TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NGUYỄN DUY HỒNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ XÍT BẮT MỒI VÀ KHẢ NĂNG LỢI DỤNG HAI LOÀI Coranus fuscipennis Reuter VÀ Coranus spiniscutis Reuter TRONG QU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN DUY HỒNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ XÍT BẮT MỒI
VÀ KHẢ NĂNG LỢI DỤNG HAI LOÀI Coranus fuscipennis Reuter
VÀ Coranus spiniscutis Reuter TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP
SÂU HẠI ĐẬU RAU TẠI VÙNG HÀ NỘI
Chuyên ngành : BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số : 62.62.10.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, 2012
Trang 2Công trình hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Hà Quang Hùng
2 TS Trương Xuân Lam
Phản biện 1: PGS TS Trần Huy Thọ
Hội Bảo vệ thực vật
Phản biện 2: PGS TS Hồ Thị Thu Giang
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Phản biện 3: GS TSKH Trương Quang Học
Trường Đại học Khoa học tự nhiên
Luận án sẽ bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu rau là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình, cung cấp nhiều loại Vitamin giúp nâng cao sức khỏe con người Năm 2009 diện tích trồng rau của cả nước là 735.335 héc ta, năng suất đạt 161,6 tạ/ha và sản lượng là 11,86 triệu tấn/năm,Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) Trong các loại rau có đậu rau đóng vai trò rất quan trọng, đậu rau được gieo trồng phổ biến là đậu đũa, đậu trạch Trên cây đậu rau thường có nhiều loài sâu hại như: sâu đục quả, sâu cuốn lá, sâu khoang, tấn công gây hại trực tiếp làm giảm năng suất, phẩm chất đậu rau Để bảo vệ sản xuất nông dân chủ yếu áp dụng biện pháp hoá học, trong một vụ đậu rau nông dân phun
thuốc từ 8-10 lần, chi phí bảo vệ thực vật tăng 3 lần; nguồn cung cấp thức ăn cho các loài côn trùng bắt mồi ngày càng bị thu hẹp Các loài bọ xít bắt mồi là những loài thiên địch quan trọng, nhưng nghiên cứu thiên địch nói chung, bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ít được quan tâm Để giải quyết vấn đề cấp bách trên, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi và khả lợi
dụng hai loài Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter trong quản lý tổng hợp sâu hại đậu rau tại vùng Hà Nội"
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Xác định thành phần loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau, góp phần bổ sung vào danh mục các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Việt Nam
- Bổ sung những dẫn liệu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái
học, vai trò của hai loài bọ xít bắt mồi (Coranus fuscipennis Reuter và Coranus
thức về chúng một cách hợp lý
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất phương pháp nhân nuôi hai loài bọ xít bắt mồi phổ biến Coranus
chống sâu hại chính trên cây đậu rau ở Hà Nội
Trang 42
- Xác định mối quan hệ giữa các loài bọ xít bắt mồi phổ biến và vật mồi của chúng trên cây đậu rau, giúp người trồng rau nhận biết vai trò của hai loài bọ xít bắt mồi
- Cung cấp tài liệu khoa học cho nông dân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý ở địa phương nhận biết, bảo vệ và lợi dụng các loài bọ xít bắt mồi để phòng chống sâu hại đậu rau trong quá trình sản xuất rau an toàn
3 Mục đích và yêu cầu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở xác định thành phần loài bọ xít bắt mồi (BXBM) thuộc bộ Heteroptera trên cây đậu rau, đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của hai
loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter, đề
xuất khả năng bảo vệ, lợi dụng chúng trong quản lý tổng hợp sâu hại chủ yếu (bộ cánh vảy Lepidoptera) trên đậu rau, góp phần sản xuất đậu rau an toàn và bảo vệ môi trường
- Xác định được thành phần loài của các loài bọ xít bắt mồi (BXBM ) thuộc
bộ Heteroptera trên cây đậu rau tại Hà Nội
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của hai loài BXBM phổ biến Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter và vai
trò của chúng trong việc điều hoà số lượng sâu hại chính thuộc bộ Lepidoptera trên cây đậu rau
- Có kết quả điều tra diễn biến mật độ của Coranus fuscipennis Reuter và
Lepidoptera) trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (thời vụ gieo trồng, số lần phun thuốc và trồng rau trong nhà lưới) tại Hà Nội
- Đề xuất được phương pháp nhân nuôi, bảo vệ, lợi dụng hai loài BXBM
sâu hại chủ yếu trên cây đậu rau
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những loài bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera
- Các loài sâu hại chủ yếu thuộc bộ cánh vẩy Lepidoptera là vật mồi của bọ xít bắt mồi (BXBM)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra, thu thập xác định thành phần loài, mức độ phổ biến, tần suất xuất hiện, vị trí số lượng của các loài bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera trên cây đậu rau
- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, vai trò của hai loài bọ xít
bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter, mối quan hệ
giữa loài BXBM phổ biến với vật mồi của chúng (sâu hại chủ yếu thuộc bộ Lepidoptera) trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
- Đề xuất phương pháp nhân nuôi và lợi dụng hai loài bọ xít bắt mồi phổ biến phòng chống một số loài sâu chính hại đậu rau trong điều kiện thực nghiệm
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về thành phần loài
bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở vùng Hà Nội và ghi nhận mới hai loài cho khu hệ
bọ xít thuộc họ Miridae ở Việt Nam gồm: Campylomma chinensis Schuh và loài
- Cung cấp một số dẫn liệu mới về đặc điểm sinh học, sinh thái học của hai
loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter
thuộc họ Reduviidae
6 Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày trong 125 trang không kể phần tài liệu tham khảo và phụ lục gồm: 3 chương và 2 phần (Mở đầu và Kết luận và đề nghị) với 22 bảng, 23 hình Có 89 tài liệu tham khảo (trong đó 43 tài liệu tiếng Việt, 46 tài liệu tiếng Anh) được sử dụng
Trang 64
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Số lượng cá thể của những loài côn trùng bắt mồi trong tự nhiên là tài nguyên
vô giá, chúng có vai trò hạn chế tối đa số lượng sâu hại Trong những loài thiên địch của sâu hại đậu rau có nhóm bọ xít bắt mồi giữ vai trò quan trọng Sự tăng nhanh về mức độ, phạm vi gây hại gắn liền với việc lạm dụng thuốc hóa học gây
ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng Sử dụng biện pháp sinh học thay thế thuốc hoá học trừ sâu là then chốt, trong đó bảo vệ, duy trì, lợi dụng
và nhân nuôi thả các loài thiên địch ra ngoài đồng ruộng Việt Nam đã có thành công trong nghiên cứu và nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi phòng trừ sâu hại
như: Orius sauteri phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây bông đay Nghiên cứu và lợi dụng Sycanus falleni và Sycanus
đây đậu rau thường xuyên bị sâu hại tấn công gây nên những tổn thất nặng nề cho nông dân Biện pháp phổ biến để trừ sâu hại là sử dụng thuốc hóa học từ 8-10 lần/vụ đậu rau, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng, tiêu diệt côn trùng có ích trên đồng ruộng Biện pháp bảo vệ cây đậu rau nhưng giảm sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật, hiệu quả cao đó là biện pháp sinh học, đặc biệt nghiên cứu bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Hà Nội là rất cần thiết, góp phần duy trì tính đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái, giảm thiểu số lần phun thuốc hóa học góp phần tạo ra sản phẩm đậu rau an toàn
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi (BXBM), điển hình là nghiên cứu của Distant (1904, 1910) đã mô tả và phân loại hình thái 422 loài Price (1975) ở Trung Quốc cho đến năm 1971 đã phát hiện được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm BXBM
Vennison et al., (1990) trong điều kiện nhiệt độ 30 - 35oC, ẩm độ 75 - 85% với vật
Trang 7mồi là loài sâu xanh Helicoverpa armigera, nghiên cứu Coranus spiniscutis Reuter
cho thấy khi 1 con cái được ghép đôi với 3 đến 4 con đực khác tuổi có thời gian đẻ
trứng ngắn hơn so với thời gian đẻ trứng của một con cái được ghép đôi với một
con đực cùng tuổi nhưng thời gian phát dục của trứng và thiếu trùng lại dài ngày
hơn Javadi et al., (2005) với thức ăn là Chilo suppressalis ở điều kiện nhiệt độ
23,18 ± 1oC, ẩm độ 92,57 ± 2% cho biết 1 con cái của loài Andrallus spinidens đẻ
241,66 ± 30,40 quả trứng Rao et al.,(2006) xác định được thời gian phát dục của
trứng A.spinidens là 5,8 ngày; thiếu trùng tuổi 2 đến 5 tương ứng là 3,2, 4,4, 4,2
và 4,6 ngày, vòng đời là 24,2 ngày Singh et al.,(1989), khi nuôi A.spinidens bằng
thức ăn là sâu non loài Rivula sp trên đậu tương, tuổi 2 và 3 ăn trung bình là 1,13
và 1,86 con/ngày, tuổi 4 và 5 là 2,26 và 7,06 con/ngày, 1 cặp trưởng thành trung
bình ăn 11,42 ấu trùng/ngày trong thời gian đẻ trứng Hideo Uematse (2006) nuôi
theo nhóm 10 thiếu trùng BXNVT/hộp nuôi trung bình ăn 4 - 8 sâu non sâu khoang
từ tuổi 3 đến tuổi 5 (tương ứng với trọng lượng thức ăn là 450 - 550 mg/ngày)
Jafar Mohaghegh et al.,(2007) Andrallus spinidens cả thiếu trùng và trưởng thành
đều ăn sâu non của nhiều loài sâu bộ cánh vảy: Naranga aenescens, Helicoverpa
Gupta et al., (2004) trưởng thành và thiếu trùng A.spinidens giơ vòi tiêm enzim vào
cơ thể ấu trùng tuổi 3 loài Z bicolorata thời gian18 - 24 giây làm con mồi tê liệt và
chết từ từ Khoo (1990) sử dụng thành công Sycanus collaris nhân nuôi trong
phòng để phòng chống sâu hại trên rau, đậu tương và ngô: thả từ 70-90 cá thể bọ xít
bắt mồi/500m2 có thể kìm hãm được mật độ của một số loài sâu hại trên rau David
et al., (2006) vai trò đấu tranh sinh học của các loài xít bắt mồi phải kể đến các
loài thuộc giống Coranus và Sycanus trên đậu tương và bông Iman K.,(1986) đã
nhận xét nhiều loại thuốc (Fenvalerate, Permethrin, Cypermethrin, Deltamethrin,
Diethquinalphion, Azinphosmethyl, Methomyl) có độ độc cao đối với thiên địch
đặc biệt là côn trùng ký sinh
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam việc nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi đã được
thực hiện trong nhiều năm qua Tuy nhiên, những nghiên cứu có tính chất hệ
Trang 86 thống về nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ít được quan tâm Ủy ban khoa học Nhà nước (1981) điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam năm 1981 thu thập được 81 loài BXBM thuộc 6 họ trên các cây trồng, trong đó đã xác định được tên 53 loài còn 28 loài chưa xác định được tên Họ Reduviidae có số loài nhiều nhất (71 loài), họ Pentatomidae có 6 loài, họ Pyrhocoridae có 1 loài, họ Miridae có 1 loài, họ Lygaeidae có 1 loài và họ Hydrometridae có 1 loài Theo Phạm Văn Lầm (1997) trong 40 loài côn trùng bắt mồi (thuộc 6 họ) của sâu hại cây lúa ở Hà Nội và vùng phụ cận, nhóm BXBM có 9 loài (chiếm 22,5%) Trong
đó họ Reduviidae có 3 loài, họ Pentatomidae có 2 loài; họ Miridae, họ Nabidae,
họ Pyrrhocoridae và họ Lygaeidae mỗi họ có 1 loài Đặng Đức Khương (2005) xác định có 19 loài bọ xít đỏ (Pyrrhocoridae - Heteroptera) thuộc 10 giống ở nước ta, trong đó bổ sung thêm 7 loài và 3 giống cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam; họ Pyrrhocoridae chỉ có 2 phân họ là Larginae và Pyrrhocoridae.Truong Xuan Lam
et al.,(2006) loài mới Epidatus bachmanensis Truong, Zhao & Cai được mô tả
vẻ ngoài của lưng, đầu và mảnh lưng trước, bộ phận sinh dục đực và những đặc điểm hình thái đặc trưng của những loài mới này được minh hoạ bằng hình ảnh Mai Phú Quý và ctv (2008) cơ sở dữ liệu của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ phụ Asopinae được công bố và ghi nhận ở Việt Nam Đặng Đức Khương và ctv (2008) thành phần loài họ bọ xít bắt mồi của bộ Cánh khác ở vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) có 127 loài bọ xít thuộc 73 giống của 9 họ, trong đó các loài BXBM thuộc họ Reduviidae có 28 loài, 15 giống chiếm 22% tổng số loài bọ xít đã giám định Vũ Quang Côn và ctv (1994) nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi trong điều kiện nhiệt độ từ 26,1 – 29,4oC, ẩm độ từ 72 - 85% cho thấy vòng đời của loài bọ xít này từ 22 – 31 ngày; trưởng thành cái đẻ 1 - 9 ổ trứng, trung bình đẻ được 175,4 quả trứng; mỗi cá thể bọ xít ở các tuổi có thể ăn tới 37,09 con sâu khoang, trung bình ăn hết từ 2 - 3 con sâu/ngày Trương Xuân Lam (2002a) nuôi sinh học
bình của 1 con cái đẻ là 397,58 ± 12,92 quả, số ổ trứng trung bình/con cái là 4,18 ± 0,10 ổ, số trứng trung bình của 1 ổ là 96,91 ± 4,63 quả trứng Ở nhiệt độ
28oC, ẩm độ 73% sức sinh sản của Andrallus spinidens cao nhất, trung bình
Trang 9345,83 quả trứng/cặp Hà Quang Hùng và ctv (2002) Orius sauteri nuôi trên
trứng ngài gạo ở 25oC là 21,1 ngày, khả năng sinh sản 80 quả trứng; trên ký chủ
bọ trĩ vòng đời là 19,9 ngày, khả năng sinh sản 81,5 quả trứng; ở 30o
C khi nuôi trên trứng ngài gạo là 17,4 ngày, khả năng sinh sản 69,25 quả trứng và trên bọ trĩ
vòng đời là 16,6 ngày, khả năng sinh sản 78,87 quả trứng Nguyễn Thị Thanh và
ctv (2011) khi nhiệt độ, ẩm độ tăng lên 31oC, 82%, hoặc giảm xuống 25o
C, 75%
sức sinh sản của Andrallus spinidens giảm (274,00±6,21 và 299,00±6,56 quả
trứng/cặp Yorn Try và Hà Quang Hùng (2003) đã xác định 14 loài thiên địch
của loài bọ trĩ Thrips palmi, trong đó loài Orius sauteri là loài thiên địch có ý
nghĩa trong điều hòa số lượng quần thể bọ trĩ Thrips palmi Hà Thanh Hương và
ctv (2005) khả năng ăn trung bình của một đời bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes
đối với pha trứng của mọt bột đỏ T castaneum ở 30oC (6,86 trứng/ngày, tổng số
trung bình 446,20 trứng/đời) cao hơn so với ở 25oC (5,66 trứng/ngày, tổng số
trung bình 368,2 trứng/đời Dương Minh Tú và ctv (2005) hiệu quả phòng trừ
bằng bọ xít bắt mồi (X flavipes) đạt cao nhất ở công thức thả 30 bọ xít trưởng
thành với mọt gạo là 42,48%, với mọt đục hạt nhỏ là 44,57% tại thời điểm 60
ngày sau khi thả bọ xít Bốn loại thuốc bảo vệ thực vật có ảnh hưởng đến sức
sống và sinh sản Andrallus spinidens Nguyễn Thị Thanh và ctv (2011) Thuốc
Antaphos 25 EC phun 1 lần gây chết 86,24%, thuốc thảo mộc (bột cây hoa cúc)
gây chết 35,46%, thuốc trừ bệnh Xanthomix 20WP gây chết 21,82% và thuốc trừ
cỏ Sunrice 15 WDG gây chết 18,17% số cá thể so với đối chứng
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm và điều tra được tiến hành trên hệ sinh thái trồng đậu
rau tại vùng Hà Nội Các nghiên cứu sinh học, sinh thái của hai loài bọ xít bắt mồi
Trang 108 Phòng Sinh thái côn trùng, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Đại học Nông
nghiệp Hà Nội, Phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật, Viện Khoa học và Công Nghệ Việt Nam
Thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến 2011
2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Một số loài sâu hại và sâu non ngài gạo (trứng ngài gạo được lấy trực tiếp từ
phòng nhân nuôi côn trùng thí nghiệm hàng loạt của Viện Sinh thái và Tài nguyên
Sinh vật) là vật mồi của bọ xít bắt mồi
Một số loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trong sản xuất đậu rau Các
loại hoá chất, chất độc giết và bảo quản côn trùng Các loại vải, giấy, bông Các loại
dụng cụ điều tra và thực nghiệm nuôi bọ xít trong phòng thí nghiệm
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài của các loài bọ xít bắt mồi (BXBM ) thuộc bộ
Heteroptera trên cây đậu rau tại Hà Nội
- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của hai loài BXBM
phổ biến Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter và vai trò
của chúng trong việc điều hoà số lượng sâu hại chính thuộc bộ Lepidoptera trên
cây đậu rau
- Điều tra diễn biến mật độ của Coranus fuscipennis Reuter và Coranus
trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (thời vụ gieo trồng, số
lần phun thuốc và trồng rau trong nhà lưới) tại Hà Nội
- Bước đầu đề xuất phương pháp nhân nuôi, bảo vệ, lợi dụng hai loài BXBM
sâu hại chủ yếu trên cây đậu rau
Trang 112.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng nghiên cứu là những phương pháp thường quy trong việc nghiên cứu côn trùng: điều tra thành phần loài, diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi (BXBM), sâu hại bộ cánh vảy; phương pháp thí nghiệm ảnh hưởng của
thuốc, thực nghiệm sử dụng bọ xít bắt mồi C fuscipennis phòng trừ sâu hại đậu rau
của Ủy ban khoa học Nhà nước (1981), Bùi Tuấn Việt (1993), Viện BVTV (1997, 2000), Hồ Khắc Tín (1992)
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ bắt mồi được tiến hành ở điều kiện phòng thí nghiệm theo phương pháp chung nghiên cứu đặc điểm sinh vật học côn trùng (Pielow, 1977; Phạm Bình Quyền, 1994)
2.4.3 Phương pháp làm mẫu vật, bảo quản và định loại
Mẫu vật trưởng thành bọ xít bắt mồi được làm tiêu bản và bảo quản trong các hộp gỗ kín để ở nơi khô ráo và thoáng mát Thiếu trùng, trứng và xác lột bảo quản trong các ống nghiệm, lọ nút mài hoặc lọ thuỷ tinh cồn 70% Tiến hành định tên dựa theo các tài liệu: China, Miller (1955), Distant (1904, 1910), Murugan (1995);
Li Yongxi et al.,(1988) dưới sự giúp đỡ của GS.TS Hà Quang Hùng, TS Trương Xuân Lam (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật), TS Ishikawa T.(Đại học Nông nghiệp Tokyo, Nhật Bản)
Số liệu được xử lý, phân tích và tính toán trên máy tính theo các phương pháp toán học được ứng dụng trong sinh học của Võ Hưng (1983), Nguyễn Đình Khoa (1975), Pielow (1977), chương trình thống kê sinh học SPSS 9.0 và IRRISTART 4.0 trong Windows 2000
Trang 1210
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên sinh quần đồng ruộng
3.1.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau
Điều tra tại các vùng trồng đậu rau ở Hà Nội trong các năm từ 2009 đến 2011, chúng tôi đã xác định được 29 loài của nhóm bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau tại vùng Hà
(%) Mức độ phổ biến
sâu đo xanh
Trang 13(%) Mức độ phổ biến
Vật mồi
rầy non rầy xanh
cuốn lá, sâu đo xanh
cuốn lá, sâu đo xanh