1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP part 8 pptx

11 319 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 442,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta cần đúc kết kinh nghiệm làm VAC ở các vùng sinh thái, đưa những hệ sinh thái, đưa những tiến bộ thích họp vào VAC, xây dựng những hệ sinh thái bền vững có khả năng đáp ứng nhu c

Trang 1

khỏi đói nghèo bắt kịp đà tiến chung, giữ vững ổn định xã hội và

phát triển bền vững

III HỆ THỐNG VƯỜN AO CHUỒNG (VAC) - MỘT SÁNG TẠO

CỦA NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG VIỆT NAM

1 Truyền thống và cơ sở khoa học

Làm VAC kết hợp làm vườn, nuôi cá và chăn nuôi là truyền

thống lâu đời của nhân dân ta Đây là một sáng tạo của nông dân

Việt Nam, trong thiếu thốn, nghèo túng vẫn biết sử dụng hợp lý

nhất nguồn tài nguyên sẵn có để tạo ra vật chất cho cuộc sống no

đủ hơn Đây cũng là đóng góp của nông dân ta vào kho kinh

nghiệm phong phú của nhân loại Các hệ thống này đang cần được

sự đóng góp cải tiến cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã

hội

Tác giả Nguyễn Văn Mấn (1996) đã nghiên cứu và phác họa

các đặc điểm của hệ thống VAC ở nước ta ở vùng đồng bằng

Sông Hồng mực nước thấp, khi làm nhà thường phải đào đất đắp

cao nền (đào ao vượt thổ); do đó hình thành một cái ao ngay cạnh

nhà ở Vì vậy ta thấy phổ biến ở đây nhà nào cũng có vườn lại có

ao, “vườn trên, ao dưới”, “vườn sau, ao trước” Vừa trồng trọt lại

vừa chăn nuôi, nuôi cá, người ta đã thu được một khối lượng sản

phẩm quan trọng cho tiêu dùng gia đình; phần sản phẩm dôi ra thì

đem trao đổi trên thị trường

Kinh nghiệm làm VAC đã được áp dụng ở các địa phương

trong cả nước với những mô hình khác nhau (VAC vùng đồng

bằng, VAC vùng trung du, miền núi,VAC vùng đồng bằng sông

Cửu Long )

Hệ thống VAC hình thành từ kinh nghiệm lâu đời của nhân dân ta có một cơ sở khoa học vững chắc:

a/ Kỹ thuật áp dụng trong VAC là kỹ thuật thâm canh sinh học cao Trong vườn cây trồng theo nhiều tầng, trồng xen, trồng gối, cho cây leo lên giàn; dưới ao nuôi nhiều loại cá theo các tầng nước khác nhau,sử dụng một cách hợp lý nhất năng lượng mặt trời, đất đai, mặt nước, vốn đầu tư không nhiều mà hiệu quả kinh tế lại cao b/ Kỹ thuật làm VAC dựa trên chiến lược tái sinh: tái sinh năng lượng mặt trời thông qua quang hợp của cây trồng và tái sinh chất thải, làm sạch môi trường Năng lượng mặt trời thông qua quang hợp được tái tạo dưới dạng năng lượng chứa trong sản phẩm thực vật dùng làm thức ăn cho người và gia súc, củi đun và nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp Các chất thải được đưa vào những chu trình sản xuất mới và cũng được biến thành những sản phẩm hữu ích

c/ Kỹ thuật VAC là điển hình của hệ thống nông nghiệp hữu

cơ (organic farming) ở đó, người ta sử dụng rất ít hóa chất (do gần nhà ở), ít máy móc, sức lao động chủ yếu là người trong nhà, và sử dụng tối đa nguồn thức ăn, vật tư tại chỗ

2.VAC và nông nghiệp bền vững

Hệ sinh thái VAC là đề cập đến các hệ thống gia đình (family systems), ở đó người chủ gia đình (vợ hay chồng) lựa chọn và quyết định các biện pháp kinh tế để đạt được các mục tiêu mong muốn Những quyết định của họ liên quan đến tài nguyên và việc

sử dụng nó, việc tổ chức kinh tế gia đình, các ngành nghề thường xuyên hoặc vụ mùa, các hoạt động xã hội mà họ tham gia, tất cả hình thành một tập hợp hợp lý nhất và hiệu quả nhất Các hệ thống

Trang 2

gia đình kết hợp chặt chẽ với hệ thống nông nghiệp trong cộng

đồng làng xã phản ánh hoạt động kinh tế và bộ mặt xã hội nông

thôn Mô hình VAC là điển hình của sự kết hợp giữa chăn nuôi,

trồng trọt, nuôi cá trong phạm vi hộ gia đình Hệ sinh thái VAC

của chúng ta rất gần gũi với nền nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp về mặt kinh tế

bảo đảm được hiệu quả lâu dài cho cả tương lai; Về mặt xã hội

không làm gay gắt sự phân hoá giàu nghèo, nhằm bảo hộ một bộ

phận lớn nông dân, không gây ra những tệ nạn xã hội nghiêm

trọng; về mặt tài nguyên môi trường, không làm cạn kiệt tài

nguyên, không làm suy thoái và huỷ hoại môi trường

Để xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, người ta dựa vào

việc khảo sát các hệ sinh thái tự nhiên, dựa vào kinh nghiệm quý

báu của những hệ canh tác truyền thống và những kiến thức khoa

học

Trong những hệ sinh thái cổ truyền Việt Nam, hệ sinh thái

VAC có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của một nền nông

nghiệp bền vững vì:

- VAC đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu bền (bảo đảm cân

bằng sinh thái và cải tạo bồi bổ đất đai )

- VAC góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập và tạo

thêm công ăn viêc làm, cải thiện đời sống của các gia đình nông

dân

- VAC góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra một môi trường

trong lành, sạch đẹp Phát triển VAC là xây dựng một nền nông

nghiệp sinh thái, một nền nông nghiệp sạch

Chúng ta cần đúc kết kinh nghiệm làm VAC ở các vùng sinh thái, đưa những hệ sinh thái, đưa những tiến bộ thích họp vào VAC, xây dựng những hệ sinh thái bền vững có khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sống, nhu cầu phát triển đất nước mà không làm suy thoái môi trường, không làm huỷ hoại tài nguyên như xu hướng phát triển theo “mô hình phương tây” với việc sử dụng quá nhiều năng lượng hoá thạch trong nông nghiệp

3 Tác dụng của hệ sinh thái VAC

Sự phát triển hệ sinh thái VAC trong trong nông nghiệp đã góp phần to lớn vào công cuộc phát triển chung của đất nước Nó phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế và văn hoá của một đất nước tuy còn nghèo nhưng đầy sức sống

a/ Trước hết VAC đã cung cấp tại chỗ một nguồn thực phẩm

đa dạng, phong phú, góp phần cải tiến bữa ăn, cải thiện dinh dưỡng và bảo đảm an toàn lương thực ở các hộ gia đình VAC cũng đã làm tăng thu nhập của gia đình, và góp phần đáng kể vào phong trào xoá đói giảm nghèo trong cả nước

b/ VAC góp phần đẩy mạnh thâm canh và đa dạng hoá nông nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở đồng bằng thông qua làm VAC, những vườn tạp, những diện tích làm cây lương thực năng suất thấp, sản xuất bấp bênh, những diện tích mặt nước bỏ hoang hay thả cá năng suất thấp được cải tạo thành những hệ thống sản xuất theo hướng thâm canh đạt năng suất và hiệu quả cao Tiềm năng to lớn của vùng đồng bằng được khai thác hợp lí hơn, sản xuất đa dạng phong phú hơn, đem lại thu nhập tăng gấp nhiều lần trước đây Điều quan trọng hơn nữa là VAC đã góp phần tích cực vào việc khai thác vùng ven biển

Trang 3

và nhất là vùng trung du và miền núi Nhiều mô hình VAC ở vùng

biển đã cải tạo được vùng đất cát, đất lầy thụt, chua mặn, phát

triển nuôi trồng thủy sản, bảo vệ cải tạo môi trường giữ được thế

cân bằng sinh thái ở trung du và miền núi, học tập các mô hình

VAC, nhiều gia đình nông dân đã khai thác những triền đất dốc,

xây dựng các vườn đồi, vườn rừng, thực hiện định canh, định cư,

tổ chức những trang trại trù phú, hỉnh ảnh những vùng nông thôn

giầu đẹp Trung du miền núi chiếm 3/4 diện tích của cả nước và

còn hàng triệu hecta đất trống, đồi trọc có thể khai thác sử dụng

Phát triển VAC và các trang trại là một biện pháp hữu hiệu góp

phần khai thác trung du miền núi, cải tạo bảo vệ đất đai, cải tạo

môi trường, mở ra một thế mới cho nông nghiệp thực hiện một sự

phân công lao động mới và một chuyển biến cách mạng trong kinh

tế nông nghiệp và nông thôn

c/ Phát triển VAC thu hút nhiều lao động vào sản xuất chế

biến, tiêu thụ sản phẩm, tạo thêm việc làm ở nông thôn góp phần

hạn chế việc lao động ở nông thôn tập trung ra các thành phố

Lao động trong VAC phù hợp với nhiều lứa tuổi, thích hợp với

người già, trẻ em, phụ nữ có con nhỏ, với cán bộ công nhân viên

tại chức cũng như đã nghỉ hưu Làm VAC có thể tận dụng được thì

giờ nhàn rỗi để tăng thu nhập, cải thiện đời sống

d/ VAC góp phần cải tạo môi trường, tạo ra cảnh quan thanh

bình, là nơi giải trí lành mạnh, nơi di dưỡng tuổi già, nơi diễn ra

các hoạt động văn hoá du lịch Và như vậy VAC đã góp phần

không nhỏ cho cuộc sống văn hoá lành mạnh

e/ Những việc trên không thể nào thực hiện được nếu không

có một lớp người mới, những người nông dân có tri thức biết áp

dựng các kỹ thuật thích hợp tiên tiến VAC đã tập hợp được đông đảo nông dân, huấn luyện và hướng dẫn họ thực hiện các quy trình

kỹ thuật mới

4 Sự phát triển của phong trào VAC tại Việt Nam và triển vọng

Như ta biết VAC đã nảy sinh từ lâu đời, là sáng tạo của nông dân nước ta

Nói đến mô hình VAC là nói đến việc khai thác tiềm năng kinh tế của đơn vị hộ gia đình, là sử dụng hợp lý nhất tài nguyên

bé nhỏ của từng gia đình cho mục đích: trước hết là cung cấp thức

ăn cho bữa ăn hàng ngày và tăng thêm thu nhập cho chỉ tiêu trong gia đình Theo một số điều tra của VACVINA thì thu nhập do mô hình VAC chiếm từ 50-70% thu nhập gia đình ở một số vùng như miền núi tỉ lệ này có thể tới 80-90% (Nguyễn Văn Mấn, 1996) Sau hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế gia đình bị xem nhẹ, mô hình VAC không phát triển được Từ sau đổi mới kinh tế, Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, phong trào VAC mới phát triển mạnh

Đầu tiên người ta lo tu bổ ao, vườn quanh nhà để tăng thêm nguồn thực phẩm cho bữa ăn và có ít nhiều thu nhập Phong trào được mở rộng dần và những năm 90 có phong trào “cải tạo vườn tạp” loại bỏ giống cây xấu, ít sinh lợi để làm vườn “chuyên canh” như ở vùng đồng bằng Những năm gần đây Nhà nước có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, ở nhiều nơi VAC được mở rộng quy mô phần lớn là tầm trung có một vài héc ta, một số ít là lớn đến hàng chục hàng trăm héc ta Những vườn đồi, vườn rừng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả đã xuất hiện ở các

Trang 4

vùng núi và trung du ở đồng bằng nhiều mảnh đất, mặt nước được

đưa vào chăn nuôi nuôi thủy sản

Quy mô VAC mở rộng đòi hỏi phải ứng dụng giống mới, kỹ

thuật mới, cần đào tạo cán bộ, huấn luyện nông dân

Sự phát triển của phong trào VAC tuy vậy vẫn còn nhiều khó

khăn Các hạn chế nhất vẫn là qui mô ruộng đất của các hộ còn rất

thấp, trừ một số vùng đồi núi Vốn cũng là một trở lực không nhỏ

trong khi nguồn vốn vay của ngân hàng không được như mong

muốn, nhất là vốn vay trung và dài hạn Trình độ nông dân không

đồng đều, thiếu thông tin kỹ thuật và thị trường Có thể thấy rất rõ

một số điểm yếu của mô hình VAC đó là môi trường vệ sinh, ví

như phân vịt, nước rửa chuồng xả thẳng xuống ao nuôi bèo, nuôi

cá Vì vậy khó đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm Hố ủ biogas

có thể giúp cải thịên tình hình, tuy không triệt để Việc khống chế

dịch bệnh cũng sẽ khó khăn thêm mỗi khi có dịch phát sinh Cũng

cần nói thêm là do thâm canh, lượng thuốc trừ sâu và phân hoá

học sử dụng nhiều đã làm thay đổi môi trường sinh thái, tăng ô

nhiễm nguồn nước và gây trở ngại không nhỏ cho sản xuất theo

mô hình VAC

Vì vậy để đáp ứng đòi hỏi của cạnh tranh trong hội nhập, cần

phải khắc phục các yếu kém trở ngại nói trên thông qua chính sách

thích hợp và đẩy mạnh công tác khuyến nông Con đường phát

triển VAC còn nhiều khó khăn nhưng cũng rất hứa hẹn Từ tự túc

tự cấp, mô hình VAC đang ngày càng hướng tới sản xuất hàng hoá

với năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm cao hơn Sự phát

triển ấy phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp đem lại lợi ích cho mỗi nhà, góp phần xây dựng một nền

nông nghiệp bền vững

IV VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Phụ nữ nước ta chiếm khoảng 52% dân số Nói đến phụ nữ là nói đến tấm gương trung hậu, đảm đang và đức độ hy sinh cho chồng con để làm nên cuộc sống yên vui cho mỗi gia đình và cho

xã hội Thế nhưng trong lịch sử hàng nghìn năm địa vị người phụ

nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn còn rất thấp Họ vẫn là những người làm nhiều giờ nhất trong ngày với bộn bề công việc đồng áng, chăm sóc con cái và lo cơm ngon canh ngọt cho cả gia đình Nhưng họ vẫn là những người thiệt thòi nhất, có tiếng nói nhỏ bé nhất trong xã hội Công cuộc giải phóng phụ nữ tuy đã đạt được nhiều thành qủa nhưng bình đẳng giữa nam và nữ vẫn còn là một khỏang cách lớn, với bao thói quen tệ hại, đặc biệt là ở nông thôn Theo tính toán thì lao động nữ chiếm từ 60 đến 70% lao động nông nghiệp nói chung Họ đã đóng góp cho những mùa bội thu chủ yếu bằng lao động của đôi tay mình

Sau Cách mạng 1945 vai trò của phụ nữ nước ta ngày càng được nâng dần lên Hội Liên hiệp Phụ nữ đã tập hợp hơn 12 triệu thành viên phụ nữ tuổi từ 18 đến 60, trong đó có cả những dân tộc thiểu số Các hoạt động của Hội phụ nữ nhằm nâng cao nhận thức và khả năng của hàng chục triệu con người mà số phận của họ từ lâu đòi hỏi phải được giải phóng Các hoạt động của Hội phụ nữ nhằm vào những mục tiêu sau đây:

1 Nâng cao kiến thức và bình đẳng về giới

2 Hỗ trợ các hoạt động của phụ nữ nhằm nâng cao thu nhập (thông qua vốn tín dụng cho vay, huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật v.v

3 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình

Trang 5

4 Tham gia thực hiện và giám sát các chính sách của nhà

nước về phụ nữ và trẻ em

Hội phụ nữ đã có một hệ thống tổ chức từ Trung ương đến các

thôn xã thông qua các dự án, đã đóng góp quan trọng cho công

cuộc xóa đói giảm nghèo, kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ tăng

dân số Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các dự án xóa đói

giảm nghèo, sức khỏe phụ nữ trẻ em đã chọn Hội phụ nữ các cấp

làm điểm tựa chủ yếu và thành quả thu được là rất đáng tự hào

Trong lĩnh vực chăn nuôi, hầu hết công việc quản lý của các trại

hộ gia đình đều phần lớn trong tay người phụ nữ, bởi nó liên quan

đến công việc quản lý gia đình nói chung Không thể phủ nhận vai

trò của nam giới trong các công việc nặng nhọc trong nông nghiệp,

nhưng nữ giới bao giờ cũng nổi tiếng bởi sự kiên trì tỉ mỉ và khéo

léo Những ưu điểm này là rất phù hợp với lao động trong lĩnh vực

chăn nuôi Một hiện tượng rất thú vị có thể nêu ra đây đó là không

những ở nước ta mà ở hầu hết các nứơc đang phát triển, trong khi

thực hiện các dự án ở nông thôn người ta thường lấy người phụ nữ

làm chủ hộ cho vay để đảm bảo số tiền đó được thực sự dùng cho

sản xuất Theo báo cáo của Hội phụ nữ Trung ương thì việc thực

hiện công tác tín dụng cho vay do Hội quản lý là rất khả quan, hầu

hết số nợ đều được giao trả sòng phẳng đúng hạn, tỷ lệ thất thóat

là rất thấp Ở đây ngoài yếu tố mang bản chất của người phụ nữ

còn có lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm của họ đối với tổ chức

Hội của mình

Cần thiết phải hỗ trợ mạnh mẽ cho Hội thông qua công tác đào

tạo khuyến nông để chị em nắm vững các kỹ thuật mới thích hợp

và nâng cao trình độ quản lý kinh tế hộ trong cơ chế thị trường

V MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CHĂN NUÔI HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO Ở VIỆT NAM

Các chính sách chăn nuôi hỗ trợ người nghèo xuất phát từ các căn cứ sau:

Nước ta đất hẹp, dân đông, giải quyết công ăn việc làm là một việc cấp thiết hàng đầu

Nước ta vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới và hơn 90% số hộ nghèo lại là ở nông thôn

Chăn nuôi là một nghề truyền thống, có thể nhanh chóng góp phần xoá đói giảm nghèo

Nước ta có tài nguyên đa dạng, lực lượng lao động dồi dào, dân trí tương đối khá, nếu có chính sách hỗ trợ tốt thì sự phát triển

là rất có hiệu quả

Phải nói rằng nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm đến người nghèo và thành công của chương trình xoá đói giảm nghèo đã được thế giới công nhận Chỉ tính trong khoảng thời gian từ 1990 đến

2000 số lượng hộ đói nghèo đã giảm đi một nửa từ 34% xuống còn 17,2% (theo chuẩn nghèo cũ) Có một loạt chính sách, dự án đã ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển chăn nuôi hộ gia đình

Chiến lược toàn cục xoá đói giảm nghèo và phát triển của Việt Nam

Quyết định 14/CP về quản lý các giống vật nuôi bản địa Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp giai đoạn 2000-2005

Chương trình bảo tồn nguồn gen vật nuôi, chương trình cấp nhà nước có ý nghĩa về kinh tế lẫn gìn giữ đa dạng sinh học của môi trường sống

Chương trình phát triển bò sữa, bò thịt 2001- 2010

Trang 6

Chương trình hỗ trợ các xã nghèo nhất (trên 300 xã)

Thành lập ngân hàng người nghèo - một cố gắng lớn của nhà

nước nhằm giúp đỡ người nghèo

Bên cạnh sự giúp đỡ phát triển, một số dự án đã chú ý đến việc

đào tạo và các kỹ thuật bền vững phù hợp với kinh tế và khả năng

người nghèo

Tuy nhiên phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng trong khi

công tác xoá đói giảm nghèo được chú trọng và thu được kết quả

rõ rệt thì công tác nghiên cứu đối với chăn nuôi hộ gia đình quy

mô nhỏ còn rất ít và hiệu quả chưa có mấy Có nhiều nguyên nhân,

trong đó có quan niệm lệch lạc xem nhẹ nghiên cứu cho hộ nghèo

mà thường chú ý nghiên cứu cho trang trại vì dễ làm, dễ thấy hiệu

quả hơn

VI NGHIÊN CỨU PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO - NHỮNG NGƯỜI

SẢN XUẤT NHỎ

Trong nông nghiệp, vấn đề nghiên cứu khoa học phục vụ

người nghèo, thành phần đông đảo, dễ bị tổn thương nhất trong cơ

chế thị trường là rất quan trọng, liên quan đến sản xuất và ổn định

xã hội Thế nhưng không phải là ai cũng có cùng quan điểm trên

vấn đề hệ trọng này Trong quan niệm của một số người thì với

người nghèo chủ yếu là giúp đỡ thông qua công tác tín dụng cho

vay, chứ không cần công tác nghiên cứu bởi quy mô quá nhỏ, rất ít

hiệu quả Một hiện tượng đáng suy nghĩ đang diễn ra, đó là có một

ít các cơ sở nghiên cứu có uy tín tình nguyện làm thí nghiệm thuê

cho các Công ty nước ngòai để họ quảng cáo sản phẩm nhằm mục

đích tăng năng suất chăn nuôi, tuy công nghệ ấy chẳng phù hợp tý

nào với điều kiện kinh tế của đất nước mình, nhất là đối với nông

dân nghèo Thật ra còn rất nhiều việc mà các nhà khoa học cần phải làm cho người nông dân nhỏ không chỉ trong phạm vi khoa học xã hội mà cả khoa học tự nhiên Nhiều kỹ thuật thích hợp khai thác nguồn lực tại chỗ vẫn chưa được chú ý, trong khi nhấn mạnh làm giàu ta còn ít đề cập đến các mô hình nhỏ Hiện tượng này nên được khắc phục, bởi kinh tế nông nghiệp quy mô nhỏ của nước ta cũng như của các nước đang phát triển khác có thể ví như biển cả,

từ đó một lượng sản phẩm to lớn đang đóng góp cho kinh tế và dân sinh

( Tiến sĩ Carlos Sere đã nhấn mạnh:” Không phải bất cứ nghiên cứu nào về chăn nuôi cũng mang lại lợi ích đối với người nghèo, mặc dù các nhà tài trợ quốc tế có chiều hướng đầu tư kinh phí cho các dự án giảm nghèo Người nghèo thường có những nhu cầu cụ thể Những khoản đầu tư nhỏ của họ rất dễ bị phá sản khi gặp phải các sự cố bên ngoài và họ hoàn toàn không thể đối chọi được những rủi ro và hậu quả có thể là thảm khốc đối với bản thân và gia đình họ Điều này thường không được các nhà nghiên cứu đánh giá một cách đúng đắn Họ có thể đưa ra các đề nghị về thay đổi hệ thống chăn nuôi được những trang trại quy mô lớn chấp nhận, nhưng lại không thích hợp với người chăn nuôi nghèo Việc nghiên cứu cần phải đưa ra được các phương pháp và chính sách để người nghèo có thể tiếp cận được các cơ hội thích hợp, chứ không đặt họ trước những rủi ro không xoay xở nổi, đồng thời giúp họ xây dựng khả năng thích ứng với đe doạ đến từ bên ngoài Những người nghiên cứu chăn nuôi cần phải tiếp tục thích ứng với các phương pháp mới và tìm ra các kỹ thuật cải tiến, các giải pháp tổ chức và chính sách đối với các vấn đề phát triển chăn nuôi Điều này phải bao gồm cả xây dựng khả năng nghiên cứu tại

Trang 7

chỗ, kết hợp với các vấn đề thực tế của thế giới với giải pháp tổ

chức cho phép mọi người tiếp tục học hỏi Cũng cần thiết phải tìm

ra các giải pháp hiệu quả để liên kết và chia sẻ các kiến thức với

những người được hưởng lợi từ nghiên cứu “

Để có kỹ thuật chăn nuôi đúng đắn nhằm đạt hiệu quả cao

nhất thì việc nghiên cứu hành vi của gia súc là rất có ý nghĩa Đó

là khoa học về mối quan hệ giữa con vật với môi trường sống, với

con người Sự tiến bộ của khoa học dẫn đến việc con người do quá

tự tin ở mình, họ đã can thiệp một cách thô bạo các quá trình của

sự sống của con vật mà không hề đếm xỉa gì đến hội chứng mà ta

quen gọi là Stress Lấy một số ví dụ rất rõ sau đây để thấy được

con người đã tác động ghê gớm như thế nào đến con vật để rồi

thay đổi cả chức năng vốn có của con vật

Con gà giống như những loài chim khác đẻ trứng và ấp trứng

để nở ra con; nhưng chức năng ấp chỉ còn ở các giống gà địa

phương, hoàn toàn mất hẳn ở các dòng gà công nghiệp Bò chỉ tạo

đủ sữa để nuôi con bú Thế nhưng khi con người phát hiện được

sữa là chất bổ nguồn dinh dưỡng tuyệt vời với con người thì con

bò sữa không những phải sản xuất ra đủ sữa cho con mà còn phải

sản xuất đủ ra gấp nhiều lần cho người, mỗi ngày hàng chục lít

sữa Và những con bê tội nghiệp giờ đây không còn được bú mẹ

chúng nữa Ngay từ lúc sơ sinh nó đã bị tách khỏi mẹ và uống sữa

trong bình sữa Đó là vì để tiện cho quản lý, tiện cho việc áp dụng

kỹ thuật hiện đại; và người ta không lường được hậu quả đó là

trong những điều kiện vệ sinh kém thì tỷ lệ bò mẹ mắc bệnh viêm

bầu vú (mastitis) đã tăng lên rất nhiều so với bò được cho con bú

sữa mẹ Rõ ràng là con vật đã bị các stress do những vi phạm quy

luật tự nhiên do con người tạo ra

Trang 8

Chương 8

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

I MỤC TIÊU

Từ cuối những năm 80, bộ mặt nông thôn nước ta đã có sự

bíên đổi căn bản Từ thiếu ăn, nước ta đã sản xuất đủ và còn có

một lượng lương thực không nhỏ để xuất khẩu Cũng từ đó (1989)

đã bắt đầu sự khởi sắc của nông nghiệp nói chung và chăn nuôi

nói riêng Vấn đề lương thực được giải quyết cơ bản đã tạo cơ sở

vững chắc cho phát triển thức ăn gia súc, gia cầm

Nhưng về căn bản nông dân và nông thôn ta vẫn còn nghèo,

thị trường nông thôn còn kém phát triển, cơ cấu kinh tế còn chậm

biến đổi, nặng thuần nông, độc canh, hiệu quả kinh tế thấp, nguồn

tài nguyên đang bị khai thác cạn kiệt, nhân lực lãng phí v.v nghị

quyết trung ương 5 chính là xuất phát từ thực tế này Tinh thần của

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chứa đựng nội

dung phát triển bền vững Trong thời kỳ đầu của phát triển, từ bài

học của các nước xung quanh chúng ta phải chăm lo đến tính bền

vững để tránh được những sai lầm, những hậu quả khó lường

Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

là:

1 Tạo thêm công ăn việc làm và thu hút được lao động tại chỗ

Lao động là nguồn tài nguyên quý giá Nhưng với một nước

đất chật người đông, tỉ lệ tăng trưởng dân số chưa kiểm soát được

(trên 2%), số người không có việc làm ở nông thôn là quá lớn thì

đây chính là một gánh nặng đòi hỏi phải giải quyết Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể thu hút thêm sức lao động, có thêm công

ăn việc làm, đó là hướng đúng Vì thế trong trường hợp nếu áp dụng các tiến bộ kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể dẫn đến tình trạng thừa lao động ở nông thôn thì phải cân nhắc kỹ Phải hết sức phát triển các hoạt động dịch vụ, mở mang sản xuất các mặt hàng tiêu thụ được trong và ngoài nước Chú ý công nghiệp chế biến nông sản để nâng giá trị sản phẩm làm

ra, khuyến khích các ngành nghề thủ công, nhất là các mặt hàng truyền thống Có vậy đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn mới được cải thiện, giảm bớt áp lực đối với thành thị, do việc nông dân tràn ra thành thị gây hậu quả xấu về mặt xã hội và môi trường Cũng qua phát triển bền vững sản xuất đa dạng mà ta khôi phục được tài nguyên đang cạn kiệt Thêm nữa nhân lực là nguồn tài nguyên quý sẽ được chăm lo và những con người lao động được huấn luyện sẽ đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

2 Phục hồi tài nguyên rừng, làm tăng độ mầu mỡ đất

So với thế giới thì đất nông nghiệp ở nước ta có thể là thấp nhất tính theo đầu người khoảng 0,1ha Diện tích đất nông nghiệp

bị thu hẹp dần cùng với đà gia tăng dân số, đô thị hoá, làm cho diện tích đất canh tác nước ta chỉ còn 21% Đất rừng cũng từ 19 triệu ha (những năm 1940) xuống còn 9 triệu ha 3/4 đất của nước

ta thuộc vùng đồi núi dốc, dễ bị xói mòn Hơn 3 triệu ha đất bị nhiễm mặn ngập lụt

Cần thiết phải sử dụng quản lý hài hoà tài nguyên đất cho những nhu cầu khác Phải đẩy mạnh trồng rừng, áp dụng rộng rãi các kỹ thuật của mô hình VAC ở nông thôn Giữ được rừng là giữ

Trang 9

được nguồn nước mà nước là yếu tố tăng năng suất hàng đầu trong

nông nghiệp Cần sử dụng hợp lý các nguồn nước, nhất là nguồn

nước ngầm vì nó rất hạn chế Một số vùng ở Tây Nguyên đã phải

phá bớt cây cà phê vì thiếu nước tưới, ở nhiều vùng người ta cũng

đang tính toán giảm bớt diện tích trồng lúa mà thay bằng các cây

trồng chịu hạn khác.Tình hình hạn hán những năm 2004 - 2005

cho ta thấy mức độ nghiêm trọng của sự thiếu nước, không chỉ

thiếu cho cây trồng, vật nuôi mà cả nước sinh hoạt cho người ở

một số vùng miền trung vì vậy cần tính toán để sử dụng nguồn

nước, khuyến khích trồng các giống cây chịu hạn, các loại vật nuôi

dùng ít nước

3 Đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi trong hệ thống sinh thái nông

nghiệp, đồng thời bảo tồn và phục hồi các nguồn gen quý địa

phương:

Để thoát khỏi đói nghèo, ngoài việc lợi dụng các ưu thế của sự

đa dạng sinh học ở vùng nhiệt đới, chúng ta đang đưa thêm các

giống mới có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái địa

phương vào cơ cấu cây trồng Từ độc canh lúa nhiều vùng chuyển

sang thế đa canh nhiều loại hoa màu, tạo thêm công ăn việc làm,

giảm sự căng thẳng mùa vụ, tăng thu nhập và giảm rủi ro

Cũng phải nhấn mạnh ở đây ý nghĩa của việc gìn giữ đa dạng

sinh học vốn có, giữ các giống truyền thống Những giống này

chứa đựng nguồn gen quý như chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh

và khắc nghiệt về thời tiết Ví dụ các giống vật nuôi như gà Ri, gà

Hồ, lợn Móng Cái, lợn Mẹo, bò Vàng, dê Bách Thảo, hươu Sao

v.v , các giống cây trồng như lúa Tám Thơm, vải Thiều, nhãn

Hưng Yên, quế Thanh, những giống truyền thống địa phương này

còn là nguyên liệu di truyền quý giá để lai tạo giống mới cho năng suất cao lại phù hợp với điều kiện sinh thái kinh tế từng vùng Trong chăn nuôi hiện nay các giống gà thả vườn, lợn nội cho thịt thơm ngon là món ăn khoái khẩu được thị trường chấp nhận với giá bán khá cao, đem lại lợi ích cho người nuôi Đây là một thế mạnh mà chăn nuôi nông hộ có thể khai thác

4 Góp phần gìn giữ cải tiến tài nguyên môi trường

Sự phát triển nào cũng để lại những hậu quả về môi trường, vì vậy hơn lúc nào hết cần phải được dư luận cảnh giác Nhất là đối với nông thôn nơi vốn xưa nay trong lành thì càng cần phải được tôn trọng Phải hết sức tránh việc đẩy ra môi trường quá nhiều phế thải của công nghiệp và dịch vụ Dùng quá nhiều thuốc trừ sâu, hoá học đang làm nhiễm độc đất đai và cả nguồn nước ngầm nữa Kết quả là sản phẩm nông nghiệp ô nhiễm, nước ăn cũng bị ô nhiễm làm hại sức khoẻ con người, vật nuôi.Việc lạm dụng thuốc trừ sâu còn làm sâu bệnh có khả năng kháng thuốc, trong lúc các loại côn trùng có ích lại bị tiêu diệt

Cần hết sức quan tâm đến việc ứng dụng các biện pháp sinh học như:dùng các loại giống kháng bệnh, luân canh để cắt đứt nguồn lây lan dịch bệnh, sử dụng các biện pháp thiên địch, mở rộng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) Đây là

sự kết hợp của các giống kháng bệnh với các biện pháp truyền thống với công nghệ sinh học và tin học Gần đây khái niệm “nông nghiệp sạch” đã được nông dân làm quen Cần phổ biến sâu rộng kiến thức này

Chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm lớn nhất là ở các làng nghề làm bột, làm bánh Cũng cần đặc biệt chú ý đến hiện tượng nuôi

Trang 10

quá tập trung, đàn súc quá lớn, nếu không được kiểm soát tốt rất

dễ gây ô nhiễm đất, nước, không khí và các dịch bệnh Sự phát

triển chăn nuôi trang trại có qui mô vừa và lớn gần đây tuy chưa

nhiều nhưng đã gây lo ngại và gặp phản ứng của dân cư ở một số

vùng Cần xem xét nâng tiêu chuẩn và các chế tài về môi trường

để các trang trại, các công ty khi chăn nuôi lớn phải đầu tư xứng

đáng cho khâu xử lý chất thải và làm sạch môi trường

II THÀNH QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

NÔNG NGHIỆP

Sự tăng trưởng vững chắc của nông nghiệp những năm gần

đây mà rõ nhất là ngoài việc đảm bảo đủ cho nhu cầu người dân

trong nước, chúng ta còn có một lượng hàng hoá nông sản xuất

khẩu đáng kể trên thị trường thế giới

Năm 2003, sản lượng lúa đạt 34,7 triệu tấn, ngô 2,8 triệu tấn,

cà phê 720.000 tấn, chè búp tươi 450.000 tấn; hồ tiêu 73.200 tấn;

hạt điều nhân 166.000 tấn Tốc độ tăng đạt từ 12% (chè búp) tới

43% (hồ tiêu) Giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp đạt 3 tỷ

USD tăng 7% so với năm trước Có thể thấy được một số nét nổi

bật của việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp như sau:

- Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã phát triển rộng trên

cả nước, nhắm tới hiệu quả của sản xuất Ở đây phải nói đến

phong trào nông dân làm những cánh đồng đạt từ 50 triệu đồng/ha

trở lên (tương đương với 300 USD/ha) nhiều mô hình sản xuất đạt

hiệu quả cao đã xuất hiện khắp nơi Đây là kết quả của hàng loạt

biện pháp thâm canh, tăng vụ, kết hợp trồng lúa với các loại rau

mầu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phát triển ngành nghề, dịch vụ

v.v nhiều nơi nông dân đã đưa các giống chất lượng cao thay thế

các giống cũ như ở Đồng bằng Sông Cửu Long 80% diện dịch trồng lúa sử dụng giống chất lượng cao Cũng ở đây đã chuyển 200.000 ha đất đồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng các cây con thích hợp Vùng Tây Nguyên đã chủ động giảm 50.000 ha cà phê, giảm diện tích cà phê vối, thay bằng cà phê chè có chất lượng cao hoặc chuyển sang trồng các cây công nghiệp khác có lợi thế về tiêu thụ Tất nhiên mục tiêu 50 triệu đồng/ha còn lệ thuộc nhiều vào giá cả thị trường đòi hỏi không chỉ nông dân mà cả nhà nước phải nắm bắt thị trường để có chiến lược đúng đắn

Đến nay đã nước đã hình thành được nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn như vùng lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long, vùng cà phê ở Tây Nguyên, cao su ở Đông Nam Bộ, bông ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cây ăn quả ở Nam Bộ, vùng chuyên canh rau nằm ở ven các đô thị lớn v.v

- Một sự đổi mới rõ nét của ngành nông nghiệp là việc ứng dụng tương đối phổ biến các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong các khâu sản xuất và chế biến Có thể thấy rõ điều này ở mức độ sử dụng giống tốt đạt tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất bình quân đã lên tới 30-35%, trong đó lúa 30%, chè 30%, ngô 65%, bò thịt 40%, lợn nạc 30%, vịt 40% v.v Công tác khuyến nông đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất

Và một điều rất đáng tự hào đă tới với nền nông nghiệp tuy phổ biến vẫn còn là sản xuất nhỏ, đất trồng ít, dân số đông như nước

ta, đó là không những sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng trong nước mà còn đạt được vị thế cao trên thị trường xuất khẩu thế giới: đứng thứ nhất về xuất khẩu hồ tiêu, thứ hai về gạo, cà phê, hạt điều, thứ bảy về cao su và chè

Ngày đăng: 24/07/2014, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w