-02 để hồi lưu bằng bơm 01A/B, áp suất của bơm có thể bù đắp được sự chênh áp suất làm việc của tháp C-02 (11bar) và tháp C-03 (16 bar) Phần bupro còn lại được gia nhiệt đến 60oC trong thiết bị gia nhiệt E-17 trước khi cấp cho tháp C-03 bằng dòng lỏng nóng từ đáy tháp C-03 Sản phẩm đáy của tháp C-02 chính là condensat thương phẩm được đưa ra bồn chứa hoặc dẫn

P-ra đường ống vận chuyển condensat về kho cảng Thị Vải

Như đã nói ở trên dòng nguyên liệu vào tháp C-03 là Bupro, tại đây chúng được tách riêng ra Sản phẩm đỉnh tháp C-03 là hơi Propan được ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ

46oC nhờ thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-11 được lắp tại đỉnh C-03 và được đưa tới thiết bị chứa hồi lưu V-05 có dạng nằm ngang Phần propan lỏng này được bơm bằng các máy bơm, một phần propan thương phẩm được tách ra bằng thiết bị điều khiển mức

và chúng được đưa tới đường ống dẫn propan hoặc bể chứa propan V-21A Phần còn lại được đưa trở lại tháp C-03 như một dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp

Tại đáy tháp C-03, thiết bị trao đổi nhiệt bằng dầu nóng E-10 được lắp đặt có tác dụngnhư nồi tái đun để gia nhiệt cho dòng butan đến 97oC Nhiệt độ của nó được điều khiển bởi van TV-2123 đặt trên ống dẫn dầu nóng Một phần dòng butan được hồi lưu lại tháp

Trang 15

C-03, phần còn lại được đưa ra bồn chứa hoặc đưa đến kho cảng Thị Vải sau khi được giảm nhiệt độ đến 60oC bằng thiết bị trao đổi nhiệt E-17 và đến 45oC bằng thiết bị trao đổi nhiệt E-12.

I.2.4 Chế độ vận hành hiện tại ( Chế độ GPP chuyển đổi_MGPP ):

Trang 16

được đưa vào hệ thống đường ống dẫn khí thương phẩm 16” cung cấp cho các nhà máy điện.

Dòng khí chính khoảng 5 triệu m3 khí/ngày được đưa vào trạm nén khí đầu vào

K-1011 A/B/C/D (3 máy hoạt động 1 máy dự phòng) để nén dòng khí từ 65-80 bar lên 109 bar sau đó qua thiết bị làm nguội bằng không khí E-1011 để làm nguội dòng khí ra khỏi máy nén đến nhiệt độ khoảng 400C Dòng khí này đi vào thiết bị tách lọc V-08 để tách lượng lỏng còn lại trong khí và lọc bụi bẩn Sau đó được đưa vào thiết bị hấp thụ V-06A/

B để tách triệt để nước nhằm tránh hiện tượng tạo thành hydrate trong quá trình làm lạnh sâu

Dòng khí ra khỏi thiết bị V-06A/B được tách thành hai dòng:

 Khoảng một phần ba dòng khí ban đầu qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14 để hạ nhiệt

độ từ 26,5oC xuống - 35o C với tác nhân lạnh là dòng khí khô đến từ đỉnh tháp

C-05 với nhiệt độ là - 45oC Tiếp theo dòng khí nóng ra khỏi E-14 được làm lạnh sâu bằng cách giảm áp qua van FV-1001 Ap suất giảm từ 109 bar xuống 37 bar (bằng

áp suất làm việc của đỉnh tháp C-05) kéo theo nhiệt độ giảm xuống -620C và được đưa vào đĩa trên cùng của tháp tinh cất C-05, đóng vai trò như dòng hồi lưu ngoài

ở đỉnh tháp

 Hai phần ba dòng khí còn lại được đưa vào thiết bị CC-01 để thực hiện việc giảm

áp từ 109 bar xuống 37 bar và nhiệt độ giảm xuống -12oC

Dòng khí lạnh này sau đó tiếp tục đưa vào đáy của tháp tinh cất C-05 Tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 37 bar, nhiệt độ đỉnh tháp và đáy tháp tương ứng là -45oC và -

15oC, tại đây khí (chủ yếu là metan và etan) được tách ra tại đỉnh tháp C-05 Thành phần lỏng chủ yếu là Propan và các cấu từ nặng hơn được tách ta tại đáy tháp

Hỗn hợp khí ra từ đỉnh của tháp tinh cất có nhiệt độ -45oC được sử dụng làm tác nhân lạnh cho thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được nén tới áp suất 54 bar trong phần nén của thiết bị CC-01 Hỗn hợp khí đi ra từ thiết bị này là khí thương phẩm được đưa vào hệ thống đường ống 16” đến các nhà máy điện

Ngày đăng: 24/07/2014, 20:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Biểu đồ thể hiện sản lượng của nhà máy giai đoạn 1995 – 2008. - báo cáo  nhà máy xử lý khí dinh cố
Hình 1.1. Biểu đồ thể hiện sản lượng của nhà máy giai đoạn 1995 – 2008 (Trang 5)
Sơ đồ dòng lỏng trong chế độ MF giống như trong chế độ AMF, ngoại trừ việc đưa  khí từ V-03 đến C-01 thay vì đến C-05 như chế độ AMF - báo cáo  nhà máy xử lý khí dinh cố
Sơ đồ d òng lỏng trong chế độ MF giống như trong chế độ AMF, ngoại trừ việc đưa khí từ V-03 đến C-01 thay vì đến C-05 như chế độ AMF (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w