Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Frankliniella intonsa Trybom và biện ph
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea Linnaeus) là cây công nghiệp ngắn
ngày, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, đồng thời là cây cải tạo đất tốt Chính vì vậy nhu cầu sản xuất lạc trên thế giới và Việt nam ngày càng tăng Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung với 21,9 nghìn ha [14]
Ở Việt nam nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: (Phạm Thị Vượng, 1998 [12], (Hà Quang Hùng, 2000 [5]) Yorn Try (2008) [13], Hà Quang Dũng (2008) [3] Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ dừng ở điều tra
cơ bản
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất lạc hiện nay Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Frankliniella intonsa Trybom và biện pháp phòng trừ ở Nghệ An”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc tại Nghệ
An và vai trò của loài thiên địch có ý nghĩa trong điều hòa số lượng
bọ trĩ hại lạc, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ theo hướng quản lý tổng hợp (IPM) tại Nghệ An đạt hiệu quả kinh tế, thân thiên với môi trường
2.2 Yêu cầu của đề tài
Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần thiên địch của chúng tại Nghệ An Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại lạc tại Nghệ An.Điều tra diễn biến số lượng loài Frankliniella intonsa dưới ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái tại Nghệ An.Nghiên cứu một số
đặc điểm sinh vật học của loài bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri Poppius ăn thịt bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom tại Nghệ An Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa
Trybom theo hướng quản lý tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện môi trường
Trang 23 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp dẫn liệu khoa học khá đầy đủ về thành phần bọ trĩ hại lạc Bổ sung 2 loài bọ trĩ vào thành phần loài sâu hại lạc ở Việt Nam
Bổ sung dữ liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái học, phạm vi ký chủ
của loài bọ trĩ F intonsa hại lạc và các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến
số lượng của chúng, làm cơ sở phát hiện kịp thời sự gây hại của bọ trĩ trên lạc và các loài thiên địch của chúng Là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu ở Trường Đại học, Viện nghiên cứu, cho cán bộ kỹ thuật bảo vệ thực vật về bọ trĩ hại lạc
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nhận biết được các loài bọ trĩ hại lạc, tình hình gây hại và phát sinh
của loài bọ trĩ F intonsa trên cây lạc ở Nghệ An và vùng phụ cận
Phát hiện kịp thời các loài thiên địch của bọ trĩ hại lạc và vai trò của loài có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ Đề xuất biện pháp quản
lý tổng hợp phòng chống bọ trĩ F intonsa hại lạc ở Nghệ An và thực
hiện mô hình phòng chống chúng đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện với môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Cây lạc giống L14, L20, TB25; Các loài bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng tại Nghệ
An Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc và loài thiên địch có ý nghĩa Xây dựng biện pháp quản lý tổng
hợp bọ trĩ F intonsa hại lạc ở Nghệ An
5 Điểm mới của luận án
- Ghi nhận được 02 loài bọ trĩ Megalurothrips sjostedti Trybom
và Haplothrips gowdeyi Franklin là sâu hại mới trên lạc tại Nghệ An
so với công bố trước đây ở nước ta;
- Bước đầu xây dựng khóa định loại đến loài của bọ trĩ hại lạc tại Nghệ An dựa vào đặc điểm hình thái của bọ trĩ trưởng thành;
- Bổ sung một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ trĩ
F intonsa hại hoa trên cây lạc ở Nghệ An;
- Lần đầu tiên xây dựng quy trình phòng trừ bọ trĩ F intonsa hại
lạc theo hướng tổng hợp và thực hiện mô hình đạt hiệu quả kinh tế, thân thiên môi trường
Trang 36 Cấu trúc của luận án
Luận án chính 114 trang, gồm 5 phần: mở đầu (4 trang), chương
1 Cơ sở khoa học của đề tài và tổng quan tài liệu nghiên cứu (32 trang), chương 2 Phương pháp nghiên cứu (19 trang), chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận (57trang), Kết luận và đề nghị (2 trang)
Có tổng số 97 tài liệu tham khảo; trong đó có 19 tài liệu tiếng Việt và
78 tài liệu tiếng Anh
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, Bọ trĩ (Thrips) đã trở
thành sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng Điều này có thể
do cơ thể bọ trĩ tuy bé nhỏ nhưng có khả năng phát tán rộng nhờ gió, hoặc mang theo các loài con trùng bay khác Bọ trĩ có kiểu miệng dũa hút dịch của lá, nụ, hoa và quả non gây thành những dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng; gián tiếp là véc - tơ truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây
Hiện nay ở nước ta những nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, do đó đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề nêu trên để góp phần tăng sự hiểu biết về khả năng ứng dụng các biện pháp phòng chống đối tượng này phục
vụ phát triển sản xuất các vùng trồng lạc ở Nghệ An nói riêng và nước ta nói chung
1.2 Những nghiên cứu về bọ trĩ ở nước ngoài
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ
Có trên 5.000 loài bọ trĩ đã được biết trên thế giới Nhiều khía cạnh về phân loại hệ thống của bộ cánh tơ Thysanoptera vẫn còn tranh luận giữa các nhà côn trùng
Bọ trĩ thuộc bộ Thysanoptera, lớp côn trùng (insecta), ngành chân khớp (Arthropoda)
1.2.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ
Cho đến nay bọ trĩ đã gây hại trên rất nhiều nước trên thế giới như Philipphin, Indonesia, Malaysia, Thái lan, Đài Loan, Ấn độ, Khu vực Đông Nam châu Á chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng như dưa hấu, khoai tây đậu đỗ bầu bí, hành tỏi, lúa ngô,… chúng gây hại trên các bộ phận của cây trồng như nõn, lá, hoa và quả non Chúng làm giảm năng suất cây trồng như giảm 20% năng suất hồ tiêu ở Inđonesia, 29% năng suất lạc ở Ấn Độ Bọ trĩ được xem là dịch hại
Trang 4nguy hiểm bởi sự có mặt và gây hại của chúng buộc người dân phải phun thuốc hoá học mà lẽ ra không cần thiết phải phòng trừ Hậu quả của nó là làm bùng phát dịch hại khác do mất cân bằng sinh học
(Lynch et al, 1986) [60];
1.2.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Kirk, 1995 [53]) bọ trĩ chích hút cây cỏ, phấn hoa và các lạp lục, thu hoạch từ các lớp biểu bì bên ngoài các tế bào thịt lá Theo Mau et al(1993) [63], và Chen, et al, (1987) [30], quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng
Theo Ananthakrishnan (1984) [218], Kết quả nghiên cứu về thời gian vòng đời một số loài bọ trĩ hại cây trồng trong đó có cây lạc chỉ
rõ: Frankliniella intonsa,: trứng 2 - 4 ngày, thời gian tuổi 1 từ 1,5 - 3
ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 5 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3,5 - 5 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 9 - 6 ngày
Scirtothrips dorsalis: trứng 4 - 7 ngày, thời gian tuổi 1 từ 2 - 4 ngày,
thời gian tuổi 2 từ 3 - 6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3 - 6 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 2 - 3 ngày
1.2.4 Những nghiên cứu về thiên địch của bọ trĩ
Ngày nay nhiều nghiên cứu về thiên địch cho thấy bọ trĩ có rất rất nhiều loại như nấm, nhện bắt mồi, bọ rùa, bọ xít nâu nhỏ bắt mồi, ong, kiến, bọ trĩ ăn thịt bọ trĩ bọ xít nâu nhỏ bắt mồi thuộc họ Anthocoridae
Có khoảng từ 500 đến 600 loài thuộc họ Anthocoridae phân bố trên thế giới (Sathiyanadam, 1987) [78] Tất cả các loài thuộc họ Anthocoridae đều có vòi chích hút vật mồi
Trang 51.3.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ
Các nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng tại Việt Nam nhìn chung còn ít Mặc dù đã có một số tác giả nghiên cứu về bọ trĩ hại xoài, bọ trĩ hại hoa, khoai tây
1.2.3 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của
bọ trĩ
Hiện nay mới chỉ có một số tác giả nghiên cứu về đặc điểm hình
thái của loài Thrips palmi trên rau tại vùng phụ cận Hà Nội (Yorn
Try , 2008)[19]
Chưa có bất kể một nghiên cứu nào đề cập đến đặc điểm sinh học,
sinh thái của loài bọ trĩ F intonsa
1.2.4 Những nghiên cứu trong nước về thiên địch của bọ trĩ
Yorn Try (2003) [19] đã xác định 14 loài thiên địch của bọ trĩ
T palmi; Theo Hà Quang Hùng và cộng tác viên (2000) [6] bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri là loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà
số lượng bọ trĩ T palmi hại khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận
Theo Hà Quang Dũng (2008)[5] xác định 10 loài thiên địch bắt mồi của bọ trĩ hại cam quýt ở Cao Bằng, Hòa Bình; Còn theo Phạm Thị Vượng (1998) [18], trên cây lạc có 9 loài thiên địch của bọ trĩ
Theo Trung tâm nghiên cứu cây bông (2000)[17] Admire 50 EC
và Confidor 100 SL là những thuốc phun qua lá thường được sử dụng để trừ bọ trĩ và có hiệu lực khá tốt trên cây nho
* Biện pháp quản lý tổng hợp
Theo Hà Quang Dũng (2008)[5] để phòng chống bọ trĩ
Franhkliniell intonsa Trybom và Scirtothrips dorsalis Hood hại cam
quýt đạt hiệu quả cần thực hiện phối hợp các biện pháp canh tác, hóa học, sinh học một cách hợp lý:
Theo Yorn Try (2008) [19] để phòng chống bọ trĩ Thrips palmi
hại trên dưa chuột có thể: chọn giống dưa phù hợp, giữ ẩm cho ruộng, phun thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc kết hợp vệ sinh đồng ruộng và thả bọ xít nâu nhỏ bắt mồi
Trang 6Chương II
ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
- Được thực hiện tại khu ruộng của Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung bộ và tại một số vùng trồng lạc ở Diễn Châu, Thanh Chương, Nghi Lộc
- Thí nghiệm trong phòng về nuôi sinh học, sinh thái học và tìm hiểu hiệu lực của một số loài thuốc được thực hiện tại phòng thực tập côn trùng, khoa nông học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung bộ
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ năm 2008 đến năm 2011
2.2 Vật liệu dụng cụ và hóa chất nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu:
+ Giống lạc (L14, L20 và TB25)
+ Nylon phủ bề mặt luống và che phủ xung quanh ruộng
2.2.2 Các dụng cụ nuôi sâu:
- Túi nilon đựng mẫu, giấy lọc, giấy bản và bông thấm nước;
- Ống tuýp, lọ thủy tinh, đĩa petri, hộp nhựa; lồng nuôi bọ trĩ
- Lồng nuôi sâu, bút lông, chổi lông, cồn, kim côn trùng (số 1-5), panh, kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi có thước đo, kính hiển vi, tủ định ôn, tủ sấy, nhiệt kế ẩm
2.2.3 Các dụng cụ pha chế thuốc hóa học:
- Ống đong cỡ 100ml, 500ml và 1000ml, Bình tam giác 25ml, 500ml, Bình phun thuốc 1 lít và 10 lít bằng tay;
- Các loại hóa chất giữ mẫu: Cồn, axít acetic, glycerin fluon, thuốc sâu hóa học: sử dụng là các loại thuốc trừ sâu không nằm trong danh mục các loại thuốc trừ sâu cấm sử dung tại Việt Nam: Tập kỳ 1,8 EC, Acotrin 440 EC, Alfapathrin 10 EC, Oshin 100 SL, Admire 200 OD
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần thiên địch của chúng
Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng được tiến hành theo quy định lấy mẫu của Cục Bảo vệ thực vật (1995) Hà Quang Hùng (2005) [7] và phương pháp thu thập mẫu bọ trĩ ngoài đồng của Mound L.A (2007) [71]
Trang 72.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại lạc tại Nghệ An
Phương pháp nuôi tập thể và cá thể loại bọ trĩ được tiến hành theo
Hà Quang Hùng (2005) [7]
2.3.3 Điều tra diễn biến của loài bọ trĩ chính Frankliniella intonsa Trybom và biến động số lượng của của chúng dưới ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái tại Nghệ An
Trên mỗi giống lạc, chọn ruộng điển hình, sau đó tiến hành điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, định kỳ 7 - 10 ngày một lần Mỗi ruộng điều tra 50 cây Mỗi điểm lấy 100 hoa, lá, 1 điểm điều tra
10 cây, mỗi cây lấy 10 hoa, lá mang về phòng thí nghiệm trải trên giấy trắng lấy bút lông có tẩm cồn 700
sau đó đưa lên kính lúp để phân tỷ lệ giữa các loài và đếm tổng số bọ trĩ trên 100 hoa lạc, từ đó tính được mật độ bọ trĩ/hoa, lá
2.3.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri ăn bọ trĩ F intonsa tại Nghệ An
Nghiên cứu thời gian phát dục các pha và thời gian vòng đời của loài bọ xít
nâu nhỏ bắt mồi O sauteri được tiến hành theo phương pháp chung trong nghiên cứu côn trùng Bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri được
nuôi cá thể trong phòng thí nghiệm Thức ăn để nuôi bọ xít bắt mồi
là trứng ngài gạo, trứng của nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae
và ấu trùng của bọ trĩ Frankliniella intonsa
2.3.5 Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom theo hướng quản lý tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế thân thiện môi trường
Các thí nghiệm được bố chí theo Nguyễn Thị Lan và Phạm Tiến Dũng (2005) [12]
Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ và thiên địch được tiến hành theo quy định lấy mẫu của Cục Bảo vệ thực vật (1995) Hà Quang Hùng (2005) [7] và phương pháp thu thập mẫu bọ trĩ ngoài đồng của Mound L.A (2007) [71]
2.4 Phương pháp định loại mẫu
2.4.1Phương pháp làm tiêu bản mẫu bọ trĩ
Theo phương pháp của Mound L.A (2007) [71]
Trang 8lượng đốt râu, kiểu râu đầu, các vị trí lông cũng như số lượng lông ở trên đầu, mảnh lưng ngực trước, mảnh lưng giữa, mảnh lưng ngực sau và cánh; quan sát các đốt bụng, đặc biệt đốt bụng thứ VIII, Mound et al, (1997) [70] Với sự giúp đỡ của GS.TS Hà Quang Hùng, TS Hà Thanh Hương và những mẫu không có trong tài liệu trên, chúng tôi gửi sang Úc để GS TS Laurence A Mound (CSIRO, Úc) giám định chính xác tên loài
2.4.3 Phương pháp mô tả bọ trĩ
Mô tả hình thái, đặc điểm phân biệt pha trưởng thành của các loài
bọ trĩ gây hại chủ yếu trên lạc tại địa điểm nghiên cứu dưới kính lúp soi nổi và kính hiển vi huỳnh quang Ảnh minh họa trong báo cáo do GS.TS Hà Quang Hùng, TS Hà Thanh Hương chụp
2.5 Phương pháp tính toán số liệu
Số liệu sẽ được tính toán và xử lý theo chương chình thống kê Excel (X ở độ tin cậy 95%, =
n t
S ) trong đó là sai số ước lượng, S là độ lệch chuẩn, t= 1,96 (giá trị tra bảng Student ở mức ý nghĩa =0,05); n là dung lượng mẫu thí nghiệm) và các chỉ tiêu khác được xử lý theo chương trình IRRISTAT dùng cho khối Trồng trọt
và Bảo vệ Thực vật
Dùng phương pháp thống kê so sánh Duncan giữa các công thức thí nghiệm ở xác suất P 0,05 và P 0,01
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phạm vi ký chủ, tác hại
và triệu trứng của bọ trĩ hại lạc
3.1.1 Thành phần bọ trĩ gây hại lạc tại Nghệ An
Kết quả điều tra trên cây lạc năm 2008 đến năm 2010 tại Nghệ
An đã thu thập và xác định được 9 loài bọ trĩ thuộc 2 họ Phlaeothripidae và Thripidae, và thuộc 2 phân bộ (Terebrantia và Tubulifera) Trong đó, họ Thripidae có 8 loài và chỉ có một loài duy nhất thuộc họ Phlaeothripidae (bảng 3.1)
Trong đó lần đầu tiên phát hiện 2 loài bọ trĩ hại lạc ở Nghệ An -
Việt Nam Đó là loài Megalurothrips sjostedti (Thripidae) và Haplothrips gowdeyi (Phlaeothripidae) Loài F intonsa gây hại hoa
ở mức độ rất phổ biến trên lạc vụ xuân tại Nghệ An
Trang 9Bảng 3.1 Thành phần bọ trĩ hại cây lạc trong năm 2008 - 2010 tại Nghệ An
TT Tên khoa học của loài Mức độ phổ biến Bộ phận bị hại
Terebrantia: Thripidae
Ghi chú: -: Rất ít phổ biến (với tần suất xuất hiện < 5%); +: Ít phổ biến (với tần suất xuất hiện 5 - 25%); ++: Phổ biến (với tần suất xuất hiện 26 - 50%); +++: Rất phổ biến (với tần suất xuất hiện >50%)
3.1.2 Bảng định loại pha trưởng thành cái các loài bọ trĩ hại lạc tại Nghệ An (Chi tiết theo báo cáo chính thức trang 59)
3.2 Đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom
3.2.1 Ký chủ và mức độ gây hại của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom
Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy trên cây lạc bọ trĩ
F intonsa gây hại nặng trong tháng 4 và tháng 5 (trong thời kỳ cuối
vụ xuân và đầu vụ hè) và trong tháng 10 và 11 gây hại trung bình;
còn tháng 3, 6 và 12 trong năm thì mức gây hại của bọ trĩ F intonsa
là không đáng kể Khi không có cây lạc trên ruộng, bọ trĩ F intonsa
chuyển lên gây hại các cây ký chủ khác Tháng 12, 1 và 2 loài bọ trĩ này gây hại trên cây đơn buốt, hoa cúc và hoa hồng, chờ đợi để tấn công lên cây lạc vào vụ xuân tiếp theo
3.2.2 Vòng đời và thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom trong phòng thí nghiệm
Qua bảng 3.7 cho thấy nhiệt độ càng tăng thì vòng đời của bọ trĩ
F intonsa càng ngắn lại Độ ẩm thấp cũng khiến bọ trĩ trải qua các
pha phát dục nhanh hơn
Giai đoạn sống của trưởng thành bọ trĩ kéo dài 9 đến 18 ngày đây
là điều kiện rất thuận lợi để bọ trĩ có thời gian nhân đàn với số lượng lớn (có thể đẻ 12-15 lứa) nếu điệu kiện thuận lợi
Trang 10Thời kỳ tiền nhộng và nhộng giả ngắn 2 - 4 ngày, chúng ta có thể
lợi dụng điều này để hạn cế số lượng bọ trĩ trong đất bằng cách luân
canh hoặc tưới nước trong thời gian ngắn để tiêu diệt giai đoạn
nhộng giả của bọ trĩ
Đối chiếu với vòng đời của các loài bọ trĩ khác như T palmi;
F occidentallis mà các tác giả Mau et al, [68] đã nghiên cứu trước
đó, chúng tôi nhận thấy vòng đời của F intonsa không chênh lệch
quá nhiều so với các loài bọ trĩ khác ở cùng điều kiện nhiệt độ
3.3 Diễn biến mật độ bọ trĩ hại lạc và các yếu tố ảnh hưởng
3.3.1 Ảnh hưởng của giống đến mật độ bọ trĩ F intonsa
Hình 3.9 Diễn biến của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ
F intonsa Trybom trên hoa tại Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2009)
Hình 3.10 Diễn biến của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ
F intonsa Trybom trên lá lạc tại Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2009)
Hình 3.3 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại lạc tại Nghi Lộc -
Nghệ An vụ Xuân 2008
Trang 11Qua điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ trên các giống lạc phổ biến tại Nghệ An chúng tôi nhận thấy mật độ bọ trĩ trên giống lạc L14 có mật độ cao nhất ở cả hoa và lá, tiếp đến là giống lạc L20 và giống lạc TB25
3.3.2 Ảnh hưởng của thời vụ đến mật độ bọ trĩ F intonsa
Bảng 3.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ F intonsa ở 3 khung thời vụ khác
nhau trên giống lạc L14 vụ xuân năm 2009 tại Nghi Lộc - Nghệ An
Đơn vị tính: con/lá
Thời gian gieo
Giai đoạn sinh trưởng
hoa
H thành quả
Chín Trung
bình
Ngày gieo 5/2 (vụ sớm) 0.66a 0.97c 1.08c 1.77b 1.69b 1.23
Ngày gieo 15/2 (chính vụ) 0.68a 1.09b 1.16b 1.83b 1.79b 1.31
Ngày gieo 25/2 (vụ muộn) 0.70a 1.33a 1.56a 2.14a 2.05a 1.56
3.3.3 Ảnh hưởng của chân đất đến mật độ bọ trĩ F intonsa
Qua hình 3.12 cho thấy mật độ bọ trĩ cao ở chân đất cát là 1,69 con/lá, thấp nhất là đất thịt là 1,06 con/lá Sở dĩ có kết quả chân đất cát có mật độ cao hơn đất thịt là do đất cát có thành phần cơ giới nhẹ, thoáng tạo điều kiện thích hợp để sâu non đẫy sức hóa nhộng Độ sâu hóa nhộng càng cao bao nhiêu càng an toàn bấy nhiêu, những cá thể
có độ sâu hóa nhộng từ 3 cm trở lên có thể tránh được thiên địch
Hình 3.12 Diễn biến mật độ bọ trĩ F.intonsa trên ba chân đất
khác nhau theo các giai đoạn sinh trưởng của cây lạc (năm 2008)
Trang 12ẩm >90% (1,07 con/lá) Sở dĩ mật độ trên ruộng có ẩm độ > 90% thấp hơn ruộng có độ ẩm >60% như vậy là do ruộng có độ ẩm đất quá cao làm thay đổi tính hóa nhộng của pha nhộng
3.3.5 Ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến mật độ của bọ trĩ trên ruộng lạc
Mật độ bọ trĩ xuất hiện ở công thức 1, công thức 3 và công thức 4 lần lượt là 1,68 con/lá; 1,60 con/lá và 1,66 con/lá Đặc biệt ở công thức 2 công thức luân canh cây trồng cạn với cây lúa lượng bọ trĩ thấy xuất hiện rất ít chỉ 1,04 con/lá Điều này một lần nữa khẳng định việc luân canh cây trồng cạn với cây lúa nước làm cho mật độ bọ trĩ giảm vì lượng nhộng, sâu non bị tiêu diệt nhiều khi bị ngâm nước
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các công thức luân canh đến diễn biến
mật độ bọ trĩ F.intonsa tại Nghi Lộc - Nghệ An, 2008
CT1: Lạc Xuân-Dưa hấu Hè-Khoai lang Đông; CT 2: Lạc Xuân-Lúa mùa-Ngô Đông;
CT 3: Lạc Xuân - Vừng - Ngô Đông; CT 4: Lạc Xuân - Vừng - Rau Đông