1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011

258 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 Hà Nội 2 tháng 12 năm 2011
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế & Phát triển doanh nghiệp
Thể loại Hội nghị
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là cuộc điều tra doanh nghiệp được tiến hành định kỳ hàng năm nhằm thu thập ý kiến rộng rãi của các doanh nghiệp trong và ngoài nước về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam cũng

Trang 1

Hội Nghị Nhóm Tư Vấn Các Nhà Tài Trợ 2011

DIỄN ĐÀN 

DOANH NGHIỆP  

VIỆT NAM 

Trang 2

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ

1.1 Báo cáo Điều tra Cảm nhận Môi trường Kinh doanh 2011

1.2 Cảm nhận của Hiệp hội Doanh nghiệp Trong nước & Nước ngoài

Chương II: NGÂN HÀNG

2.1 Báo cáo của Nhóm Công tác Ngân hàng

2.2 Đề xuất Các điểm Trao đổi chính của Nhóm Công tác Ngân hàng cho Cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 12 tháng 10 năm 2011

2.3 Tóm tắt Cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 12 tháng 10 năm 2011

Chương III: THN TRƯỜNG VỐN

3.1 Báo cáo của Nhóm Công tác Thị trường Vốn

3.2 Bình luận về một số vấn đề Thị trường Vốn

Chương IV: SẢN XUẤT VÀ PHÂN PHỐI

4.1 Báo cáo của Nhóm Công tác Sản xuất và Phân phối

4.2 Bình luận Dự thảo Luật Giá

4.3 Tóm tắt Cuộc họp về Luật Giá với Bộ Tài Chính ngày 16 tháng 8 năm 2011

4.4 Bình luận Dự thảo Bộ Luật Lao động (sửa đổi)

4.5 Tóm tắt Cuộc họp về Bộ Luật Lao động (sửa đổi) với Bộ Lao động, Thương Binh

và Xã hội ngày 5 tháng 7 năm 2011

4.6 Bình luận Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định 43 và Nghị định 102

4.7 Tóm tắt Cuộc họp về Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định 43 & Nghị định 102 với Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh, Bộ Kế hoạch & Đầu tư ngày 30 tháng 9 năm 2011 4.8 Báo cáo khác

Chương V: BÁO CÁO CỦA CÁC NHÓM CÔNG TÁC KHÁC

5.1 Thuế

5.1.1 Báo cáo của Tiểu nhóm Thuế

5.1.2 Tóm tắt Cuộc họp về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2008 & Nghị định 124/2008 với Bộ Tài chính và Tổng Cục Thuế ngày 15 tháng 11 năm 2011

5.2 Đất đai & Bất động sản: Báo cáo của Tiểu Nhóm Đất đai & Bất động sản

Trang 3

Thời gian: 7:30 - 13:30/Thứ Sáu, 2/12/2011 Địa điểm: Khách sạn Sheraton, 11 Xuân Diệu, Hà Nội

CHƯƠNG TRÌNH NGHN SỰ

7:30 – 8:00 Đăng ký Đại biểu

8:00 – 8:30 Giới thiệu

Phát biểu Khai mạc

 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) Bùi Quang Vinh

 Giám đốc Quốc gia, Ngân hàng Thế giới (WB), Bà Victoria Kwakwa

 Giám đốc Khu vực, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Ông Simon Andrews

Phần 1: Tổng quan về Môi trường Đầu tư

8:30 – 9:15  Cảm nhận về Môi trường Đầu tư, Kinh doanh của các Hiệp hội Doanh nghiệp trong

và ngoài nước

1 VCCI

2 Phòng Thương mại Châu Âu

3 Phòng Thương mại Hoa kỳ

4 VASEP

5 Phòng Thương mại Úc

 Tóm tắt Báo cáo Rà sát 16 Luật trong lĩnh vực Kinh doanh – VCCI

9:15 – 9:35  Báo cáo Tóm tắt về Tình hình Kinh tế xã hội Việt Nam năm 2011 và Định hướng

Phát triển năm 2012 – Bộ Kế hoạch Đầu tư

Phần 2: Các Chủ đề Đối thoại với Chính phủ

9:35 – 10:00 1 Ngân hàng – Cải cách hướng tới xây dựng ngành ngân hàng hiệu quả và cạnh

tranh

10:00 – 10:15 Nghỉ giải lao

10:15 – 10:35 2 Thị trường Vốn - Phát triển thị trường vốn phục vụ tăng trưởng và cạnh tranh

10:35– 11:00 3 Sản xuất và Phân phối – Đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sản xuất giá trị

gia tăng cao

Trang 4

TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ

Trang 5

hành vào tháng 9 và 10 của năm 20111 Đây là cuộc điều tra doanh nghiệp được tiến hành định kỳ hàng năm nhằm thu thập ý kiến rộng rãi của các doanh nghiệp trong và ngoài nước

về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam cũng như những khó khăn và thách thức các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải và những cơ hội mà họ cảm nhận thấy

Năm 2011 rõ ràng là một năm mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Điều này thể hiện qua chỉ số cảm nhận của các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh giảm xuống thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại nay, bằng một nửa so với một năm trước đó Điều đáng khích lệ là đa phần các doanh nghiệp vẫn lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn Dù có sự sút giảm gần 10 điểm % nhưng vẫn có đến gần 69% doanh nghiệp cho biết sẽ mở rộng kinh doanh trong ba năm tới vì những tiềm năng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam Trong các lĩnh vực của môi trường kinh doanh, tiếp cận thông tin và thuế được đánh giá đã có những chuyển biến tích cực, các lĩnh vực ít có chuyển biến nhất vẫn là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chống hàng giả, hàng nhái, tiếp cận ngoại tệ và tiếp cận đất đai, giống như nhiều năm trước Đáng chú ý, sau nhiều năm được đánh giá cao, quản lý kinh tế vĩ

mô lần đầu tiên được xếp vào nhóm 3 lĩnh vực đáng lo ngại nhất của môi trường kinh doanh năm nay Điều đặc biệt là dù chịu những tác động trực tiếp rất khó khăn, đa số các doanh nghiệp qua điều tra vẫn cho rằng Chính phủ thời gian tới nên kiên trì thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Tiếp tục đNy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm rào cản gia nhập thị trường bên cạnh cải thiện hệ thống hạ tầng vận tải, năng lượng… là những khuyến nghị hàng đầu mà các doanh nghiệp đưa ra

Có 240 doanh nghiệp tham gia điều tra năm 2011 Trong tổng số doanh nghiệp trả lời điều tra, có gần 80% là doanh nghiệp trong nước và 20% là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hơn 27% doanh nghiệp tham gia điều tra được thành lập trước năm 2000, thời điểm Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực và gần 38% doanh nghiệp thành lập trong giai đoạn từ năm

2000 đến 2005 Giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp thống nhất và Luật Đầu tư có hiệu lực (năm 2006) đến nay có hơn 35% doanh nghiệp, trong đó 8 doanh nghiệp thành lập ngay trong năm 2011

Trong điều tra năm nay, tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ (như công nghệ thông tin, tài chính, bảo hiểm, giáo dục, luật…) là hơn 31%, sản xuất gần 28%, thương mại

(gồm cả văn phòng đại diện, chi nhánh…) gần 25% và các ngành khác hơn 16% (xem hình 1,

2 và 3 dưới đây)

Trang 6

1.1.1 Cảm nhận về môi trường kinh doanh hiện tại

Mức điểm bình quân mà các doanh nghiệp đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt N am trong năm tiến hành cuộc điều tra, năm 2011 là 2,04 điểm/4, thấp hơn nhiều so với 2,52 điểm của điều tra năm 2010 và gần với mức 1,9 điểm của năm 2008 là năm khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra Điều này cho thấy môi trường kinh doanh trong năm qua có rất nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Kết quả là chỉ có gần 26% số doanh nghiệp trả lời đánh giá môi trường kinh doanh của Việt N am trong năm 2011 là “Tốt” và “Rất Tốt”, bằng một nửa so với tỷ lệ 51,36% của điều tra năm 2010 Trong khi đó có sự gia tăng đáng kể về số lượng các doanh nghiệp thiếu lạc quan về tình hình kinh doanh của năm 2011 này Cụ thể là năm 2010 chỉ có 4,9% các doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh là ở mức “Kém”, trong khi năm 2011 tỷ lệ này lên tới 23.71%

Trong nước 80.09%

Trước năm 2000 27.19%

Từ 2000 đến 2005 37.79%

Sản xuất 27.54%

Thương mại (gồm

cả VPĐD, chi nhánh) 24.92%

Các ngành khác 16.07%

Hình 3: Lĩnh vực kinh doanh chính

Trang 7

với mức 2,88 điểm của điều tra năm 2010 (xem hình 4 và bảng 1)

Bảng 1: Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm

(Điều tra năm 2011)

Toàn bộ doanh nghiệp 2,32 2,04 2,45 2,88

Nước ngoài 2,27 1,88 2,03 2,47

1.2 Cảm nhận về từng lĩnh vực của môi trường kinh doanh

Cũng với mức thang 4 điểm từ Rất tốt đến Rất kém, các doanh nghiệp được đề nghị đánh giá

đối với 14 lĩnh vực cụ thể của môi trường kinh doanh Việt N am

Trong tất cả các lĩnh vực, với mức tối đa là 4 điểm, không có lĩnh vực nào đạt mức 3 điểm

Các lĩnh vực được đánh giá nhóm khá lần lượt là Tiếp cận thông tin, văn bản pháp luật của

N hà nước liên quan đến công việc kinh doanh (2,7 điểm), Hệ thống thuế và quản lý thuế

(2,46 điểm), Khả năng cạnh tranh trong khu vực (2,43 điểm), Chi phí kinh doanh (2,42 điểm)

và môi trường pháp lý (2,41 điểm)

N ăm nhóm vấn đề ít được cải thiện nhất trong năm 2011 theo đánh giá của doanh nghiệp lần

Hình 4: Đánh giá môi trường kinh doanh theo năm

Toàn bộ doanh nghiệp Trong nước N ước ngoài

Trang 8

mức bình quân của các doanh nghiệp trong nước trong cả 14 lĩnh vực là 2,34 điểm so với 2,2 điểm của khu vực doanh nghiệp nước ngoài

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì 2 lĩnh vực bị đánh giá thấp nhất, dưới

2 điểm (mức độ Kém và Rất Kém), lần lượt là Quản lý kinh tế vĩ mô (1,9 điểm) và Khả năng tiếp cận ngoại tệ (1,93 điểm) Điều này có thể có phần nguyên nhân là tỷ lệ lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia các hoạt động xuất và nhập khNu, chịu ảnh hưởng lớn bởi sự biến động của tỷ giá và thiếu thanh khoản của ngoại tệ Ba lĩnh vực khác cũng bị các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá thấp đó là việc Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng nhái, Cơ sở hạ tầng và Hiệu quả của dịch vụ hành chính

Còn với các doanh nghiệp trong nước thì nhóm các lĩnh vực kém hài lòng nhất là Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng nhái, N guồn cung lao động có tay nghề và Tiếp

cận đất đai (xem hình 5)

2.70 2.46 2.43 2.42 2.41 2.39 2.31 2.31 2.30 2.29 2.27 2.23 2.21 2.09

Tiếp cận thông tin, văn bản luật pháp, kế hoạch của N hà nước

liên quan đến công việc kinh doanh

Hệ thống thuế và quản lý thuế Khả năng cạnh tranh trong khu vực

Chi phí kinh doanh Môi trường pháp lý

N guồn cung lao động có tay nghề chuyên môn cao

Hiệu quả dịch vụ hành chính

Tiếp cận vốn Giải quyết tranh chấp và việc thực thi phán quyết của tòa án

trọng tài kinh tế tại Việt N am

Cơ sở hạ tầng Tiếp cận đất đai Quản lý kinh tế vĩ mô (kiềm chế lạm phát, điều hành tỷ

giá…) Khả năng tiếp cận ngoại tệ Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng nhái

Hình 5: Đánh giá các lĩnh vực trong môi trường kinh doanh

Trang 9

các lĩnh vực là gần 39% so với gần 22% của các doanh nghiệp nước ngoài, tỷ lệ tương tự kết quả điều tra của hai năm 2010 và 2009 trước đó

Cũng giống như năm trước, lĩnh vực mà các doanh nghiệp quan sát rõ nhất về sự thay đổi tiếp tục là quá trình “Cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính của N hà nước” khi có đến hơn 61% doanh nghiệp đánh giá điều tra có sự cải thiện (dù thấp hơn một chút so với tỷ lệ 65,20% của điều tra năm 2010) Các doanh nghiệp trong nước cảm nhận rõ nhất khi tỷ lệ của khu vực này lên đến hơn 68% so với hơn 30% của nhóm các doanh nghiệp nước ngoài Điều này cho thấy kỳ vọng của khối các doanh nghiệp nước ngoài đối với cải cách hành chính rất lớn và những cảm nhận từ thực tế chưa đáp ứng được kỳ vọng của họ

Hạ tầng và viễn thông là hai lĩnh vực mà các doanh nghiệp cũng đánh giá là có mức độ cải thiện lớn Xấp xỉ một nửa số doanh nghiệp trả lời điều tra đánh giá năm vừa qua có sự cải thiện hạ tầng vận tải (hệ thống cầu, đường bộ, cảng biển, sân bay…), và hệ thống thông tin, viễn thông

N gược lại, giống như kết quả điều tra năm 2010 đất đai và thuế là hai lĩnh vực mà các doanh nghiệp điều tra năm nay đánh giá ít có sự chuyển biến nhất Chỉ có 17,09% doanh nghiệp qua điều tra đánh giá năm vừa qua “Quy định và thủ tục về đất đai thông thoáng hơn, tiếp cận đất đai dễ dàng hơn”, 20,94% doanh nghiệp đánh giá “Thời gian chuNn bị, thương lượng và trả các loại thuế ngắn hơn”

Khu vực trong nước và nước ngoài có những đánh giá khác nhau về mức độ cải thiện của môi trường kinh doanh N hìn chung, các doanh nghiệp trong nước đều có xu hướng lạc quan hơn khi đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt N am hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài, trên hầu hết các lĩnh vực, 12 trên 14 lĩnh vực

Đáng chú ý có một số lĩnh vực mà các doanh nghiệp trong nước lạc quan hơn hẳn các doanh nghiệp nước ngoài trong năm vừa qua Trước tiên là cải thiện hạ tầng vận tải (hệ thống cấu, đường bộ, cảng biển, sân bay…), có đến 57,07% doanh nghiệp trong nước hài lòng trong khi

tỷ lệ này chỉ là 13,95% đối với các doanh nghiệp nước ngoài Tương tự như kết quả điều tra năm 2010, mức độ ghi nhận về nỗ lực cải cách hành chính của các doanh nghiệp nước ngoài thấp hơn so với các doanh nghiệp trong nước, chỉ có hơn 30% số doanh nghiệp nước ngoài qua khảo sát cho rằng có sự cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính, chưa bằng một nửa

so với các doanh nghiệp trong nước Hai lĩnh vực khác có sự khác biệt lớn đáng chú ý trong cảm nhận của các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài là gia nhập thị trường và lao động Hơn một nửa số doanh nghiệp trong nước (50,87%) qua điều tra đánh giá

về việc có giảm rào cản khi gia nhập thị trường trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp nước ngoài chỉ là 28% Gần 29% doanh nghiệp cho rằng việc thuê và sa thải lao động dễ dàng hơn

Trang 10

3.Kế hoạch kinh doanh thời gian tới

Trả lời điều tra năm nay có gần 69% doanh nghiệp cho biết sẽ mở rộng kinh doanh trong ba năm tới, đây vẫn là một tỷ lệ khá lạc quan dù mức độ lạc quan có sút giảm so với tỷ lệ 76% của điều tra một năm trước đó Tỷ lệ lạc quan này khá tương đương giữa khối các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong năm nay

Có 2,31% doanh nghiệp cho biết sẽ giảm quy mô kinh doanh và một doanh nghiệp trong diện điều tra cho biết có kế hoạch đóng cửa doanh nghiệp Tất cả số doanh nghiệp này đều là các doanh nghiệp trong nước 3/5 doanh nghiệp cho biết sẽ giảm quy mô kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, 2/5 doanh nghiệp còn lại hoạt động trong lĩnh vực sản xuất

Tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính

Cải thiện hạ tầng vận tải (hệ thống cầu, đường bộ, cảng

biển, sân bay v v) Cải thiện hệ thống thông tin, viễn thông và năng lượng

Đối xử bình đẳng hơn giữa DN trong nước và DN có vốn

nước ngoài Giảm rào cản gia nhập thị trường

Xây dựng mới và cải cách thể chế, luật lệ theo hướng

thuận lợi hơn cho DN Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn

N âng cao tính minh bạch và dễ dàng tiếp cận các văn bản

luật, kế hoạch, số liệu thống kê

Tăng cường tuân thủ các quy tắc và thông lệ kinh doanh

quốc tế Thủ tục xin giấy phép xây dựng dễ dàng hơn

Thực thi pháp luật tốt hơn

Quy định và thủ tục về đất đai thông thoáng hơn, tiếp cận

đất đai dễ dàng hơn hơn

N ăm 2011 N ăm 2010 N ăm 2009

Trang 11

Lý do chính khiến các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh chủ yếu là Tăng trưởng của thị trường trong nước và khu vực (64,43%), Triển vọng kinh tế của Việt N am thuận lợi (61,07%), Mở cửa thị trường và cải cách do Việt N am hội nhập quốc tế sâu rộng hơn

Mở rộng kinh doanh 68.98%

Triển vọng kinh tế của Việt N am thuận lợi

Mở cửa thị trường và cải cách do Việt nam gia

nhập WTO Tăng cơ hội xuất khNu ra nước ngoài

Cải thiện cơ sở hạ tầng Sẵn có lao động có tay nghề với chi phí cạnh tranh

Cải thiện môi trường pháp lý

Cải thiện việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tăng

cường chống hàng giả hàng nhái

Ưu đãi về thuế

Hình 8: Lý do doanh nghiệp mở rộng kinh doanh

N ước ngoài Trong nước Chung

Trang 12

Cũng giống như điều tra năm trước đó, các doanh nghiệp nước ngoài dường như có yêu cầu cao hơn doanh nghiệp trong nước về nguồn nhân lực và mức độ cải thiện hạ tầng N hững lý

do khiến các doanh nghiệp nước ngoài lạc quan trong thời gian tới chủ yếu tập trung vào nhóm Tăng trưởng của thị trường trong nước và khu vực, Triển vọng kinh tế Việt N am thuận lợi và Mở cửa thị trường …

Còn lý do chính được nêu ra khiến hơn 30% số doanh nghiệp điều tra dự kiến chỉ duy trì hoặc giảm quy mô kinh doanh hay đóng cửa là các vấn đề như Triển vọng kinh tế Việt N am

và thế giới không thuận lợi, Chi phí kinh doanh cao, Thực thi luật pháp kém, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, Tệ quan liêu và tham nhũng gia tăng

4.Khuyến nghị đối với Chính phủ

Cũng như mọi năm, thông qua bảng phiếu hỏi điều tra, Diễn đàn doanh nghiệp Việt N am đề nghị các doanh nghiệp chọn ra những giải pháp quan trọng nhất để khuyến nghị Chính phủ cần thực hiện ngay để cải thiện môi trường kinh doanh N ăm giải pháp hàng đầu mà các doanh nghiệp qua điều ra đề nghị thực hiện lần lượt (theo thứ tự ưu tiên) là:

1 Tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính

2 Cải thiện hệ thống thông tin, viễn thông và năng lượng

3 Cải thiện hạ tầng vận tải (hệ thống cầu, đường bộ, cảng biển, sân bay…)

4 Giảm rào cản gia nhập thị trường

5 Đối xử bình đẳng hơn nữa giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Cả hai nhóm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đặt khuyến nghị Chính phủ tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính lên hàng đầu cho thấy các doanh nghiệp đang kỳ vọng nhiều vào nỗ lực cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, 4/5 khuyến nghị hàng đầu với Chính phủ đều liên quan đến việc cải thiện chất lượng điều hành như đối xử bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, N âng cao tính minh bạch và dễ dàng tiếp cận các văn bản luật, kế hoạch, số liệu thống kê, Tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính, Thời gian chuNn bị, thương lượng và trả các loại thuế ngắn hơn

Bảng 2: 5 khuyến nghị hàng đầu đối với Chính phủ để cải thiện môi trường kinh doanh

(theo thứ tự ưu tiên từ 1 đến 5)

Doanh nghiệp nước ngoài Doanh nghiệp trong nước

Trang 13

ngoài

5.Giải pháp thắt chặt tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô

Từ đầu năm 2011 đến nay, tình hình kinh tế cả trong và ngoài nước đang đặc biệt khó khăn Chính phủ đã và đang thực hiện những giải pháp vượt qua khó khăn này như ban hành và thực hiện N ghị quyết 11 ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội N hững hiệu quả bước đầu từ biện pháp quyết liệt của Chính phủ đã được ghi nhận, hiện nay đang có những thảo luận về việc Chính phủ nên giải quyết như thế nào giữa yêu cầu thắt chặt tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và yêu cầu phát triển kinh tế cũng như giải quyết những khó khăn rất cấp bách của doanh nghiệp

Trong cuộc điều tra năm nay, Ban Thư ký Diễn đàn doanh nghiệp Việt N am lấy ý kiến doanh nghiệp về việc “Chính phủ có nên kiên trì thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ theo tinh thần N ghị quyết 11 ngày 24/2/2011 của Chính phủ cho tới khi kinh tế vĩ mô bình ổn hay không?” Gần một nửa trang phiếu điều tra được để sẵn để các doanh nghiệp bày tỏ về lập luận cụ thể cho nhận định của mình

N hìn chung, đối với phần đông các doanh nghiệp, việc kiên định thực hiện N ghị quyết này,

dù có khắc khổ và khó khăn nhưng đúng đắn và cần thiết để bảo đảm sự sống còn của nền kinh tế Đồng tình với quan điểm của Chính phủ là ưu tiên hàng đầu, mục tiêu quan trọng nhất hiện nay của Việt N am là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế mô và tiến tới tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Mặc dù các doanh nghiệp là đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng nhưng qua điều tra của Diễn đàn doanh nghiệp Việt N am, gần 49% số doanh nghiệp tham gia điều tra trực tiếp bày tỏ ý kiến rằng Chính phủ nên kiên trì thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ để hướng tới mục tiêu bình ổn kinh tế vĩ mô Tỷ lệ doanh nghiệp có quan điểm trái ngược chỉ chiếm gần 20%

Có nhóm hơn 31% doanh nghiệp không bày tỏ ý kiến

N ên 48.86%

Không có ý kiến 31.51%

Hình 9: Chính phủ có nên kiên trì thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ theo tinh thần NQ 11 cho tới khi

kinh tế vĩ mô bình ổn hay không?

Trang 14

Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp, tình trạng lạm phát vẫn chưa thật sự được khống chế

về cơ bản nên việc thắt chặt tiền tệ trong giai đoạn hiện nay vẫn cần thiết Lạm phát vài tháng gần đây đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, có nguy cơ bùng phát trở lại, đặc biệt các tháng cuối

năm

Một trong những lý do cơ bản mà doanh nghiệp đưa ra khi ủng hộ là có tiếp tục thực hiện nghị quyết 11 thì mới ổn định được kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát Trong mỗi giai đoạn nên lựa chọn chính sách trọng tâm, cần phải đảm bảo thực hiện được và trong bối cảnh hiện tại, không giải pháp nào cấp bách và quan trọng hơn là cần phải giải quyết được vấn đề lạm phát nghiêm trọng hiện nay N hiều doanh nghiệp cho rằng Chính phủ cần tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và chỉ có thể nới lỏng khi lạm phát đã được kiểm soát một cách hiệu quả

Có doanh nghiệp thẳng thắn đánh giá rằng trong bối cảnh hiện tại, nếu nới lỏng tiền tệ sẽ làm nền kinh tế bất ổn hơn Giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô cần phải là ưu tiên hàng đầu vì có ổn định kinh tế vĩ mô thì xã hội nói chung mới ổn định Với những “căn bệnh” khá nghiêm trọng của nền kinh tế, đây là việc đáng ra nên làm được từ năm 2008, trước sau gì cũng phải

có những giải pháp quyết liệt, vấn đề là bỏ công sức ra bây giờ hay là sau này mà thôi

Có ý kiến doanh nghiệp cho rằng trên khía cạnh tái cơ cấu thì thắt chặt tiền tệ tuy là giải pháp bắt buộc tuy đớn đau nhưng qua đây cũng giúp thanh lọc các doanh nghiệp kém năng lực cạnh tranh Loại bỏ những những doanh nghiệp “cơ hội”, không chuyên nghiệp, đầu cơ trục lợi, “sinh ra ăn nhờ cơ chế”… Đây cũng là bước đi cần thiết trong bối cảnh dư nợ tín dụng trong khu vực tư của Việt N am thời gian qua đã tăng quá nhanh, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP, tỷ lệ nợ xấu tăng lên đáng lo ngại… Đây cũng là những rủi ro tiềm tàng đối với hệ thống tài chính và nền kinh tế

N hiều doanh nghiệp nhấn mạnh rằng, chính sách thắt chặt tiền tệ là bước đi đúng hướng, nhưng không nên thực hiện riêng biệt, phải đồng hành cùng những giải pháp thắt chặt tài khóa, cắt giảm chi tiêu công, tăng cường hiệu quả đầu tư công, tái cấu trúc nền kinh tế…

5.2 Tuy vậy, một số doanh nghiệp nhìn nhận có những tác động rất tiêu cực từ việc thực hiện các giải pháp thắt chặt tiền tệ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Việc thắt chặt tiền tệ sẽ trực tiếp tác động đến việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việc ấn định hạn mức tín dụng cho các ngân hàng nên các doanh nghiệp tiếp cận vốn vay rất khó khăn, lãi suất cao quá sức chịu đựng, qua đó chi phí sử dụng vốn, chi phí kinh doanh bị được đNy lên quá cao Rất nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ đóng cửa, một số doanh nghiệp

cố gắng để duy trì chờ thời cơ, hoạt động cầm cự, vay vốn ngoài thị trường chính thức, tuy vậy những doanh nghiệp này cũng khó tồn tại theo cách này lâu được N guy cơ doanh nghiệp

Trang 15

Không ít doanh nghiệp nhận định rằng năm nay tình hình kinh tế rất “nhạy cảm”, môi trường kinh doanh đặc biệt khó khăn với hàng loạt những yếu tố bất lợi cho doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh như: nền kinh tế thế giới và trong nước có những biến động bất thường, lạm phát tăng cao đáng lo ngại, các chi phí đầu vào liên tục tăng, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, tỷ giá biến động mạnh, giá vàng tăng cao, dự trữ ngoại hối giảm… N goài ra hàng loạt những yếu tố “cũ” khác mà doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt như tiếp cận đất đai khó khăn, hạ tầng yếu kém và chưa đồng bộ, nguồn lao động đang thiếu trầm trọng, nhất

là lao động có tay nghề và chuyên môn cao, các thủ tục hành chính khó khăn, chồng chéo, tình trạng tham nhũng và nhũng nhiễu chưa được cải thiện có hiệu quả…

Một số doanh nghiệp đánh giá chính sách thắt chặt tiền tệ chỉ là một trong những biện pháp cho tình hình khó khăn hiện nay Quan trọng hơn, theo đánh giá của doanh nghiệp là Chính phủ cần tập trung vào chính sách tài khóa, chi tiêu công và nỗ lực để hạn chế tình trạng các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả Đầu tư công ở Việt N am dù chiếm tỷ lệ rất cao so với GDP nhưng chưa thật sự hiệu quả, cơ chế phân bổ nguồn lực còn quá nhiều bất cập Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lạm phát cao ngày nay Một số doanh nghiệp tư nhân đánh giá dù đã được cải thiện rất nhiều nhưng N hà nước vẫn quá chú tâm và dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn, các tổng công ty của N hà nước Một số doanh nghiệp thẳng thắn cho rằng nền kinh tế yếu kém một phần là thời gian qua đã tập trung quá lớn nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước và không kiểm soát quá trình đầu tư của khối doanh nghiệp này một cách hiệu quả Trong khi đó đa số các doanh nghiệp tư nhân vừa, nhỏ và siêu nhỏ, lực lượng sản xuất chính và nguồn tạo việc làm chính thì chưa được tạo điều kiện tương xứng

N hiều doanh nghiệp đánh giá, các doanh nghiệp từ tư nhân trong nước đến các doanh nghiệp nước ngoài đang rất khó khăn để có được kế hoạch kinh doanh và đầu tư dài hạn vì tính không ổn định của kinh tế vĩ mô, mức độ minh bạch thấp của môi trường kinh doanh và rủi

ro cao đang tăng cao của nhiều yếu tố khác… Việt N am phải rất cNn trọng để hạn chế tình trạng các doanh nghiệp cùng lúc phải đối mặt với khó khăn kép: vừa gặp khó khăn từ sự bất

ổn của nền kinh tế và vừa đối mặt với sự yếu kém từ quản lý và điều hành của các cơ quan quản lý N hà nước

N hiều doanh nghiệp cũng nhấn mạnh rằng với bối cảnh hiện tại, doanh nghiệp muốn tồn tại được phải dựa vào chính năng lực nội tại chính mình Mặc dù đã, đang và sẽ có rất nhiều khó khăn và thử thách đặt ra cho nền kinh tế thế giới nói chung và Việt N am nói riêng nhưng với dân số đông và trẻ, thị trường sôi động và cam kết của Chính phủ, nhiều doanh nghiệp tin rằng nền kinh tế Việt N am sẽ tăng trưởng liên tục Với tiền đề này, nhiều doanh nghiệp bày

tỏ cam kết sẽ mở rộng kinh doanh ở Việt N am trong tương lai

Trang 16

nước ngoài

1

Tiếp cận thông tin, văn bản luật pháp, kế hoạch

của N hà nước liên quan đến công việc kinh

doanh

2,70 2,77 2,44

2 Hệ thống thuế và quản lý thuế 2,46 2,49 2,38

3 Khả năng cạnh tranh trong khu vực 2,43 2,39 2,50

12 Quản lý kinh tế vĩ mô (kiềm chế lạm phát, điều hành tỷ giá…) 2,23 2,30 1,90

13 Khả năng tiếp cận ngoại tệ 2,21 2,29 1,93

14 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng nhái 2,09 2,10 2,05

Trang 17

1 Tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính 61,11% 68,21% 30,23%

2 Cải thiện hệ thống thông tin, viễn thông và năng lượng 54,27% 61,85% 27,91%

3 Cải thiện hạ tầng vận tải (hệ thống cầu, đường bộ, cảng biển, sân bay v,,v) 47,86% 56,07% 13,95%

4 Giảm rào cản gia nhập thị trường 45,73% 50,87% 27,91%

5 Đối xử bình đẳng hơn giữa DN trong nước và DN có vốn nước ngoài 44,02% 44,51% 37,21%

6

N âng cao tính minh bạch và dễ dàng tiếp

cận các văn bản luật, kế hoạch, số liệu

7 Xây dựng mới và cải cách thể chế, luật lệ theo hướng thuận lợi hơn cho DN 38,03% 42,77% 18,60%

8 Thủ tục xin giấy phép xây dựng dễ dàng hơn 28,63% 32,37% 11,63%

9 Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn 28,21% 32,37% 11,63%

10 Thuê và sa thải lao động dễ dàng hơn 24,79% 29,48% 6,98%

11 Tăng cường tuân thủ các quy tắc và thông lệ kinh doanh quốc tế 23,93% 21,39% 27,91%

12 Thực thi pháp luật tốt hơn 21,79% 23,70% 16,28%

13 Thời gian chuNn bị, thương lượng và trả các loại thuế ngắn hơn 20,94% 17,92% 30,23%

14 Quy định và thủ tục về đất đai thông thoáng hơn, tiếp cận đất đai dễ dàng hơn 17,09% 20,23% 6,98%

15 Ý kiến khác (đề nghị ghi rõ) 1,28% 1,16% 2,33%

Trang 18

QUAN ĐIỂM CỦA HIỆP HỘI CÁC DOANH NGHIỆP CHÂU ÂU

TẠI VIỆT NAM Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam

Hà Nội, 2/12/2011

Người trình bày Alain Cany Chủ tịch

Kính thưa các Bộ trưởng, các Đại sứ, các vị khách quý Thưa các quý ông và quý bà Đại diện Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam và các đối tác của các Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu, tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan có mặt ngày hôm nay tại đây để tiếp tục cuộc đối thoại mang tính xây dựng với khu vực tư nhân thông qua Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam

I Tổng quan

Trong khi các doanh nghiệp châu Âu kiên nhẫn và vẫn hy vọng rằng môi trường kinh doanh tại Việt Nam sẽ được cải thiện thì lòng tin của họ đã có chiều hướng giảm từ đầu năm 2011 theo kết quả trong cuộc điều tra về chỉ số môi trường kinh doanh hàng quý (BCI) của EuroCham tại Việt Nam Trong năm vừa qua, chỉ số BCI đã giảm từ 78 xuống còn 52 điểm thể hiện sự sụt giảm lòng tin vào Việt Nam là một điểm đến đầu tư Cùng với sự sụt giảm 28% FDI trong 9 tháng đầu năm 2011 và tỉ lệ lạm phát gần 20%, công bằng mà nói các doanh nghiệp châu Âu đang quan ngại về môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam Đồng thời, Việt Nam đã tụt 8 bậc trong báo cáo “Môi trường kinh doanh 2012” của Ngân hàng Thế giới, xếp vị trí thứ 98 trong tổng số 183 nước Theo báo cáo “Môi trường kinh doanh 2012”, xếp hạng của môi trường kinh doanh Việt Nam bị giảm trong năm nay do Việt Nam đã thất bại trong việc cải thiện hệ thống điện Bản báo cáo này cũng đề cập đến tốc độ chậm của cải cách hành chính tại Việt Nam Xét về tổng thể, Việt Nam mới chỉ cải thiện ba trong số 10 lĩnh vực được đánh giá bao gồm cấp phép xây dựng, bảo vệ nhà đầu tư và thực thi hợp đồng Những lĩnh vực đang kém đi là khởi sự doanh nghiệp (giấy phép), đăng ký tài sản, trả thuế và thu giữ tín dụng

Vậy đâu là lý do cho việc sụt giảm lòng tin này trong năm vừa qua? EuroCham tin rằng đây

là một sự kết hợp của tiến trình thay đổi chậm chạp trong nhiều vấn đề được đề cập trong cuốn sách trắng năm ngoái kết hợp với một số vấn đề mới làm suy giảm lòng tin vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam Tỉ lệ lạm phát cao kèm theo sự khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, thiếu đồng bộ trong cơ sở hạ tầng và các gánh nặng về thủ tục hành chính vẫn tiếp

Trang 19

tầng và đảm bảo nguồn cung năng lượng đáng tin cậy Thứ năm, Chính phủ nên tiếp tục nâng cao chất lượng của lực lượng lao động Việt N am thông qua việc khuyến khích giáo dục cấp cao hơn và đào tạo nghề Thứ sáu, việc giải quyết nạn tham nhũng, thói quan liêu, tiếp tục giảm và đơn giản các gánh nặng hành chính tại tất cả các cấp nên được quan tâm cao trong các chương trình nghị sự của Chính phủ Điều này đặc biệt đúng trong việc kiểm soát giá có thể xảy ra từ dự thảo Luật giá mới và có tác động tiêu cực đến các công ty thành viên của EuroCham

II Cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô

Kiểm soát lạm phát là trọng tâm đúng đắn trong chính sách của Chính phủ từ đầu tháng 3 với việc đưa ra N ghị quyết 11 Chính phủ cũng thể hiện vai trò lãnh đạo rõ ràng trong việc theo đuổi đường lối này thông qua việc triển khai một số các biện pháp khó khăn: mức lãi suất cao; hạn chế tăng trưởng tín dụng; ấn định trần lãi suất huy động; khuyến khích sử dụng tiền đồng thay vì đô la Mỹ và vàng Trên đây chỉ là một số biện pháp đã được ban hành Chúng tôi ủng hộ chiến lược mà Chính phủ đang theo đuổi, và ủng hộ việc duy trì chiến lược này đủ lâu để bảo đảm rằng việc ổn định cả giá cả và tiền đồng được tái thiết lập Với đồng tiền và giá cả ổn định, Việt N am sẽ có một nền tảng vững chắc để có thể đạt tăng trưởng cao

và vững chắc trong tương lai Đứng trước bối cảnh nền kinh tế vĩ mô đầy thách thức của năm 2011, ngành ngân hàng và tài chính đã phải chịu nhiều biện pháp chính sách mạnh mẽ gây ảnh hưởng bất lợi tới các hoạt động của ngành

Một ví dụ điển hình là việc giới hạn tăng trưởng tín dụng Việc giới hạn này có thể phù hợp trong bối cảnh lạm phát cao nhưng việc áp dụng các giới hạn tăng trưởng tín dụng tương tự với tất cả các ngân hàng lại có vẻ giúp cho các tổ chức lớn và phạt các doanh nghiệp nhỏ Việc tiếp tục giới hạn tăng trưởng tín dụng có thể phân bổ sự tăng trưởng cho các tổ chức tài chính lớn chứ không đơn giản là các tổ chức lớn nhất Rất nhiều các ngân hàng nước ngoài thu vốn vào cuối năm 2010 để tuân thủ các quy định về vốn tối thiểu và các giới hạn về người vay đơn lẻ, vì sự hạn chế trong tăng trưởng tín dụng đã loại bỏ khả năng của họ trong huy động vốn một cách hiệu quả Chúng tôi hy vọng rằng các cơ quan chức năng sẽ nhận ra điều này rõ hơn vào năm 2012 khi những tổ chức có bản cân đối kế toán tốt và quản lý tốt thì

họ có thể phân bổ tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức vì lợi ích tổng thể của nền kinh tế Việt N am Một vài thành tựu trong năm 2011 là rất tích cực nhưng vẫn có sự giới hạn trong nhiều vấn đề chủ yếu là do môi trường kinh tế bất lợi Chúng tôi hy vọng rằng tiến trình này

có thể được thúc đNy nhanh hơn trong năm 2012 khi lạm phát được kiềm chế và sự ổn định quay trở lại nền kinh tế

III Cấp phép đầu tư

Các doanh nghiêp thành viên của EuroCham tiếp tục phải chờ đợi thời gian dài quá trình phê duyệt và nhiều sự trì hoãn trong việc cấp phép đầu tư và đăng ký kinh doanh Các cơ quan

Trang 20

Theo N ghị định 102, các doanh nghiệp đã thành lập ở Việt N am có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước Đồng thời, các doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu

tư nước ngoài Theo quy định này, chúng tôi hiểu rằng với một doanh nghiệp đầu tư trong nước có vốn sở hữu lên đến 49% thì hiện tại chỉ cần yêu cầu sửa đổi “giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh” và tuân thủ các thủ tục cấp phép trong nước Tuy nhiên, việc hiểu như vậy không được áp dụng cho các ngành đầu tư có điều kiện như các lĩnh vực theo tiến trình WTO EuroCham kiến nghị rằng các đầu tư có điều kiện này không nên yêu cầu việc cấp phép một “giấy chứng nhận đầu tư” thay thế “giấy đăng ký kinh doanh” Việc yêu cầu cấp phép theo cách này sẽ đảm bảo tốt hơn sân chơi cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đang hoạt động tại Việt N am Các cơ quan chính quyền cấp Bộ có thể cần có vai trò cao hơn nữa trong việc làm rõ các quy định và đảm bảo các cơ quan chính quyền cấp tỉnh dưới sự giám sát của họ sẽ thực hiện chức năng của họ theo cách công bằng và nhất quán Việc thực hiện khác nhau sẽ không tồn tại giữa các địa phương khác nhau

IV Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)

Đầu năm 2011, Chính phủ Việt N am tuyên bố sẽ chú trọng “chất lượng hơn số lượng” trong việc đầu tư các dự án FDI Điều đó dường như có nghĩa là ngoài việc thu hút đầu tư vào các ngành sản xuất định hướng xuất khNu có chi phí lao động thấp, Việt N am đang tìm kiếm nhiều đầu tư hơn về ngành sản xuất giá trị gia tăng công nghệ cao Tuy nhiên, với việc thiếu vắng sự thực thi hiệu quả và mạnh mẽ về các quyền sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp nước ngoài đang kín đáo chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ có giá trị và các bí quyết độc quyền cần thiết của họ để hỗ trợ các sản xuất giá trị gia tăng có “chất lượng cao hơn” tại Việt N am

N goài ra, để có thể cung cấp lực lượng lao động và các nguồn nhân lực khác cần thiết để hỗ trợ việc sản xuất công nghệ cao tại Việt N am thì Việt N am phải đưa ra một “văn hóa cải tiến” và tôn trọng quyền SHTT

Một lần nữa, EuroCham kiến nghị một cách tiếp cận theo hai hướng căn bản để giải quyết vẫn đề nghiêm trọng này Trước hết, theo đề xuất trong cuốn sách Trắng năm ngoái của EuroCham, Chính phủ Việt N am nên tiếp tục nỗ lực để tăng cường nhận thức về giá trị của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Bằng cách đó, có thể giải thích cho người dân Việt N am rằng đó là vì lợi ích của mỗi người dân Việt N am khi tôn trọng quyền SHTT và tránh việc sản xuất, thương mại và/hoặc mua các sản phNm vi phạm quyền SHTT của các doanh nghiệp Việt N am và nước ngoài về thương hiệu và các quyền SHTT khác

N goài những thông tin đó, nên nói cho người dân Việt N am hiểu rằng tôn trọng quyền SHTT sẽ: i) giúp bảo vệ người dân Việt N am khỏi các sản phNm rẻ nhưng thường nguy hiểm; ii) từ chối tài trợ cho các tổ chức không có nguyên tắc đạo đức thường liên quan đến phạm tội

Trang 21

Việt N am thực hiện thành công, duy trì một chương trình giáo dục người dân Việt N am và thực thi hiệu quả quyền SHTT thì điều này sẽ là một bước tiến xa khuyến khích và thúc đNy các doanh nghiệp châu Âu và nước ngoài khác chuyển giao công nghệ cao và kiến thức tiên tiến cho Việt N am

V Cơ sở hạ tầng và nguồn cung năng lượng

Cho đến năm 2020, Việt N am sẽ cần hơn 160 tỉ USD để phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng

kỹ thuật bao gồm cả các hệ thống giao thông, cầu, các nhà máy điện, các hệ thống cung cấp nước và các nhà máy xử lý chất thải Trong khi đó, các nguồn vốn truyền thống như ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và hỗ trợ phát triển từ các Chính phủ nước ngoài chỉ có thể giúp thỏa mãn khoảng một nửa nhu cầu Điều này có nghĩa là hơn 50% đầu tư phải được huy động từ các doanh nghiệp trong và nước ngoài Tuy nhiên, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài vẫn còn đang cân nhắc về việc đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng do lo ngại về sự hiệu quả của đầu tư, tỉ lệ thu hồi lãi và các sự đảm bảo về vốn N hững lý do chính về sự thờ

ơ của nhà đầu tư là việc phân bổ rủi ro kém hiệu quả, các yêu cầu hành chính phức tạp, thiếu

sự minh bạch trong các thủ tục đấu thầu và việc giải phóng mặt bằng tốn nhiều thời gian và chi phí trong nhiều các dự án cơ sở hạ tầng

Giống như các nước khác, Chính phủ đã nhận ra rằng vốn ODA sẽ không đủ cho Việt N am

về lâu dài do đó trong năm 2010 đã ban hành các quy định mới về các dự án ưu tiên hợp tác công tư (PPP) Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 71/2010/QD-TTg về các quy định ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư, các quy định này sẽ được áp dụng trong hai hoặc ba dự án thí điểm Từ đó Chính phủ và các cơ quan có thể rút ra được bài học và hoàn thiện khung pháp lý từ các kinh nghiệm trong triển khai các dự án thí điểm Theo các quy định mới về các dự án ưu tiên, Chính phủ khuyến khích đầu tư tư nhân cho các dự án ưu tiên đã được lựa chọn và mở thầu để tuyển chọn các nhà thầu có năng lực

và kinh nghiệm EuroCham tin rằng về dài hạn, đây sẽ là điều trọng yếu để có các dự án giao cho ngân hàng và một khung pháp lý nhất quán để đảm bảo các dự án đối tác công tư

Về nguồn cung năng lượng, việc tiêu thụ điện được dự đoán tăng nhanh ở mức ít nhất là gấp đôi GDP với mức tối thiểu là 12% hàng năm Việc xây dựng các nhà máy điện mới tại Việt

N am chưa bắt kịp với nhu cầu và dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn cung, đặc biệt khi nhu cầu đạt đỉnh điểm Để giải quyết vấn đề này, Việt N am cần phải điều chỉnh giá năng lượng theo các cấp khu vực Mức giá cao hơn nhưng thực tế sẽ có thể giúp các doanh nghiệp hoạt động

và tạo ra thặng dư để thanh toán cho các chi phí vốn và do đó cho phép hoạt động ở mức độ tồn tại về kinh tế và bền vững Bên cạnh đó, việc đầu tư vào các năng lượng tái tạo nên được quan tâm cao trong các chương trình nghị sự của Việt N am và Chính phủ nên khuyến khích mạnh mẽ các giải pháp xanh và bền vững về mặt trung và dài hạn

Trang 22

môn, 78% lao động từ 20 đến 24 tuổi không có hoặc thiếu kỹ năng chuyên môn N goài ra, khoảng 60% lao động Việt N am vẫn được coi là lao động trong các khu vực không chính thức, không có hợp đồng lao động chính thức, được trả lương dưới mức lương tối thiểu và không được cung cấp các bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội Trong khối ASEAN , Việt N am xếp ở nửa dưới về phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, cải thiện và nâng cao chất lượng lực lượng lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Việt N am để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước đang thay đổi một cách nhanh chóng N goài ra,

sự dịch chuyển người từ khu vực không chính thức sang khu vực chính thức nên được đặt ưu tiên trong chương trình nghị sự Các doanh nghiệp thành viên của EuroCham tiếp tục tuyển dụng hàng nghìn lao động Việt N am đóng góp vào tiến trình chuyển dịch Việt N am sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển xã hội

EuroCham tin tưởng rằng việc phát triển các trang thiết bị và giáo trình đào tạo nghề hiện đại

là cần thiết để cải thiện chất lượng lao động của Việt N am, đáp ứng các nhu cầu của thị trường lao động thay đổi nhanh chóng và thu hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài có giá trị gia tăng Hiện tại, việc đào tạo và dạy nghề thường không được tính đến trong các nhu cầu của các công ty hoạt động tại Việt N am Các công ty thành viên EuroCham đã chi những khoản tiền lớn để gửi nhân viên Việt N am đến các trụ sở chính tại nước ngoài để họ được đào tạo tại những cơ sở và trang thiết bị hiện đại Các doanh nghiệp thành viên Châu Âu phải chấp nhận rủi ro về tài chính nếu các nhân viên đó không trở lại làm việc hoặc nghỉ việc không lâu sau khi được đào tạo EuroCham cũng hiểu rằng Việt N am đã nhận thức rõ tính cấp thiết của việc cải thiện chất lượng lực lượng lao động Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin lưu ý rằng mặc dù đã có nỗ lực cải cách liên tục về nền giáo dục trong nước, nhưng nhiều người Việt

N am có đủ điều kiện vẫn đang tìm cách đi du học ở nước ngoài

Chúng tôi cũng muốn nêu lên sự lo lắng của chúng tôi về một số điều khoản trong N ghị định 46/2011/N D-CP (N ghị định 46) do Chính phủ ban hành ngày 17/06/2011 đề ra một số thay đổi lớn đối với N ghị định 34/2008/N Đ-CP ngày 25/03/2008 về Việc làm và Quản lý N gười nước ngoài làm việc tại Việt N am Đặc biệt, theo N ghị định 46 mới, để gia hạn giấy phép lao động cho một nhân viên nước ngoài, giờ đây một công ty phải ký kết hợp đồng đào tạo với một nhân viên Việt N am dự kiến sẽ thay thế nhân viên nước ngoài liên quan Chúng tôi tin rằng qui định này thực chất là việc cấm tuyển dụng các nhân viên nước ngoài có kinh nghiệm và năng lực nếu công ty không ký hợp đồng đào tạo với các nhân viên Việt N am

N ghị định 46 cũng tạo ra một sự vi phạm của Việt N am đối với Lịch trình Cam kết cụ thể về lĩnh vực dịch vụ trong WTO, đặc biệt là Điều XVI (1) và XVI (2) (d) của Thỏa thuận Tổng quát về Trao đổi Dịch vụ

Chúng tôi lưu ý rằng nhiều công ty thành viên EuroCham luôn ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển của nhân viên Việt N am vì điều này sẽ tốt hơn cho các doanh nghiệp châu Âu về lâu

Trang 23

VII Sự minh bạch và tham nhũng

Hối lộ và tham nhũng đang ảnh hưởng đến thể chế dân chủ, quản trị doanh nghiệp và sự hoạt động hiệu quả và trôi chảy của các doanh nghiệp Hối lộ và tham những cũng không khuyến khích đầu tư và làm xói mòn sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tại Việt N am (cả doanh nghiệp trong nước và ngoài nước) bằng cách “trao” cho các doanh nghiệp không có nguyên tắc đạo đức (thường là thiếu năng lực) và những người chủ/quản lý của họ trong khi lại

“phạt” những doanh nghiệp có đạo đức thường có khả năng cạnh tranh, lớn mạnh và tuyển dụng có ích lao động Việt N am và đóng góp thuế cho đất nước Cụ thể là tham nhũng làm chệch hướng những hoạt động kinh tế phù hợp, những hoạt động có thê đóng góp mức cao hơn cho các phúc lợi về kinh tế, xã hội và môi trường và xóa đói giảm nghèo Tham nhũng cũng cản trở ý định của các Chính phủ nước ngoài muốn cung cấp ODA do e ngại sự chệch hướng của các dự án có mục tiêu cải thiện môi trường cạnh tranh Chỉ số cảm nhận tham nhũng 2010 của tổ chức minh bạch quốc tế đã chỉ ra rằng gần ba phần tư trong tổng số 179 quốc gia được thống kê có chỉ số dưới 5 trong thang điểm từ 10 (rất minh bạch) đến 0 (tham nhũng cao) Việt N am xếp hạng 116 trên tổng 178 quốc gia theo chỉ số năm 2010 (điểm số

là 2.7)

Do đó sẽ không ngạc nhiên khi các doanh nghiệp châu Âu và các doanh nghiệp nước ngoài khác mệt mỏi với nạn tham nhũng tại Việt N am đang vẫn tiếp tục có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh tại Việt N am Các doanh nghiệp châu Âu mong rằng tình huống này

sẽ được cải thiện đáng kể sau khi Việt N am phê chuNn Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UN CAC) vào tháng 06/2009 Đây là sáng kiến toàn cầu duy nhất đưa ra một khung pháp lý cho việc xóa bỏ nạn tham nhũng Tuy nhiên, các doanh nghiệp châu Âu và nước ngoài khác vẫn tiếp tục đối mặt với những vấn đề về tham nhũng liên quan đến việc xin giấy chứng nhận đầu tư, phê duyệt pháp lý, nhập khNu hàng hóa vào Việt N am, bảo vệ quyền SHTT và thực thi quyền SHTT cũng như các quyền hợp pháp khác Tác động của tham nhũng đến đầu tư và môi trường kinh doanh tại Việt N am không thể đánh giá được đúng mức Do đó, EuroCham khuyến khích Chính phủ Việt N am có những hành động nhanh chóng và hiệu quả để thực thi có ý nghĩa UN CAC tại Việt N am

N goài ra cũng nên lưu ý rằng không chỉ các doanh nghiệp nước ngoài nhận thấy nạn tham nhũng là một vấn nạn lớn tại Việt N am mà ngay cả các đại diện từ đại đa số các doanh nghiệp Việt N am và các tổ chức tại rất nhiều sự kiện đã bày tỏ sự cần thiết rằng Việt N am không chỉ cần cam kết thực hiện cải cách hành chính trên toàn quốc mà đồng thời phải cam kết tăng cường các tiêu chuNn đạo đức của cán bộ công chức Việt N am tại tất cả các cấp, đề nghị thừa nhận rằng thực tế tham nhũng đang ảnh hưởng đến sự hoạt động thuận lợi của các doanh nghiệp Việt N am và có tác động tiêu cực đến sức cạnh tranh của họ Khi Việt N am tiếp tục cạnh tranh với các nước khác về FDI và cố gắng tăng sức cạnh tranh của tổng thể nền kinh tế Việt N am, thì các bước cụ thể để giảm đáng kể sự tham nhũng sẽ đóng góp vào

Trang 24

sách “các mặt hàng không khuyến khích nhập khNu” Danh sách này bao gồm 97 mặt hàng không khuyến khích nhập khNu bao gồm nồi hơi, máy móc và thiết bị cơ khí, thiết bị điện tử

và linh kiện, xe cộ trừ thiết bị chạy trên đường xe lửa hoặc xe điện, xe ô tô và các loại xe khác có động cơ được thiết kế chủ yếu để chở Các nguyên liệu nhập khNu cho mục đích sản xuất không nằm trong phạm vi của Quyết định số 1380 Quyết định này đã có hiệu lực ngay lập tức thay thế cho Quyết định số 1899/QD-BCT ngày 16/04/2010 Vào tháng 04/2011, Bộ Tài Chính đã đề xuất tăng thuế nhập khNu với các mặt hàng đã được lựa chọn trong danh mục của Quyết định 1380

Cũng trong tháng 04/2011, Bộ Công Thương đã ban hành một kế hoạch nhằm quản lý nhập khNu bao gồm “tăng cường các biện pháp quản lý nhập khNu các mặt hàng không cần thiết

và các hàng hóa đã được sản xuất trong nước” EuroCham tin rằng tốt hơn nên quản lý sự thâm hụt thương mại hơn là hạn chế nhập khNu Do đó, Thông báo 197 và Quyết định 1380 nên hủy bỏ Chúng tôi cũng xin lưu ý thêm rằng việc tiếp tục các thủ tục “cấp phép nhập khNu tự động” theo Thông tư 24/2010/TT- BCT sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến việc xuất khNu hàng hóa một cách thuận lợi vào Việt N am Từ ngày 12/07/2010, một loạt khối lượng lớn các hàng hóa nhập khNu được yêu cầu nộp giấy phép nhập khNu tự động để thông quan theo Thông Tư 24 Không may là theo thủ tục nhập khNu mới và các yêu cầu về giấy tờ dẫn đến việc cân nhắc của hầu hết các nhà nhập khNu về việc không nhập khNu hàng hóa vào Việt

N am Hơn nữa, những nỗ lực trong thời gian dài cho mỗi lần nhập khNu kèm theo sự gia tăng các chi phí hậu cần dường như được chuyển qua cho những người tiêu dùng hoặc các đơn vị hoạt động kinh doanh Một lần nữa, chúng tôi lưu ý rằng việc đơn giản hóa hơn là gia tăng các gánh nặng hành chính là cách để thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn nữa từ đó tạo ra các chi phí cơ hội cho việc tăng trưởng nền kinh tế của Việt N am

IX Dự thảo mới về Luật giá

Trong khi EuroCham hoàn toàn hiểu rằng cần phải giữ mức lạm phát trong tầm kiểm soát, thì điều không may là dự thảo Luật giá được công bố gần đây chỉ tính đến một số các kiến nghị đã được đưa ra theo Thông tư 122 về bình ổn giá EuroCham lo ngại rằng Luật mới về giá một lần nữa được soạn thảo theo cách sẽ tạo ra những sự mơ hồ trong cộng đồng doanh nghiệp Ví dụ như những trường hợp “biến động bất thường” của giá trong Điều 9 và 10 của

dự thảo Luật mới về giá lại đưa ra những định nghĩa rất mơ hồ (và bao gồm cả “những tình huống bất thường”), dẫn đến quyền tự ý định đoạt lớn cho các quan chức nhà nước N goài

ra, thuật ngữ “các chính sách phát triển kinh tế xã hội của N hà nước” được sử dụng rất nhiều trong dự thảo Luật mới về giá (ví dụ như trong Điều 6) nhưng không rõ đó là những chính sách gì?

Bên cạnh đó, dự thảo Luật mới về giá không đưa ra bất cứ trách nhiệm rõ ràng nào đối với các quan chức nhà nước về việc giữ bí mật thông tin cho doanh nghiệp cung cấp với mục

Trang 25

tục hành chính bao gồm trên 5,700 thủ tục hành chính và hơn 9,000 văn bản pháp lý Thứ hai, sau giai đoạn rà soát, Chính phủ đã ban hành 25 N ghị quyết đơn giản hóa hầu hết 5,000 thủ tục hành chính thuộc 24 Bộ, ngành khác nhau Cuối cùng là việc thành lập một cơ quan mới nhằm kiểm soát thủ tục hành chính, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ N hưng EuroCham cũng tin rằng tác động thực sự của Đề án 30 vẫn chưa được nhìn thấy Điều quan trọng trong những nỗ lực cải cách hành chính của Việt N am là không đưa ra các thủ tục hành chính không cần thiết mới trong khi vẫn đang đơn giản các thủ tục hành chính cũ

Hiện nay, các bộ ngành chịu trách nhiệm vẫn đang trong tiến trình thực hiện các N ghi quyết đưa ra trong Đề án 30 Trong khi 25 N ghị quyết đã được ban hành, một vài thủ tục hành chính vẫn phải được thực hiện Trên thực tế, điều này có nghĩa là hủy bỏ hơn 480 thủ tục hành chính, thay thế gần như 200 thủ tục hành chính, sửa đổi và bổ sung hơn 4000 thủ tục hành chính Kết quả là cấp trung ương phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ 1016 các văn bản pháp lý bao gồm 42 Luật, 12 pháp lệnh, 183 N ghị định, 37 Quyết định của Thủ tướng, 313 Quyết định của Bộ, 336 Thông tư và 93 văn bản pháp luật khác! Đây là một nhiệm vụ chính

và chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ các cán bộ tại các Bộ và các cơ quan thực hiện công việc quan trọng này EuroCham hy vọng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính sẽ là một cơ quan hiệu quả

và có quyền lực để hỗ trợ cho việc thực hiện đơn giản hóa các thủ tục hành chính và kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các thủ tục hành chính mới

XI Kết luận

N ói tóm lại, EuroCham tin rằng Việt N am cần cải cách nhanh chóng về kinh tế, tài chính và giáo dục nếu Việt N am muốn đi theo một mô hình phát triển kinh tế bền vững có tính cạnh tranh quốc tế hơn là những vị trí nhanh chóng và chắp nối cơ cấu kinh tế hiện tại Cụ thể là EuroCham tin là để thu hút nhiều hơn nữa các đầu tư nước ngoài có chất lượng tốt hơn, Chính phủ Việt N am nên tập trung các nỗ lực trong năm 2012 vào việc loại bỏ các hạn chế không cần thiết trong tiếp cận thị trường ảnh hưởng đến tự do thương mại Chính phủ cũng nên tiếp tục giải quyết nạn quan liêu và tham nhũng, giảm và đơn giản các gánh nặng hành chính tại tất cả các cấp Chính phủ cũng nên cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được tuyển dụng người Việt N am và người nước ngoài theo các tiêu chí và mong muốn của họ Việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ và thực thi hiệu quả các trường hợp vi phạm QSHTT vẫn là điều quan trọng chính để thu hút đầu tư chất lượng cao

EuroCham cũng tin tưởng rằng khi mà Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt N am và EU được ký kết, FDI của EU sẽ tiếp tục tăng về số lượng và chất lượng Các doanh nghiệp châu

Âu sẽ tăng cường nhận thức về Việt N am như là một cửa ngõ của ASEAN hoặc thậm chí là trụ sở chính từ đó họ có thể phục vụ hiệu quả thị trường ASEAN và các nước láng giềng như

N hật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ FTA giữa Việt N am và EU sẽ giúp Việt N am có lợi từ

Trang 26

Xin cảm ơn sự chú ý của quý vị!

Trang 27

Christopher Twomey

Chủ tịch

Phát biểu của ông Christopher Twomey, Chủ tịch

Tôi hân hạnh được phát biểu về quan điểm của AmCham về môi trường kinh doanh tại Việt Nam Xin cảm ơn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB) và

Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), đã đóng vai trò tập hợp các lãnh đạo chính phủ và doanh nghiệp đến đây cùng thảo luận phương thức cải thiện điều kiện kinh doanh nhằm thúc đNy phát triển kinh tế xã hội Việt N am

Chúng tôi tin rằng Diễn đàn Doanh nghiệp Việt N am (VBF) đã đem lại lợi ích cho cả Chính phủ và khu vực tư nhân từ nhiều năm nay, và chúng tôi hy vọng sự hữu ích của nó sẽ được tiếp tục duy trì sau khi VBF chuyển đổi sang một cơ cấu hoạt động mới

Bằng việc tích cực tham gia vào buổi đối thoại mang tầm ý nghĩa lớn này, chúng tôi có thể

hỗ trợ bình ổn kinh tế vĩ mô Việt N am, đạt đến những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và cải tiến mô hình tăng trưởng Bên cạnh đó, Việt N am đã và sẽ tiếp cận tốt hơn các nguồn vốn, khoa học kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư với những nền kinh tế lớn

Thương mại và các lĩnh vực liên quan đến đầu tư nước ngoài mang đến nhiều việc làm và thu nhập, doanh thu thuế, xuất khNu và ngoại hối, và chuyển giao công nghệ, và góp phần định hướng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa Điều đặc biệt quan trọng là vai trò của FDI được tính đến khi các doanh nghiệp có vốn FDI đã đóng góp 42% tổng sản lượng công nghiệp của Việt N am1 và 57% tổng sản lượng xuất khNu của Việt N am năm 20102 Các công ty AmCham đạt hơn 20 tỷ đô

la trong thương mại song phương Việt-Mỹ năm nay

Mặc dù trong bối cảnh ảm đạm của vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô, chỉ số lạm phát trên dưới 20% và đồng nội tệ suy yếu chỉ là tạm thời, triển vọng trung - dài hạn vẫn duy trì ở mức lạc quan Chúng tôi khuyến khích Chính phủ tiếp tục tâp trung vào N ghị quyết 11 về duy trì ổn định kinh tế vĩ mô hơn là tăng trưởng

Trang 28

AmCham ủng hộ định hướng mới này và kỳ vọng vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô được trở lại Chúng tôi mong chính phủ tiếp tục kiên trì với những nổ lực tích cực đảm bảo

Tự Do cho Châu Á Thái Binh Dương Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN / Đông Á, các nhà lãnh đạo đã thông qua Kế Hoạch 5-năm hành động giữa ASEAN – Mỹ5 dựa trên các điều kiện thương mại thuận lợi hiện tại

N hững sáng kiến này sẽ đNy nhanh tiến trình hội nhập thế giới toàn diện và tập trung của Việt N am, tăng cường thương mại và đầu tư, và góp phần phát triển kinh tế và xã hội Việt

N am

Cơ sở hạ tầng

AmCham và các tổ chức khác đã nêu lên vấn đề cải thiện cơ sở hạ tầng Việt N am trong mỗi cuộc họp VBF trong vòng ít nhất là 6 năm qua

Việt N am tiếp tục đối mặt với những bất cập và chậm trễ trong việc phát triển các dự án cơ

sở hạ tầng then chốt, đặc biệt là các tuyến cầu đường liên tỉnh, bao gồm đường tiếp nối, điện năng, cảng biển có vị trí chiến lược và cơ sở hạ tầng liên quan tiếp giáp cũng như hệ thống vận chuyển công cộng đô thị như đường sắt nhẹ

Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhìn nhận những thành tựu đạt được trong việc hoàn tất một số

dự án cơ sở hạ tầng lớn gần đây như sự kiện thông xe hầm Thủ Thiêm tháng 11 nối liền mạch giao thông thiết yếu ở đại lộ Đông - Tây (Đại lộ Võ Văn Kiệt) tại thành phố Hồ Chí Minh6 và sự kiện Cảng nước sâu quốc tế Cái Mép đi vào hoạt động ngày 2 tháng 12 Đây là những bước tiến lớn, và chúng tôi mong muốn chứng kiến nhiều thành tựu giống như vậy nữa

Chúng tôi lưu tâm nhiều đến việc thiếu hụt nguồn cung cấp điện, và khả năng trụ vững về tài chính của công ty điện nhà nước EVN đã ngăn cấm đầu tư thêm vào lĩnh vực cung ứng điện bổ sung đang rất cần thiết Quyết định 1604 gần đây hạn chế đảm bảo ngoại hối cho

Trang 29

N am trong giải pháp thực tế đối với tình trạng trì trệ trong kinh doanh gây ra bởi quy trình quản lý của Luật An Toàn Vệ Sinh Thực PhNm N hững hội viên của chúng tôi đánh giá cáo

“câu chuyện thành công” này, và vẫn mong muốn chứng kiến những vấn đề này được giải quyết trước khi chúng phát sinh Một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh Chính phủ cần thực thi những cam kết đưa ra trong thỏa thuận BTA và WTO về việc đồng ý tham khảo ý kiến của doanh nghiệp trước khi ban hành luật lệ và quy định mới.7

Cải tổ doanh nghiệp nhà nước

Mặc dù có sự chuyển hướng từng bước theo nền kinh tế thị trường bắt đầu từ năm 1986, và mặc dù có những chủ trương về vấn đề cải tổ Doanh nghiệp nhà nước (SOE), khu vực kinh

tế nhà nước vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Việt N am tuy chỉ đóng góp 22% tổng sản phNm quốc nội Chúng tôi được động viên từ những khẳng định gần đây của các vị lãnh đạo cấp cao N hà nước về việc sẵn sàng cải tổ hệ thống doanh nghiệp N hà nước hoạt động không hiệu quả, mà những chuyên gia phân tích đánh giá là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến bất ổn kinh tế vĩ mô Các vấn đề về tham nhũng và xung đột lợi ích bị dính vào cơ cấu doanh nghiệp nhà nước N ếu không giải quyết những vấn đề căn bản thuộc lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước thì sự phát triển của Việt N am sẽ vẫn còn gặp nhiều thách thức

Tính hiệu quả của Hải quan

Hải quan đóng vai trò liên kết chính yếu trong hoạt động của chuỗi cung ứng Chúng tôi đánh giá cao quan điểm tập trung vào người tiêu dùng của Tổng Cục Hải Quan Việt N am thể hiện trong “Bản điều lệ khách hàng – 10 quy tắc vàng”8 và “ Chiến lược phát triển của Hải quan Việt N am đến năm 2020”.9 Chiến lược quan trọng của Việt N am là phấn đấu đạt

quy trình Hải quan điện tử 100% và Hải quan trực tuyến Thêm vào đó, đến năm 2015,

thời gian thủ tục thông quan Việt N am sẽ ngắn ngang bằng với mức thời gian trung bình của các quốc gia phát triển trong khối ASEAN năm 2010 N hững mục tiêu này sẽ giúp Việt

N am thu hút thêm vốn đầu tư trực tiếp FDI

Và cơ chế Một Cửa ASEAN10, nơi mà Việt N am tham gia cùng với tất cả các nước khối ASEAN để đơn giản hóa, hòa hợp và tiêu chuNn hóa thương mại và hải quan, các quy trình, thủ tục và áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) vào tất cả các lĩnh vực liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ cho Việt N am mà còn tất cả các nước khối ASEAN

7

BTA, Chap VI TRANSPARENCY-RELATED PROVISIONS AND RIGHT TO APPEAL

Article 1 Each Party shall publish on a regular and prompt basis all laws, regulations and administrative procedures of

general application pertaining to any matter covered by this Agreement Publication of such information and measures will be

Trang 30

người Việt N am nói chung, vấn đề cấp thiết đặt ra là cải tiến trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ Thực thi hiệu quả phải bằng việc xử phạt những người vi phạm Quyền sở hữu trí tuệ (IPR) với bất kỳ hình thức nào có tính chất răn đe họ và những người khác không tái phạm trong tương lai Điều đó đồng nghĩa với việc nâng cao nhận thức về tính cần thiết phải tôn trọng sở hữu trí tuệ (IPR) của cả người Việt N am và người nước ngoài

Cải thiện việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao

Cả thỏa thuận TPP và Kế hoạch hành động trong khuôn khổ Thương mại và Đầu tư ASEAN - Mỹ đều bao hàm những sáng kiến về thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dịch

vụ y tế Vốn FDI vào y tế, thậm chí đối với một vài bệnh viện được xây mới gần đây, vẫn còn thấp, và những rào cản lớn vẫn còn tồn tại

Các quy định của Bộ Y Tế (MoH) và Bộ Công Thương ( MoIT) gián tiếp gây bất lợi cho việc cung ứng các dịch vụ y tế đạt tiêu chuNn quốc tế Luật khám và chữa bệnh có một số điều khoản thiếu tính rõ ràng, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài và người điều hành các đơn vị y tế Chúng tôi khNn thiết yêu cầu Chính phủ nên thảo luận những vấn đề này với cộng đồng doanh nghiệp

Cải cách và tiến bộ trên khu vực kinh tế tư nhân sẽ tạo nên dịch vụ y tế tốt hơn, và vì thế hỗ trợ Việt N am nhiều hơn nữa trong việc thu hút nhiều công ty nước ngoài đòi hỏi dịch vụ y

tế chất lượng cao

Quan hệ công nghiệp và chiến lược phát triển, giáo dục và đào tạo lực lượng lao động

Sửa đổi bộ luật lao động

Các hội viên của chúng tôi đã có hơn 3 năm tham gia với các hiệp hội doanh nghiệp trong nước và quốc tế khác, dưới sự dẫn dắt của VCCI như là “cơ quan đại diện của người sử dụng lao động”, trong việc tham vấn sửa đổi luật lao động Mục tiêu chung của chúng tôi là duy trì mối quan hệ hòa hợp, ổn định giữa người tuyển dụng – người lao động nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của cả 2 bên, trong khi vNn đảm bảo duy trì môi trường đầu

tư ổn định và trật tự xã hội

Bộ luật lao động mới được thảo luận tại Quốc hội tuần trước sẽ tác động lớn đến nguồn vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực sản xuất ở Việt N am, và cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào TPP của Việt N am và khả năng có được lợi ích thương mại song phương với Mỹ, ví

dụ như Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) Chúng tôi hi vọng rằng chính phủ sẽ tiếp tục tham vấn và cân nhắc những kiến nghị từ các hiệp hội doanh nghiệp và những tổ chức liên quan khi Bộ luật Lao động được hoàn tất Ví dụ 100% các doanh nghiệp được tham vấn tin rằng công nhân nên được trả nhiều tiền tăng ca hơn, điều này phù hợp với thông lệ hoạt động

Trang 31

giờ tăng ca Tuy nhiên, làn sóng người lao động thiếu trình độ gia nhập vào lực lượng lao động trong khi tất cả các khu vực công nghiệp đang phát triển nhanh chóng không góp phần tăng năng suất trong những năm qua và tạo nên tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng ở các địa phương có mật độ công nghiệp cao Điều này đòi hỏi người tuyển dụng lao động phải xem xét lại giới hạn tăng ca ở mức thấp tại Việt N am Thêm vào đó, làm tăng ca

là TỰ N GUYỆN , không mang tính bắt buộc, và một công nhân có quyền chấp nhận hoặc không

Phát triển lực lượng lao động

Chính phủ nên tiến hành nhiều biện pháp hơn nhằm cải thiện và nâng cao trình độ của lực lượng lao động N hững thách thức của việc hiện đại hóa hệ thống giáo dục ảnh hưởng trực tiếp việc chọn lựa và triển vọng của thế hệ tương lai AmCham hết lòng hỗ trợ Việt N am nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ em Việt N am

N ếu lực lượng lao động không được đào tạo và thiếu trình độ, Việt N am có thể sẽ mắc vào tình trạng “bẫy năng suất kém”, sẽ hạn chế tính cạnh tranh của Việt N am trên thị trường toàn cầu Việc bồi dưỡng kỹ năng, và huấn luyện nâng cao rất cần thiết để đạt được năng suất cao và thu nhiều lợi nhuận hơn Đề cập đến vấn đề nâng mức lương tối thiểu, xin lưu ý rằng các khu vực công nghiệp tạo ra nhiều giá trị nhất trong tổng sản phNm quốc nội năm

2009 đã có tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm bằng 0 về năng suất lao động giữa những năm 2007 – 200912

Vấn đề việc làm của người lao động nước ngoài tại Viêt N am

Các công ty hội viện AmCham cùng chia sẻ mục tiêu với chính phủ: tạo ra khả năng cạnh tranh bằng cách địa phương hóa lực lượng lao động, thuê và đào tạo nhiều người Việt N am hơn, từ đó tạo ra nhiều việc làm có lương cao hơn cho người Việt N am Tất cả công ty Mỹ đang chuyển giao công nghệ và kỹ năng thông qua giáo dục và đào tạo, bao gồm các chương trình học bổng như Chương trình hợp tác giáo dục kỹ thuật nâng cao13, và Quỹ Giáo Dục Việt N am (VEF)14 và các chương trình đào tạo tại chỗ như làm việc với người nước ngoài có trình độ học vấn và chuyên môn cao, nhằm huấn luyện theo ngày các kỹ năng làm việc cần thiết để thành công

Quy định về giấy phép lao động đối với cấp quản lý cấp cao, quản lý cấp trung, công nhân

có trình độ, giám sát sản xuất, chuyên gia và nhà cung ứng dịch vụ kinh doanh (luật, kế toán, vận tải, phân phối, hậu cần/ quản trị chuỗi cung ứng),… phải khác với những quy định về giấy phép lao động đối với lực lượng lao động phổ thông Điều đáng lưu ý là việc cải thiện trình độ chuyên môn cho ứng viên Việt N am sẵn có hơn là phải chịu thêm gánh nặng hành chính đối với quyết định thuê người nước ngoài

Trang 32

VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp Việt N am và nước ngoài khác nhằm “cổ phần hóa” VBF và xây dựng phát triển dựa trên những nền tảng được thiết lập trong nhiều năm qua Theo kết luận nghiên cứu của N gân Hàng Thế Giới năm 1998,16 bản thân việc hỗ trợ phát triển không thúc đNy tăng trưởng kinh tế, chính thương mại và đầu tư trực tiếp từ ngước ngoài mới thúc đNy tăng trưởng Các quốc gia cần những chính sách kinh tế tốt, hệ thống pháp lý và qui định tốt, tính minh bạch và hiệu quả trong các cơ quan đại diện chính quyền,

và hệ thống cơ sở hạ tầng công lập tốt, bao gồm vận tải, điện, truyền thông, giáo dục và hệ thống chăm sóc sức khỏe… để thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, và kích thích phát triển kinh tế và xã hội

Một số nhà đầu tư không đồng ý Việt N am có tiềm năng lớn; tuy nhiên, quốc gia này đang

cố gắng đạt hết tiềm năng của mình bị cản trở lâu đời bằng việc gỡ bỏ những trì trệ đối với hoạt động đầu tư Việt N am cần phải đạt được tiến bộ cụ thể trong các lãnh vực vừa đề cập,

có khả năng làm suy giảm hình ảnh của Việt N am như một điểm đến hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài

Thay mặt tất cả Hội viên AmCham, tôi xin chúc sức khỏe các vị lãnh đạo và các vị khách quý đang có mặt tại đây hôm nay, và tôi xin cảm ơn cơ hội được phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt N am

###

Trang 33

THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNH XUẤT KHẨU

THỦY SẢN VIỆT NAM

Người trình bày PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng Phó Chủ tịch Hiệp hội VASEP

Thay mặt Hiệp hội Chế biến và Xuất khNu Thủy sản Việt N am (VASEP), tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI), và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) và N gân hàng Thế giới (WB) đã tạo cơ hội cho Hiệp hội tham gia cuộc đối thoại này Tôi xin trình bày tóm tắt những thách thức và giải pháp cho ngành hàng thủy sản

Tính đến hết tháng 10/2011, tổng kim ngạch xuất khNu thủy sản Việt N am đạt được gần 5

tỷ USD, 2 tháng cuối năm dự kiến được 1 tỷ USD và kim ngạch xuất khNu cả năm 2011 sẽ đạt 6 tỷ USD, có thể sẽ đưa Việt N am trở thành quốc gia đứng thứ 4 - 5 về xuất khNu thủy sản trên thế giới Trong cơ cấu thị trường xuất khNu 10 tháng đầu năm nay, EU là thị trường lớn nhất của thủy sản Việt N am, chiếm 22,5% tổng giá trị, Mỹ chiếm 19,2%, N hật Bản chiếm 15,9%, Hàn Quốc chiếm 7,7%, Trung Quốc chiếm 5,7%, ASEAN chiếm 5,1%, Ôxtrâylia chiếm 2,6% và 21,2% là các thị trường khác Tôm vẫn là mặt hàng thủy sản dẫn đầu xuất khNu, chiếm 39,8%, tiếp đó là cá tra, basa chiếm 30,3%, cá khác chiếm 12%, nhuyễn thể chiếm 9,8%, cá ngừ chiếm 6,4%, và các loài khác

Cho đến nay, chế biến thủy sản Việt N am là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển mạnh

và ổn định, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Doanh số xuất khNu thủy sản tăng liên tục qua các năm với mức tăng khoảng 15-20%/năm Chỉ trong 10 năm, thủy sản Việt

N am liên tục tăng trưởng với doanh số xuất khNu tăng lên gấp 3 lần, từ 2 tỷ USD năm 2002 đến 6 tỷ USD năm 2011

Với những kết quả đạt được trong năm 2011, các doanh nghiệp thủy sản Việt N am bắt đầu hướng tới con số 10 tỷ USD đến năm 2020 theo mục tiêu chiến lược phát triển xuất khNu thủy sản giai đoạn 2010-2020 của Chính phủ, đưa Việt N am trở thành 1 trong 4 cường quốc đứng đầu về xuất khNu thủy sản trên thế giới

Để có thể thực hiện thắng lợi mục tiêu đầy tham vọng này, VASEP đã nhìn trước được những thách thức to lớn và xin đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:

Trang 34

a) Nâng cao sản lượng và mức độ chế biến trong nước

- Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản cùng với bảo vệ môi trường và quản lý đồng bộ

về chất lượng các khâu con giống, thức ăn, thuốc thú y trong hoạt động nuôi tôm và cá tra cũng như các loài thủy sản khác, nhằm bảo đảm yêu cầu chất lượng, vệ sinh an toàn thực phNm (VSATTP)

- Giảm thất thoát sau thu hoạch đi 10-20% giúp cho nguồn nguyên liệu thủy sản chất lượng hơn, làm tăng đáng kể lượng nguyên liệu cung ứng cho chế biến

- ĐNy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại nhằm tăng năng suất và chất lượng, giảm tỷ trọng giá thành nguyên liệu; phát triển nhanh tỷ trọng các mặt hàng giá trị gia tăng

có giá trị kinh tế cao theo nhu cầu thị trường xuất khNu

b) Tăng cường nhập khẩu nguyên liệu

- Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Việt N am cần chủ động thu hút khách hàng mang nguyên liệu tới để chế biến; phấn đấu tăng nhập khNu nguyên liệu thủy sản từ mức 500 triệu USD hiện nay lên 2,5- 3,0 tỷ USD/năm vào năm 2020 để tận dụng năng lực chế biến lớn (trên 2,5 triệu tấn/năm), điều kiện VSATTP tốt nhất khu vực, lực lượng công nhân dồi dào, lành nghề, phí gia công thấp

- Bên cạnh việc tăng cường nhập khNu các loại nguyên liệu thủy sản đánh bắt trong nước đang thiếu (như: mực, bạch tuộc, tôm biển, cá biển ), Việt N am cần tăng cường nhập các loài thủy sản nuôi (tôm, cá, ) từ một số nước chưa có khả năng cạnh tranh về công nghiệp chế biến

- Tăng cường hợp tác khai thác, nuôi trồng, bảo quản nguyên liệu ở nước ngoài, sau đó chuyển về Việt N am để chế biến tái xuất

2 Thách thức về chất lượng, VSATTP và năng lực cạnh tranh

Càng ngày, các thị trường nhập khNu càng yêu cầu thêm nhiều quy định về VSATTP Do

đó, việc đảm bảo kiểm soát VSATTP toàn chuỗi sản xuất của doanh nghiệp và các bên tham gia chuỗi nhằm đạt chất lượng, VSATTP và năng lực cạnh tranh cao đang là thách thức lớn đối với thủy sản

Do đó cần có các giải pháp sau:

a) N hà nước cần hỗ trợ cộng đồng thiết lập hệ thống kiểm soát chuỗi, đảm bảo tính đồng bộ

Trang 35

thủy sản trong tương lai Bên cạnh đó, trước sức ép suy giảm kinh tế toàn cầu, các nước gia tăng bảo hộ sản xuất trong nước, đưa ra ngày càng nhiều các rào cản thương mại, kể cả truyền thông bôi xấu Việc tiếp tục củng cố và gia tăng thị phần tại các thị trường là một thách thức lớn cho xuất khNu thủy sản Việt N am

Xin kiến nghị các giải pháp sau:

a) Chính phủ cần đầu tư nghiêm túc và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp đNy mạnh hoạt động quảng bá thủy sản Việt N am ra nước ngoài thông qua nhiều hình thức xúc tiến thương mại, giới thiệu đầy đủ thông tin về hệ thống khai thác, nuôi trồng, chế biến được kiểm soát tốt bằng các hoạt động tiếp thị chuyên nghiệp

b) Chủ động vượt qua các rào cản thương mại, tìm kiếm mọi cơ hội hợp tác, nhằm hạn chế tác động của các vụ kiện, phối hợp cùng các nhà nhập khNu trong công tác truyền thông để phản bác những thông tin sai lệch về thủy sản Việt N am

c) Thật sự giảm tối đa các thủ tục hành chính gây chi phí lớn cho sản xuất và xuất khNu thủy sản, tạo điều kiện môi trường thuận lợi nhất cho cộng đồng doanh nghiệp nhằm nâng cao uy tín, sức cạnh tranh và giá trị của thủy sản

Để biến kế hoạch xuất khNu 10 tỷ USD năm 2020 thành hiện thực, cộng đồng doanh nghiệp thủy sản rất mong được sự đồng hành của các cơ quan N hà nước!

Xin chúc sức khỏe đến các lãnh đạo và khách quý và xin cảm ơn cơ hội được trình bày tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt N am hôm nay./

Trang 36

Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam

Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2011

Người trình bày Brian O'Reilly Phó Chủ tịch AusCham Tp HCM

Cộng đồng doanh nghiệp Úc tự hào về những đóng góp của mình trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam và thông qua diễn đàn này sẽ khuyến khích các sáng kiến mới để tăng thêm tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam

Các lĩnh vực mà chúng tôi thảo luận ngày hôm nay như sau:

• Giáo dục và Đào tạo;

• Thuế

• Khai thác mỏ

I Giáo Dục và Đào Tạo

Úc là một điểm đến học tập hàng đầu cho sinh viên tự túc Việt Nam và Úc cũng cộng tác về giáo dục và các sáng kiến đào tạo với Việt Nam, bao gồm cả đối thoại trong các lĩnh vực như đảm bảo chất lượng, công nhận trình độ chuyên môn và giáo dục nghề nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ đối tác tổ chức, tổ chức và hỗ trợ hội cựu sinh viên Úc Úc cũng

là nhà cung cấp lớn nhất của học bổng toàn phần cho Việt Nam

Hiệp Hội Doanh Nghiệp Úc tin rằng giáo dục là nền tảng cho sự phát triển của một nền kinh tế cạnh tranh sản xuất, sáng tạo và bền vững Một hệ thống giáo dục mạnh mẽ của công nghệ thông tin sẽ không chỉ cung cấp cho Việt Nam lượng nhân lực cần thiết để thúc đNy sự đổi mới và khuyến khích tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao năng lực của các công dân để có được chất lượng cuộc sống tốt hơn và đóng góp hiệu quả hơn cho phúc lợi

Trang 37

 Tổ chức Giáo dục quốc tế tại Việt N am thay vào đó nên được khuyến khích sử dụng nhân viên Việt N am nếu có thể và dựa trên thành tích

 Tổ chức Giáo dục quốc tế tại Việt N am thay vao đó phải được yêu cầu để chứng minh liên tục phát triển chuyên môn cho tất cả các nhân viên Việt N am, qua đó góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước

N ghị định 46 có một thông tư liên quan đang được thực hiện ngay lập tức, mặc dù ngày thực hiện được công bố là ngày 18 tháng 12 Điều này dẫn đến tác động tức thời và tiêu cực đối với tổ chức giáo dục quốc tế Trong khi đây là phạm vi không cần xem xét, hoạt động của họ đang bị cản trở Các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài cho lĩnh vực này sẽ dõi theo các tác động đối với những người đang hoạt động tại Việt N am, và có khả năng ghi nhận việc này khi quyết định quốc gia để đầu tư

Phải có giấy phép làm việc trước khi vào đất nước là bất lợi cho các tổ chức giáo dục quốc

tế bởi vì quá trình cấp phép có thể mất từ 14 đến 36 tuần - nhân viên trình độ cao sẽ chịu phải chờ đợi lâu, và những người chuNn bị sẵn sàng để chờ đợi sẽ không đến đúng thời gian giảng dạy khóa học mà họ đã được thuê

N hững khó khăn đổi mới giấy phép lao động của nhân viên nước ngoài có thể sẽ dẫn đến mất mát nhân viên, tác động ngay lập tức đến khả năng của các tổ chức giáo dục trong việc cung cấp dịch vụ chất lượng cao.Các kết quả trên, ngoài những tác động tiêu cực đối với tổ chức quốc tế sẽ còn có tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục tại Việt N am N goài ra, các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài trong lĩnh vực này sẽ xem xét các tác động đối với những người đang hoạt động tại Việt N am, và có khả năng ghi nhận việc này khi quyết định quốc gia để đầu tư

Các vấn đề khác thuộc lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo

Các lĩnh vực khác vẫn cần phải được theo dõi bao gồm:

• N ghiên cứu

• Chất lượng

• Dạy nghề và kỹ thuật giáo dục

• Luật đối với tổ chức giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài

• Cấp phép các trường quốc tế

• Phát triển kỹ năng

Trang 38

rất hữu ích nếu chúng tôi có thể nhận được một bản cập nhật tình hình hiện tại của nghị định

II Thuế

Chắc chắn, hiệu quả và thân thiện trong kinh doanh cần có ba đặc điểm của một hệ thống quy định lành mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế Khi Việt N am tiếp tục mở rộng cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài, Việt N am cần thiết lập những cải cách làm nổi bật những đặc điểm này

Chắc chắn: chắc chắn trong việc áp dụng pháp luật về thuế góp phần tạo niềm tin trong

kinh doanh và sự ổn định chung của hệ thống thuế

 Vấn đề giải thích khác nhau về các quy định thuế giữa các cơ quan thuế địa phương có thể được giảm thiểu nếu Việt N am phát triển một phương tiện có hệ thống dựa trên luật học / tiền lệ Điều này có thể đạt được bằng cách:

a Thiết lập một cấu trúc thuế chính thức

Sự khác biệt trong giải thích tại thành phố, cơ quan thuế tỉnh, dẫn đến áp dụng không phù hợp pháp luật về thuế và các quy định Chính phủ Việt N am nên xem xét việc thiết lập một cấu trúc thuế quốc gia hoặc Uỷ ban xem xét các trường hợp của người nộp thuế

mà những người này có thể không đồng ý với những phát hiện của cơ quan thuế địa phương

Điều này cung cấp cho các đối tượng nộp thuế với một quy định chính thức đối với trường hợp thuế của họ (và cuối cùng, không khuyến khích tham nhũng ở cấp địa phương) Quyết định của cấu trúc khiếu nại này nên được xem xét ràng buộc cụ thể đến các các ban ngành, và phải được coi là một tiền lệ cho các trường hợp trong tương lai

N ếu điều này được thực hiện, Việt N am sẽ có thể phát triển một nguồn trường hợp pháp luật phong phú

b Cải cách công văn và các quyết định của cấu trúc kháng cáo thuế được ban hành Với hệ thống hiện tại, văn bản pháp luật đặc trưng bởi sự mơ hồ trong điều kiện của cơ

sở thực tế và pháp lý trong điều khoản của pháp luật hiện hành và luật học Công văn do

cơ quan thuế ban hành nên được yêu cầu nêu rõ các sự việc, nguyên tắc cụ thể để dựa vào khi áp dụng và để hỗ trợ các kết luận

Trang 39

 Các quy định nên nêu rõ rang quy định nguồn thu nhập

Pháp luật về thuế, ví dụ, nên xác định cụ thể những gì được coi là thu nhập từ nguồn Việt N am cho các dịch vụ, bán cổ phần, trong số những nguồn khác Điều này tránh các tình huống trong đó Việt N am tìm kiếm các hạng mục thuế thu nhập thực sự ở bên ngoài thNm quyền của nó

 Việc ban hành các quy định thuế cấp dưới phải có đủ thời gian trước ngày có hiệu lực Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật sẽ không có hiệu lực ít nhất

là 45 ngày, kể từ ngày ban hành của nó Tuy nhiên, nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện pháp luật về thuế thường được ban hành chỉ vài ngày trước ngày có hiệu lực, một số thậm chí còn hiệu lực áp dụng (ví dụ như Thông tư 18/2011/TT-BTC ban hành ngày 10 tháng 2, 2011 và đã có hiệu lực sau 45 ngày Tuy nhiên kể từ khi ban hành, áp dụng cho toàn bộ năm thuế 2011) Việc này giúp tạo ra sự chắc chắn cho các doanh

nghiệp tuân thủ thuế và các kế hoạch tài chính

Hiệu quả: Xác định và loại bỏ những vấn đề bất cập trong hệ thống phải được tăng

tốc

 ĐNy mạnh thực hiện cải cách phát hành hoá đơn

Tại Việt N am, hoá đơn đỏ hiếm khi được cung cấp trừ khi người mua đặc biệt yêu cầu Thậm chí sau đó, hệ thống hướng dẫn ký kết và cắt hoá đơn đỏ vẫn không hiệu quả Tại các nước khác, các hóa đơn được in từ máy thu ngân được coi là biên lai thu chính thức và do đó, được coi là tài liệu hỗ trợ cho các khoản khấu trừ, các khoản tín dụng thuế giá trị gia tăng Điều này sẽ không chỉ giảm bớt gánh nặng cho người nộp thuế phải lập hoá đơn / biên lai, nhưng cũng giúp hính phủ để giám sát các khoản thanh toán thu nhập và thuế giá trị gia tăng

III Kinh doanh thân thiện

 Cải cách ưu đãi về thuế

Việt N am nên xem xét lại việc loại bỏ các ưu đãi cho các đối tượng nằm trong phạm vi các khu công nghiệp và ưu đãi cho việc mở rộng của các doanh nghiệp

N goài ra, ưu đãi thuế đối với các tổ chức giáo dục và y tế có thể nên nghiêm ngặt (ví dụ như cung cấp riêng theo quy định "xã hội hoá") mà tổ chức có thể đáp ứng Điều này làm cho các ưu đãi không thực tế

Trang 40

Chuyển các khoản lỗ phát sinh trước năm 2009 được thực hiện theo quy định hiện hành tại thời điểm phát sinh lỗ Doanh nghiệp phải hạch toán riêng sự mất mát của từng hoạt động điều hành và thực hiện sự mất mát đối với thu nhập của hoạt động điều hành tương ứng trong những năm tiếp theo Trong trường hợp doanh nghiệp không thể tính toán một cách riêng biệt, họ phải xác định những mất mát của mỗi hoạt động điều hành bằng cách phân bổ các mất mát qua việc sử dụng tỷ lệ doanh thu của hoạt động doanh thu các doanh nghiệp trong tổng số các năm phát sinh thiệt hại và thực hiện sự mất mát

trước trong cách thức như mô tả ở trên

IV Ngành Mỏ

Là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á, sự bùng nổ kinh tế của Việt

N am đã bỏ qua sự đóng góp của khai thác mỏ vào tổn sản phN quốc nội của đất nước và đNy mạnh việc chia sẻ khai thác mỏ liên quan đến vốn đầ tư trực tiếp nước ngoài của đất nước

N gành khai thác mỏ là một ngành công nghiệp có tiềm năng tăng đáng kể và do đó đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của Việt N am Việt N am là một đất nước giàu tài nguyên và khai thác mỏ và các dịch vụ liên quan đến cung cấp, vì vậy Việt N am có tiềm năng đáng kể trong tăng trưởng kinh tế trong tương lai

Sự ra đời của một môi trường quản lý chất lượng sẽ đảm bảo phát triển bền vững của ngành

và sự gia tăng kịch tính trong vốn đầu tư nước ngoài Luật Khoáng sản mới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 N gười Úc quan tâm lĩnh vực khai thác mỏ của Việt N am tuy nhỏ nhưng đang tăng Thành viên của Hiệp hội Doanh N ghiệp Úc tìm kiếm đối thoại ngày càng tăng giữa Chính phủ và doanh nghiệp trong lĩnh vực này để đề xuất các giải pháp cho các vấn đề và đưa ra quyết định thông báo chính sách

V Các Vấn Đề Khác

Điều kiện kinh tế hiện tại: Úc hoan nghênh tập trung của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ

mô như một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững và do đó hoan nghênh N ghị quyết 11 Một cam kết dài hạn để thực hiện đầy đủ N ghị quyết 11 sẽ là cần thiết để khôi

phục và duy trì lòng tin thị trường

Hạn chế về thương mại gần đây

Hiện tai, kinh doanh phải đối mặt với một số vấn đề tiếp cận thị trường và hạn chế ảnh hưởng đến thương mại Các biện pháp mới bao gồm một số lượng lớn xuất khNu của Úc sang Việt N am, bao gồm sản phNm có mức thuế được ràng buộc theo tổ chức mậu dịch thế

Ngày đăng: 24/07/2014, 20:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Năm thành lập Dịch vụ  (CN TT, - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình 2 Năm thành lập Dịch vụ (CN TT, (Trang 6)
Bảng 1: Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Bảng 1 Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm (Trang 7)
Hình 5: Đánh giá các lĩnh vực trong môi trường kinh doanh - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình 5 Đánh giá các lĩnh vực trong môi trường kinh doanh (Trang 8)
Hình 8: Lý do doanh nghiệp mở rộng kinh doanh - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình 8 Lý do doanh nghiệp mở rộng kinh doanh (Trang 11)
Hình 9: Chính phủ có nên kiên trì thực hiện các biện  pháp thắt chặt tiền tệ theo tinh thần NQ 11 cho tới khi - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình 9 Chính phủ có nên kiên trì thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ theo tinh thần NQ 11 cho tới khi (Trang 13)
Hình thức - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình th ức (Trang 52)
Hình thức huy - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình th ức huy (Trang 114)
Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được áp dụng trong những trường hợp sau - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
Hình th ức xử lý kỷ luật sa thải được áp dụng trong những trường hợp sau (Trang 159)
3. Hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, tùy theo tính chất công việc - DIỄN đàn DOANH NGHIỆP VIỆT NAM hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2011 hà nội 2 tháng 12 năm 2011
3. Hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, tùy theo tính chất công việc (Trang 162)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w