1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP MẠCH MÁU PTFE doc

6 619 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 105,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP MẠCH MÁU PTFE Đỗ Kim Quế * Đặt vấn đề: Phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới đòn cùng bên là p

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP

MẠCH MÁU PTFE

Đỗ Kim Quế * Đặt vấn đề: Phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới đòn cùng bên là phương pháp điều trị hiệu quả cho những

trường hợp hẹp động mạch dưới đòn, hoặc động mạch cảnh đơn độc Phẫu thuật này còn ít được áp dụng tại việt nam do tính chất hiếm gặp của bệnh lý các nhánh của cung động mạch chủ

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá kết quả trước mắt cũng như lâu dài của phẫu thuật cầu nối động

mạch cảnh dưới đòn cùng bên trong điều trị hẹp động mạch dưới đòn đơn thuần

Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân bị hẹp động mạch dưới đòn đơn độc được phẫu thuật cầu nối động

mạch cảnh dưới đòn cùng bên tại Bệïnh viện Chợ rẫy và bệnh viện Thống nhất trong thời gian 7 năm từ 1997 – 2004

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu Đánh giá các đặc điểm về tuổi, giới tính, biểu hiện lâm sàng Chẩn đoán

thương tổn dựa trên siêu âm Doppler và X quang động mạch

Phẫu thuật cầu nối động mạch dưới đòn cùng bên với ống ghép PTFE 6 mm cho những trường hợp tắc động mạch dưới đòn có triệu chứng lâm sàng và không có chỉ định làm PTA

Đánh giá kết quả dựa trên lâm sàng và siêu âm doppler động mạch khi xuất viện, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm sau mổ

Kết quả: Trong thời gian từ 10 / 97 đến 10 / 2004 chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật cầu nối cảnh dưới đòn cùng bên

cho 10 trường hợp tắc động mạch dưới đòn trái Tất cả các trường hợp đều được gây mê nội khí quản Đường mổ trên xương đòn trái 5 cm Cắt cơ bậc thang Động mạch cảnh chung được kẹp thành bên và ống ghép được khâu nối tận bên với động mạch cảnh chung với chỉ prolene 6-0 mũi liên tục Oáng ghép luồn sau tĩnh mạch cảnh trong, và khâu nối với động mạch dưới đòn Tất cả các trường hợp đều hết triệu chứng lâm sàng sau mổ Không tử vong, không biến chứng nặng sau mổ Tụ máu vùng mổ 1 trường hợp

Theo dõi từ 7 tháng – 43 tháng có 1 trường hợp tắc cầu nối sau 3 tháng, các trường hợp còn lại trong tình trạng ổn định

Kết luận: Phẫu thuật cầu nối cảnh dưới đòn cùng bên với ống ghép PTFE là một phẫu thuật an toàn và hiệu quả

trong điều trị hẹp động mạch dưới đòn đơn độc

CAROTIDOSUBCLAVIAN ARTERY BYPASS FOR SUBCLAVIAN ARTERY STENOSIS

Đỗ Kim Quế * - Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 7 – Supplement of No 1 - 2005:

Background: Carotidosubclavian bypass with PTFE graft is the best of choice operation for single subclavian or

carotid artery stenosis This operation is uncommon in Vietnam

The purpose of this study was review our experience with carotidosubclavian artery bypass for treatment of subclavian artery stenosis

Methods: Prospective Eveluate the clinical characteristics of stenosis of the subclavian artery Diagnosis was based

on Duplex scanning and angiography Ipsilateral carotidosubclavian bypass were performed for all of cases

* Tiến sĩ Y học, Phó trưởng khoa Ngoại– Bệnh viện Thống nhất Cán bộ mời giảng phân môn Ngoại Lồng ngực Tim mạch- Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

Result: From 10 / 1997 to 10 / 2004, 10 ipsilateral carotidosubclavian bypass were done in Choray hospital and

Thong nhat hospital All of cases have total occlusion of the suclavian artery Arteriosclerosis are the cause of it in 6 cases All of patients were diagnosed by Duplex scan and arteriography

Result: No procedure-related mortality was observed There are 1 wound infection, 1 bleeding in the incision among

10 operations Only one case had occluded after 3 month, the others are in good condition after 7 –43 months follow

up

Conclusions: Ipsilateral carotido-subclavian bypass are the simple and effective methods for treatment stenosis of

subclavian artery

MỞ ĐẦU

Năm 1967 Diethrich đã lần đầu tiên giới

thiệu phương pháp phẫu thuật cầu nối động

mạch cảnh dưới đòn.(1, 4) Từ đó tới nay phẫu

thuật này được xem như một phương pháp

ưu tiên được chọn lưạ trong điều trị những

trường hợp hẹp / tắc động mạch cảnh hay

dưới đòn đơn độc Các phẫu thuật phục hồi

lưu thông động mạch thân tay đầu và động

mạch dưới đòn qua đường mở ngực được

DeBakey áp dụng từ năm 1957 đã bị thu

hẹp chỉ định

Mặc dù tạo hình động mạch dưới đòn

xuyên lòng mạch qua da (PTA) có hoặc

không đặt stent đã được xem như một

phương pháp lý tưởng trong điều trị hẹp/tắc

động mạch dưới đòn từ sau khi Bachman và

Kim lần đầu tiên áp dụng thành công vào

năm 1980, (1, 2) tuy nhiên những trường hợp

tắc đoạn dài hoặc không có túi cùng động

mạch thì phẫu thuật cầu nối cảnh dưới đòn

cùng bên dược xem là phương pháp lý tưởng

trong điều trị tắc động mạch dưới đòn

Trong thời gian hơn 6 năm qua chúng tôi

đã điều trị cho 15 trường hợp tắc động mạch

dưới đòn đơn thuần trong đó phẫu thuật cầu

nối động mạch cảnh dưới đòn cùng bên được

áp dụng cho 10 trường hợp

Nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng,

phương pháp chẩn đoán và hiệu quả của

phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới

đòn cùng bên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Chúng tôi nghiên cứu tiền cứu tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán hẹp / tắc động mạch dưới đòn đơn thuần được điều trị phẫu thuật cầu nối cảnh dưới đòn cùng bên tại bệnh viện Chợ rẫy và bệnh viện Thống nhất TP Hồ Chí Minh trong thời gian từ 10/1997 – 10/ 2004

Chẩn đoán dựa trên siêu âm Duplex mạch máu và chụp X quang động mạch số hoá xoá nền (DSA)

Chỉ định phẫu thuật bắc cầu nối động mạch cảnh dưới đòn cùng bên với ống ghép PTFE cho những trường hợp tắc hoàn toàn trên 2 cm, hẹp không đồng trục

Đánh giá tỉ lệ tử vong, tần suất các biến chứng liên quan tới phẫu thuật Kết quả phẫu thuật được đánh giá dựa trên lâm sàng với sự xuất hiện trở lại của mạch quay, hết chênh lệch huyết áp, và kết quả siêu âm Doppler kiểm tra khi xuất viện, vào các lần tái khám sau 3 tháng, 6 tháng, và mỗi năm sau đó

SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:

Tuổi và giới:

Có 10 bệnh nhân bị tắc động mạch dưới đòn được điều trị với cầu nối động cảnh dưới đòn cùng bên trong đó 7 bệnh nhân nam,

Trang 3

tuổi trung bình là 32.2 nhỏ tuổi nhất là 15 và

lớn tuổi nhất là 55

0

1

2

3

4

<20 20 - 29 30 -39 40 - 49 50 - 59

Nữ Nam

Triệu chứng lâm sàng

Phần lớn bệnh nhân vào viện vì triệu

chứng thiếu máu nuôi tay mạn tính hoặc bởi

chóng mặt, ngất xỉu do thiếu máu não

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng Số trường

Đau cách hồi 9 90.0

Hoai tử đầu ngón 2 20.0

Chóng mặt 5 50.0

Mất mạch 10 100

Đau cách hồi là triệu chứng thường gặp

nhất với tần suất 90% , hoại tử đầu chi chỉ

thấy ở 2 trong 10 trường hợp 50% các

trường hợp hẹp động mạch dưới đòn có biểu

hiện thiếu máu não thoáng qua

Vị trí và mức độ thương tổn:

Chúng tôi đánh giá mức độ thương tổn

dựa trên X quang động mạch và đối chiếu

với đánh giá tổn thương trong mổ

Cả 10 trường hợp hẹp động mạch dưới

đòn chúng tôi gặp đều bị tắc hoàn toàn, 6

trường hợp có hội chứng lấy cắp máu từ

động mạch cột sống

Bảng 2: Vị trí thương tổn

Dưới đòn trái 9 90.0 Dưới đòn phải 1 10.0

Tổn thương phối hợp:

Bảng 3: Tổn thương phối hợp

Tổn thương phối hợp Số T.hợp %

Hẹp đ-mạch cột sống 1 4.1 Tắc đ-mạch chi dưới 4 16.6 Cao huyết áp 4 16.6

Nguyên nhân:

Trong 10 trường hợp tắc động mạch dưới đòn chúng tôi gặp có 5 trường hợp do xơ vữa động mạch được xác định qua giải phẫu bệnh lý

2 bệnh nhân tắc động mạch dưới đòn do chấn thương cũ

3 trường hợp còn lại do Takayashu dựa trên tuổi bệnh nhân, đặc điểm thương tổn động mạch và kết quả giải phẫu bệnh lý có biểu hiện viêm động mạch không đặc hiệu

Phương pháp điều trị:

Phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới đòn cùng bên được áp dụng trong cả 10 trường hợp

Tất cả các trường hợp được mổ với đường mổ trên xương đòn, với phương pháp vô cảm mê nội khí quản

Động mạch cảnh chung và động mạch dưới đòn được bộc lộ và đặt dây thắt tạm Tất cả các trường hợp đều được chúng tôi sử dụng ống ghép mạch máu PTFE làm vật liệu thay thế

Trang 4

Tất cả các trường hợp cầu nối đều được

đặt sau tĩnh mạch cảnh trong

Miệng nối tận bên cầu nối với động

mạch cảnh chung được thực hiện trước với

kẹp tạm thời động mạch cảnh chung

Miệng nối giữa cầu nối và động mạch

dưới đòn theo kiểu tận bên trong 3 trường

hợp, 7 trường hợp còn lại được nối theo kiểu

tận bên

Kết quả điều trị

Tất cả các trường hợp đều hết triệu

chứng lâm sàng sau điều trị Không bệnh

nhân nào tử vong, không trường hợp nào

phải đoạn chi

Có 1 trường hợp nhiễm trùng vết mổ,

một trường hợp chảy máu vết mổ

Chúng tôi theo dõi bệnh nhân từ 10 - 50

tháng có một trường hợp tắc cầu nối sau 3

tháng, một trường hợp nhồi máu cơ tim sau

phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới

đòn trái cùng bên 17 tháng Các trường hợp

còn lại không xuất hiện dấu hiệu hẹp / tắc

tái phát

BÀN LUẬN

Mặc dù ít gây hoại tử chi do có nhiều

vòng nối động mạch nhưng tắc mạch chi

trên gây ảnh hưởng chất lượng cuộc sống

cho bệnh nhân Giống như các nghiên cứu

khác triệu chứng thiếu máu nuôi chi và thiếu

máu não thoáng qua là các biểu hiện lâm

sàng thương gặp của hẹp / tắc động mạch

dưới đòn Trong nghiên cứu của chúng tôi

tất cả các trường hợp tới nhập viện đều đã

có triệu chứng lâm sàng

Trong nghiên cứu của Bergamini (3) 5%

các trường hợp không có triệu chứng lâm

sàng, các triệu chứng lâm sàng thường gặp là:

Bảng 4:

Triệu chứng Tần suất Thiếu máu nuôi tay

Thiếu máu não ( Steal sydrome)

Phối hợp Không TCLS

24 / 80

28 / 80

24 / 80

04 / 80 Ali F AbuRhama và cs (1) đã tổng kết kinh nghiệm 20 năm tại Đại học Y West Virginia với 109 bệnh nhân bị hẹp / tắc động mạch dưới đòn 67% các trường hợp có biểu hiện thiếu máu nuôi tay, 53% các trường hợp có biểu hiện thiểu năng tuần hoàn hệ động mạch cột sống thân nền và 9% các trường hợp có hội chứng “ lấy cắp máu” Động mạch dưới đòn trái thường bị thương tổn hơn, trong nghiên cứu của chúng tôi 90.0% các trường hợp tổn thương ở bên trái Nghiên cứu của AbuRhama cũng có tỉ lệ tương tự: 86% tổn thương ở bên trái và 14% tổn thương bên phải

Nguyên nhân của tắc động mạch mạn tính chi trên thường gặp nhất vẫn là XVĐM, các nguyên nhân khác ít gặp hơn như viêm động mạch Takayashu, viêm sợi cơ động mạch, viêm nút động mạch, các bất thường về gải phẫu, chấn thương (Thoracic outlet syndrome).(6, 10, 11)

50% các trường hợp tắc động mạch dưới đòn trong nghiên cứu của chúng tôi có nguyên nhân xơ vữa động mạch, 30.0% các trường hợp do bệnh Takayashu, chấn thương cũ là nguyên nhân của các trường hợp còn lại

Chẩn đoán tắc động mạch dưới đòn chủ

yếu dựa trên siêu âm Duplex mạch máu, CT

Trang 5

scan, MRI X quang động mạch vẫn là

phương pháp lý tưởng giúp xác định chính

xác vị trí, mức độ và hệ thống tuần hoàn

bàng hệ trong tắc động mạch mạn tính chi

trên cũng như chi dưới

Về điều trị tắc động mạch dưới đòn:

Chỉ định can thiệp phẫu thuật cho những

trường hợp có triệu chứng lâm sàng, hoăïc

hẹp trên 80% khẩu kính động mạch, hoặc

hẹp động mạch > 50% khẩu kính và có

mảng loét trên nội mạc động mạch (2, 4)

Tạo hình động mạch xuyên qua lòng

động mạch qua da (PTA) ngày nay đãù trở

thành phương pháp được lựa chọn đầu tiên

cho những trường hợp hẹp động mạch dưới

đòn (4,7)

Mặc dù PTA là phương pháp lý tưởng để

điều trị tắc động mạch dưới đòn mạn tính,

tuy nhiên trong những trường hợp tắc hoàn

toàn trên 3 cm, hoặc hẹp trên 5 cm, hoặc

trường hợp tắc không có túi cùng thì phương

pháp này không thể áp dụng được

Phẫu thuật được chỉ định cho những

trường hợp không thực hiện được PTA

Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch là

phương pháp được chọn lựa cho những

trường hợp tắc động mạch dưới đòn Có 2

loại cầu nối động mạch: Trong ngực và

ngoài ngực

Cầu nối động mạch trong ngực có ưu

điểm là phục hồi lưu thông động mạch theo

giải phẫu, thám sát được vị trí động mạch bị

thương tổn, và lưu lượng máu qua cầu nối

cao, tuy nhiên tỉ lệ tử vong và biến chứng

cao hơn

Cầu nối ngoài ngực có tỉ lệ biến chứng

và tử vong thấp, kết quả trước mắt và lâu

dài tương đương cầu nối trong ngực Các cầu

nối ngoài ngực gồm: cầu nối cảnh dưới đòn

cùng bên, cảnh dưới đòn đối bên và dưới đòn - dưới đòn hoặc nách - nách

Việc chọn lựa phương pháp phẫu thuật còn tùy thuộc tình trạng bệnh nhân và tổn thương 1 hay nhiều nhánh của cung động mạch chủ Trường hợp động mạch cảnh cùng bên không bị tổn thương thì phẫu thuật bắc cầu nối động mạch từ động mạch cảnh tới dưới đòn là phương pháp được lựa chọn(2,3,4).

Cầu nối động mạch cảnh – dưới đòn cùng bên có những ưu điểm : phẫu thuật đơn giản, tỉ lệ biến chứng và tử vong thấp. (5,8,12)

Theo nghiên cứu của AbuRahma và cs tỉ lệ tử vong của phẫu thuật này là 0%, 6% có biến chứng sớm sau mổ, thời gian nằm viện trung bình chỉ có 2,1 ngày

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có tử vong, chỉ có 2 trường hợp (9.5%) có biến chứng nhẹ

Một trong những vấn đề cần nghiên cứu trong phẫu thuật cầu nối động mạch là việc chọn lựa ống ghép làm cầu nối Trong cả 10 trường hợp phẫu thuật phục hồi lưu thông động mạch dưới đòn chúng tôi sử dụng ống PTFE thay thế mạch máu

Theo AbuRahma và cs (1) PTFE cho kết quả lâu dài tốt nhất so với ống Dacron và tĩnh mạch tự thân khi làm cầu nối động mạch cảnh dưới đòn Tỉ lệ ống ghép còn thông sau 5 năm là 95.2% cho ống PTFE, 83.9% cho ống Dacron, và 64.8% cho tĩnh mạch tự thân

Kết quả lâu dài của cầu nối động mạch cảnh – dưới đòn trái cùng bên rất khả quan,

tỉ lệ bệnh nhân không còn triệu chứng lâm sàng sau 1, 3, 5, 10 năm lần lượt là: 100%, 96%, 82%, và 47%.(1,8,12)

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 1 trường hợp bị tắc ống ghép sau 3 tháng, các

Trang 6

trường hợp khác ống ghép vẫn thông tốt qua

thời gian theo dõi từ 10 tới 50 tháng

KẾT LUẬN:

Phẫu thuật cầu nối động mạch cảnh dưới

đòn cùng bên với ống ghép PTFE là phương

pháp điều trị triệt để hiệu quả, ít biến chứng

cho những trường hợp tắc động mạch dưới

đòn đơn độc

Kết quả lâu dài của cầu nối động mạch

cảnh dưới đòn cùng bên rất khả quan, tỉ lệ

hẹp tái phát thấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Ali F AbuRahma, Patrick A Robinson,

Tucker G Jenning, : Carotid – subclavian

bypass grafting with

polytetrafluoroethylene grafts for

symptomatic subclavian artery stenosis

or occlusion J Vasc Surg.2000;

3:411-418

2 G.J van Andel: Percutaneous

Transluminal Angioplasty- Dotter’

Procedure Exerpta Media Amsterdam,

1976

3 T.M Bergamini: Surgical management

of chronic upper extremities ischemia In

Vascular Diseases, D.E Strandness, A

Breda, Churchill Livingstone Inc 1994

p524-538

4 J Bonn, M C Soulen:Thrombolysis and

Angioplasty in Upper Extremities

Arteries Diseases In Vascular Diseases,

D.E Strandness, A Breda, Churchill

Livingstone Inc 1994

5 Fry WR, Martin JD, Cladgett GP, Fry

WJ Extrathoracic carotid recontruction:

the subclavian-carotid artery bypass J

Vasc Surg 1992; 15:83-9

6 I Linsay, M.E DeBakey, A.C Beall: Diagnosis and treatment of Diseases of the Aorta In Hurst’s The Heart, 8th Ed ,

1994, p 2163-2166

7 Malek-AK; Rowinski-O; Ostrowski-T; Hilgertner-L; Januszewicz-M; Szostek-M: Transcutaneous balloon angioplasty

in the treatment of subclavian steal syndrome Characteristics of vertebral basal flow with transcranial Doppler technique Pol-Tyg-Lek 1995 Oct; 50(40-44): 19-22

8 Perler BA, Williams GM, Carotid-subclavian bypass – A decade experience J Vasc Surg 1990; 12:716-23

9 RB Peyton, OW Isom: Occlusive diseases of branches of the aorta In Surgery of the Chest, 6th Ed DC

Sabiston and FC Spencer, WB Saunder Company 1995 p.1358-1365

10 D.C Sabiston: Takayashu’s disease In Sabiston Textbook of Surgery, 15th Ed

1997, p.1679-1682

11 HC Urschel, MA Razzuk: Thoracic Outlet Syndrome In Surgery of the Chest, 6th Ed DC Sabiston and FC

Spencer, WB Saunder Company 1995 p.613-633

12 Vitti MJ, Thompson BW, Read RC, Gagne PJ, Barone GW, Barnes RW, et

al Carotid-suclavian bypass: a twenty-two year experience J Vasc Surg 1994; 20:411-8

Ngày đăng: 24/07/2014, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Vị trí thương tổn. - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP MẠCH MÁU PTFE doc
Bảng 2 Vị trí thương tổn (Trang 3)
Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng. - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP MẠCH MÁU PTFE doc
Bảng 1 Triệu chứng lâm sàng (Trang 3)
Bảng 3: Tổn thương phối hợp. - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CẢNH DƯỚI ĐÒN CÙNG BÊN TRONG BẰNG ỐNG GHÉP MẠCH MÁU PTFE doc
Bảng 3 Tổn thương phối hợp (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w