1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP part 9 pptx

11 478 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 528,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ai được lợi từ việc nhập giống bò sữa từ nước ngòai thì không biết, nhưng các Công ty nhập và xuất ở hai đầu thì lãi to, còn thiệt hại thì đã có nông dân và nhà nước chịu, bởi giá

Trang 1

Một điều phải nói là việc lai giống tuỳ tiện không có sự điều

khiển ở nông thôn đã dẫn đến những hiệu quả tai hại, đó là làm xói

mòn nguồn gen địa phương quý giá và có thể dẫn đến làm mất đi

tài nguyên di truyền

Từ đó cho thấy cần phải tổ chức tốt chương trình giống đối với

từng giống từng nhóm giống Trong khi tiến hành công tác giống

cần phải xem xét 3 vấn đề sau:

- Chọn lọc trong các giống địa phương: Ta biết rõ là các giống

đó thích nghi tốt với điều kiện nơi nuôi dưỡng và đang có thị

trường Thế nhưng sự cải tiến đến rất chậm

Nhập các giống bên ngoài để lai giống: có thể thu được tiến bộ

nhanh, do lợi dụng được ưu thế lai (heterosis) nhưng phải đảm bảo

được rằng con lai thích nghi được với môi trường địa phương và

nó đứng vững được trước nguồn thức ăn nghèo nàn hơn

Trong chăn nuôi, việc du nhập các giống mới cao sản để nuôi

thuần chủng mong tranh thủ các nguồn gen tốt cần hết sức thận

trọng Các giống mới có thể trụ được ở các trang trại có đầu tư tốt,

quản lý tốt, nhưng dễ mang tai họa cho người chăn nuôi nhỏ Tiếc

thay, trong cơ chế thị trường hiện nay những chủ trương như vậy

lại thường hay gặp, bởi quyết định nhiều khi lại từ trên xuống

thông qua việc thực hiện các dự án Nhiều khi việc nhập giống là

từ các Công ty, mà mối quan tâm hàng đầu của họ là sản xuất con

gíông để bán kiếm lời Những người làm công tác khoa học và

khuyến nông nên giúp nông dân chọn được những con giống thích

hợp với điều kiện của họ và biết phân biệt được cái đúng, cái sai

của quảng cáo

2 Sốt giống hệ quả tai hại của phương thức làm ăn theo “phong trào”

Hiện tượng sốt giống trong sản xuất nông nghiệp thường xảy

ra, đó là vì công việc sản xuất hạt giống, con giống không theo kịp đòi hỏi của người sản xuất, dẫn đến thiếu giống và tất nhiên là giá tiền mua giống bị đội lên, gây thiệt hại cho người nông dân

Ta đã có những trải nghiệm qua việc phát triển hươu ở Nghệ Tĩnh những năm 90 của thế kỷ trước Lúc bấy giờ nhà nhà đổ đi mua hươu về nuôi Trước đấy giá hươu đực thường đắt hơn hươu cái, bởi vì chỉ hươu đực mới có sừng, mới cho lộc nhung, một sản phẩm quý, lúc nào cũng đắt giá Thế nhưng lúc bấy giờ vì thiếu giống nên giá hươu cái lại đắt hơn hươu đực nhiều lần, bởi nó đẻ

ra hươu con để bán được tiền Giá một đôi hươu tơ lúc bất giờ phổ biến là 30 - 40 triệu đồng, có khi còn hơn Nuôi hươu rất hợp với tâm lý của nông dân muốn giữ của bằng giữ vật nuôi sống có thể sinh sôi chứ không muốn giữ vàng, giữ tiền (sợ mất giá), ai cũng đua nhau đi mua hươu bằng mọi giá, ai cũng nuôi hươu vì mục đích sinh sản để bán giống, nên rất nhanh đã xẩy ra tình trạng tượng bão hoà con giống và giá hươu đã sụt thảm hại Còn nhớ lúc thoái trào người ta phải giết hươu bán thịt và giá con hươu cái mổ thịt chỉ còn dăm trăm ngàn đồng Hàng loạt nhà nuôi hươu điêu đứng, đàn hươu giảm sút nghiêm trọng, phải qua nhiều năm sau mới phục hồi được

Hiện tượng sốt giống cũng thất rõ ở ngành bò sữa những năm giần đây Ai cũng biết nuôi bò lai giữa bò vàng cải tiến với bò đực Holstein Friz đời F1, F2 là phù hợp với điều kiện sinh thái và kinh

tế kỹ thuật của hầu hết các vùng và sẽ có lợi cho hộ nông dân nhỏ Thế nhưng từ kế hoạch ban đầu phát triển bò sữa trên 16 tỉnh

Trang 2

thành, người ta đua nhau mở rộng diện ra trên 30 tỉnh thành và thế

là chẳng tìm đâu ra cho đủ bò sữa để nuôi, các tỉnh đua nhau đi

nhập bò sữa từ nước ngoài Những ai được lợi từ việc nhập giống

bò sữa từ nước ngòai thì không biết, nhưng các Công ty nhập và

xuất ở hai đầu thì lãi to, còn thiệt hại thì đã có nông dân và nhà

nước chịu, bởi giá giống bị đội lên, bởi nông dân nghèo, điều kiện

chăm sóc kém, không nuôi nổi bò ngoại Kiểu làm dự án theo

phong trào này đã mang lai những hậu quả tai hại mà ai cũng thấy

Tình hình sốt giống đã làm sai lệch mục tiêu của việc chăn

nuôi Nuôi hươu là để lấy nhung, về lâu dài không thể trông mong

vào việc bán hươu con giá đắt Nuôi bò sữa chủ yếu là để được

sữa, chứ không phải là để được con bê con Nhưng giá giống cao

làm người ta ngộ nhận rằng, chỉ cần bò đẻ vài con bê là kéo lại

vốn, là hái ra tiền, thế nhưng cơn sốt nào mà chẳng có lúc hạ nhiệt

và thế là lỗ chỏng gọng, nhất là những người chậm chân đến sau

gặp lúc giống đã bão hoà Mục tiêu sai thì đầu tư sai và kết cục là

thất bại Bên cạnh một số hộ, một số vùng được chuẩn bị tốt, công

tác quản lý chăm sóc theo kịp thì kết quả còn khả quan, nhưng

phải nói rằng ở hầu hết các vùng mới nuôi bò sữa, tình hình là

đáng lo ngại, có nơi đã phá sản

Trong lúc một số người say sưa với bò sữa thì nông dân nhiều

vùng lại chăm chút bò lai Sind nuôi thịt và thu được lợi lớn Thế

nhưng đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu không bình thường là, hình

như ở một số nơi giá giống bò lai Sind là không thực tế, đã có

chiều lên cơn sốt Các cán bộ khuyến nông, những người quản lý

nên giúp nông dân hiểu được tác hại của tình trạng này và rút lấy

các bài học đắt giá của chuyện sốt giống trước đây, để chúng

không lặp lại Những cơn sốt giống gây hại lớn cho nông dân

nghèo - thành phần dễ tổn thương nhất trong xã hội, bởi họ ít có khả năng chuyển đổi mỗi khi gặp trắc trở trong sản xuất

3 Các giống chuyển đổi gen (GMO) và phát triển bền vững

Ở đây không bàn về chuyện có nên sử dụng hay không đối với các sản phẩm chuyển đổi gen, mà chỉ nói về mối liên quan giữa chúng với xóa đói giảm nghèo, chủ yếu là các sản phẩm trồng trọt Phải thừa nhận rằng một số giống được tạo nên từ kỹ thuật chuyển đổi gen có thể tạo ra khả năng chống bệnh đối với một số bệnh nào đó hoặc tạo nên năng suất cao Nhiều nước tiên tiến dù chưa công nhận việc sử dụng các sản phẩm GMO, nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu theo hướng này vì về lâu về dài, công nghệ này chắc sẽ có đóng góp quan trọng cho việc sản xuất thêm nhiều nông phẩm để đối phó với tình trạng tăng dân số trên tòan cầu

Trong những năm gần đây các Công ty đa quốc gia đã cổ động

và đưa nhiều giống chuyển đổi gen vào các nước đang phát triển nhằm đẩy nhanh sản lượng góp phần xoá đói và tất nhiên cả mục đích thu lợi nhuận

Nhưng vấn đề xoá đói không chỉ là việc sản xuất đầy đủ lương thực mà còn là việc cung cấp vững chắc và hưởng thụ lương thực của một bộ phận dân cư dễ bị tổn thương Đó chính là bộ phận người nghèo những người sản xuất nhỏ ở nông thôn Thật ra hiện nay thế giới đang có đủ lương thực cho nhân lọai, nhưng tại sao vẫn có hơn 800 triệu người nghèo đói, tại sao ở nhiều nơi nạn đói vẫn hòanh hành Đó là vì nhóm người này chủ yếu là ở các nước đang phát triển không có khả năng tiếp cận lương thực, cũng có nghĩa là không mua nổi lương thực Đó là sự bất bình đẳng đáng xấu hổ của thế giới văn minh này!

Trang 3

Các công ty đa quốc gia chính là người đang thông qua luật

quyền sở hữu trí tuệ để sử dụng thế mạnh kỹ thuật, nhân lực và vốn

để bảo đảm sự độc quyền Các dòng (giống) được tạo ra theo “công

nghệ tận cùng (terminal technology)” đó là các dòng vô sinh để

đảm bảo rằng người nông dân không thể tiếp tục giữ giống được mà

chỉ có một cách là mua giống của các công ty đa quốc gia mà thôi

Như vậy thì vấn đề nông sản phẩm GMO phải được phân tích

không chỉ trên góc độ sản lượng lương thực mà còn ở khâu an toàn

lương thực, tự cấp và bảo tồn các giống cây con bản địa Việc sử

dụng GMO có thể làm xáo trộn sự đa dạng cây trồng, đồng thời gây

ra sự phức tạp về xã hội, luật pháp và cả chính trị nữa (C

Chatalakhana, 2002)

Thật nực cười là trong khi nhiều nước đang phát triển có nông

phẩm xuất khẩu đang mỏi mắt trông mong các nước giàu mở rộng

cửa nhập khẩu chưa được, thì các công ty trên lại muốn họ hàng

năm nhập giống của mình để tăng thêm sản lượng! Sử dụng các

giống cao sản đồng nghĩa với tăng thêm dầu tư, không những cho

con giống mà cho cả phân bón, tưới tiêu, quản lý v.v Ý đồ buôn

bán độc quyền của các Công ty đa quốc gia là dễ nhận biết qua

việc họ hối thúc việc sử dụng các sản phẩm GMO, mặc dù nó đi

ngược lại lợi ích của các nước đang phát triển và ảnh hưởng xấu

đến việc gìn giữ đa dạng sinh học

IV PHÁT TRIỂN BÒ SỮA HỘ GIA ĐÌNH THEO HƯỚNG BỀN

VỮNG VÀ HIỆU QUẢ

Trong công cuộc chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi, một đối tượng

đang được ưu tiên đầu tư, đó là ngành chăn nuôi bũ sữa

Mấy năm gần đây Nhà nước có chủ trương đẩy mạnh việc phát triển bò sữa trên toàn quốc nhằm đa dạng hoá ngành nghề nông thôn, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho các hộ nông dân Với nhiều địa phương đây là một ngành nghề mới mẻ Nhiều bất cập đang phát sinh và cần được xem xét và giải quyết thấu đáo

1 Những thuận lợi và trở ngại của ngành bò sữa

a Thuận lợi

Thị trường nôị địa còn rộng mở, sữa tươi nguyên liệu cho các nhà máy sữa chỉ mới chiếm khoảng 10% còn 90% phải nhập khẩu chủ yếu là dạng sữa bột từ bên ngoài

Sản xuất protein từ sữa được coi là phương thức hiệu quả nhất (nhanh, rẻ nhất) so với sản xuất protein từ thịt

- Nuôi bò sữa là cách thức tận dụng thức ăn sẵn có địa phương, nhất là các sản phẩm phụ của cây trồng

- Nước ta đã có sẵn đàn bò lai F1, F2 (Holsstein Friz - Lai Sind) thích hợp với khí hậu, trình độ người nuôi và cho một lượng sữa khá 10kg/ngày

- Nuôi bò sữa hiện nay vẫn có lãi, tuy có lúc phải lấy công làm lãi

- Nhà nước có chương trình và đang chú ý đầu tư cho ngành

bò sữa trong những năm tới

b Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi trên ngành chăn nuôi bò sữa cũng đang đứng trước thách thức khó khăn:

Trang 4

- Trước hết là từ xa xưa dân ta không có thói quen ăn sữa và

chăn nuôi bò sữa, một đối tượng mẫn cảm, cần kỹ thuật cao và

chăm sóc tỉ mỉ Có thể nói ngành nuôi bò sữa là ngành đòi hỏi kỹ

thuật cao nhất của ngành chăn nuôi gia súc

- Thiếu vốn vì nông dân quá nghèo mà đối tượng nuôi lại to

vốn, nhiều hộ nông dân không vươn tới được

- Thức ăn là một khâu trở ngại lớn nhất với người nuụi do

Thức ăn xanh, thành phần chủ lực của khẩu phầ cho lòai nhai lại

luôn là vấn đề căng thẳng cả về số lượng và chất lượng do mùa

khô kéo dài, thiếu nước tưới Thức ăn tinh ở nước ta lại đắt hơn

nhiều so với ở các nước trong vùng So sánh giữa giá thức ăn tinh

và giá sữa tươi bán ra là thấy ngay sự bất lợi: 1kg sữa tươi bán ra

bình quân là trên 3000 đ chỉ mua được 1 kg thức ăn tinh có 16%

protein thô, trong lúc ở Thái Lan tiền bán 1kg sữa tươi mua được

2kg thức ăn tinh

- Khí hậu nóng ẩm là những yếu tố trở ngại lớn cho sự thích

nghi và tăng năng suất sản phẩm sữa Nhiệt độ môi trường cao sẽ

gây trở ngại cho sự thải nhiệt làm bò kém ăn, tiết sữa thấp Độ ẩm

cao là điều kiện tốt cho vi sinh vật gây bệnh phát triển

- Kinh nghiệm của rất nhiều nước cho thấy không có hy vọng

nuôi giống bò sữa cao sản ở các nước đang phát triển vùng nhiệt

đới, ngoại trừ Israel với kỹ thuật rất hiện đại với khí hậu tuy nóng

nhưng khô

- Tổ chức sản xuất yếu kém, các dịch vụ kỹ thuật và thú y

chưa tốt mà nghề nuôi bò sữa luôn tiềm ẩn rủi ro, nông dân nghèo

không dễ tiếp nhận Vì vậy người nghèo thường hay ví von nghề

bò sữa là nghề “vốn to, rủi ro lớn”

Từ những bất lợi về khí hậu nóng ẩm và giá thức ăn tinh cao cho ta rút ra kết luận là không thể hy vọng nuôi bò thuần cao sản

để có nhiều sữa và hạ giá thành như một số người lầm tưởng Con đường phát triển bò sữa đúng đắn nhất ở hộ nông dân là dùng bò lai, tận dụng các loại thức ăn xanh và phụ phẩm nông nghiệp để có lãi Con đường nhập bò cao sản để tăng năng suất hòng cạnh tranh với sữa bên ngòai, nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi hơn ta lại được trợ giá xuất khẩu là cả một điều không tưởng!

Có thể nói từ năm 1990 trở lại đây đàn bò sữa nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn năng suất Đặc biệt là

từ sau khi có chương trình phát triển bò sữa quốc gia ( 2000 ), số đầu bò sữa và sản lượng sữa đã phát triển rất nhanh Trên cơ sở đàn bò đông đảo này, chúng ta đang chọn lọc để có đàn bò sữa đồng đều với chất lượng cao hơn

Bảng 25 Sự phát triển đàn và năng suất sữa

Phát triển đàn (đ/v: 1000 con)

Năm 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2001 2002 Đầu con 11.0 13.1 16.05 22.0 27.0 35.0 45.0 59.1

Năng suất sữa (đ/v:1000kg) Lai sind 2.1 2.2 2.3 2.5 2.8 3.1 3.3 3.4

Bò HF 2.8 3.2 3.3 3.4 3.6 3.7 3.85 4.2 Tài liệu của Cục KNKL (Bộ Nông nghiệp và PTNT)

Trang 5

2 Những nhân tố ảnh hưởng đến (nuôi bò sữa)

Có thể phân biệt ra các nhóm nhân tố:

- Nhóm các nhân tố tự nhiên

- Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội

- Nhóm các nhân tố kỹ thuật và tổ chức sản xuất

a/ Cỏc nhõn tố tự nhiờn

* Khí hậu, thời tiết

Bò sữa là động vật mẫn cảm với môi trường đặc biệt là nhiệt

độ và độ ẩm

Các giống bò ôn đới như Holstein Friesian được phát triển tốt

nhất ở nhiệt độ 18-200C và độ ẩm thích hợp là 60-75% Nhiệt độ

<50C hoặc >370 C được coi là nhiệt độ gây hại có thể dẫn đến

ngừng tiết sữa hoặc chết

Các giống bò nhiệt đới như Red Sindhi, Sahiwal có năng suất

sữa thấp thì lại dễ thích nghi với nhiệt độ từ 20-300C Bò lai giữa

bò vàng cải tiến (có máu Red Sindhi) và bò đ ực HF biểu hiện sự

thích nghi rất tốt với khí hậu nước ta Các bò sữa HF thuần nhập

nội thấy thích nghi được với với các cao nguyên mà rõ nhất là

Mộc Châu

Khí hậu thời tiết ảnh hưởng trực tiếp lên con vật, mà còn có

ảnh hưởng cả đến tình hình dịch bệnh và việc sản xuất thức ăn cho

gia súc nói chung và bò sữa nói riêng

* Đất đai đồng cỏ, nguồn nước

Đất đai có liên quan đến chuồng trại, sân chơi, đến đồng cỏ

Phải nói là ở nước ta khái niệm đồng cỏ là hết sức chật hẹp ngoài

các bãi cỏ tự nhiên Nhưng đã nói đến việc trồng cỏ, trồng cây thức ăn xanh mà năng suất cây thức ăn xanh lại lệ thuộc chủ yếu vào nguồn nước và phân bón

Những nơi muốn phát triển chăn nuôi bò sữa phải nghĩ đến đồng cỏ, đó là yếu tố hạn chế nhất Ta biết bãi cỏ tự nhiên ở nước

ta cằn cỗi do thiếu nước, thiếu màu mỡ nên sản lượng cỏ chỉ có khoảng 8 tấn/ha/năm Để có sản lượng cỏ cao, cần phải thâm canh

và do đó phải cần rất nhiều nước Cỏ thâm canh thường được thu hoạch hàng tháng, lượng sinh khối như thế là rất lớn, cần được tưới hàng ngày vì vậy mà không lạ là trồng cỏ cần nhiều nước hơn trồng lúa Các tỉnh miền núi, nguồn nước hạn chế cần phải tính toán kỹ về quy mô phát triển bò sữa vì nó liên quan đến trồng cỏ

và thâm canh

b Những yếu tố kinh tế xã hội

* Thị trường Cần khảo sát kỹ thị trường, không nên thấy thị trường sữa là

vô hạn, bởi vì nó còn lệ thuộc rất lớn đến quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Sữa bột nhập khẩu là đối tượng cạnh tranh đáng sợ của sữa tươi, nhất là khi kinh tế đã hội nhập

*.Vốn Vốn là cái khó đầu tiên của nông dân Nuôi bò sữa cần vốn lớn, để mua con giống, xây chuồng trại và trang thiết bị, đầu tư cho thức ăn, thuê lao động (nếu quy mô lớn)

* Lao động

Trang 6

Ngành nuôi bò sữa tạo nên công ăn việc làm, nhưng lao động

của ngành này đòi hỏi kỹ thuật, chăm sóc công phu, do đó mà

công tác huấn luyện nông dân là rất quan trọng

* Giao thông

Vấn đề giao thông liên quan đến vận chuyển chế biến và tiêu

thụ sản phẩm, bởi sữa là sản phẩm rất dễ hỏng nếu không được

vận chuyển nhanh đến nơi bảo quản lạnh và sau đó để chế biến

* Các chính sách kinh tế xã hội

Nhà nước đã có chính sách khuyến nông, trợ giá, tín dụng

nhằm đẩy mạnh phát triển sữa ở nông hộ Đây là thuận lợi lớn,

nhưng nó chỉ có thể hỗ trợ chứ không thể là yếu tố quyết định Bởi

sản xuất là công việc của người dân và nó sẽ phát triển khi đem lại

lợi ích cho người nuôi

c/ Những nhân tố kỹ thuật và tổ chức sản xuất

* Nhân tố kỹ thuật

- Con giống:

Giống bò sữa thích hợp là vấn đề nổi cộm hiện nay Ta đã có

các nhóm bò lai thích hợp, tuy lượng sữa không cao nhưng vừa

tầm người nuôi và đem lại lợi nhuận cho nông dân

Do sự phát triển ồ ạt những năm gần đây (tính ra đã có 30 tỉnh

thành đã nuôi bò sữa) nên đã đẩy giá giống lên mà ta gọi là cơn

“sốt giống” Sốt giống tức là đẩy giá cả vượt quá giá trị thực có

Người nuôi không tính nhiều đến mục tiêu khai thác sữa mà nhằm

vào con bê giống đẻ ra để bán được nhiều tiền Nhưng sản phẩm

cuối cùng của bò sữa là sữa chứ không phải là bê Sau một số năm,

nhu cầu con giống chững lại thì sự đổ vỡ là không tránh khỏi

Chính trong tình hình sốt giống (sốt giá) người ta đã nghĩ đến việc nhập bò sản xuất (bò tơ loại bình thường, chưa qua chọn lọc)

từ nước ngoài Dư luận đã nhiều, có điều là nên tính toán lợi ích lâu dài và không nên nhập đại trà cho nông dân nghèo nuôi Giống nhập nội nói cho cùng thì kém thích nghi, càng khó đạt mức cao sản và chắc gì đã có lãi Nước ta còn rất nghèo, tiền cần đầu tư trước hết cho những lợi thế kinh tế khác không thể đi nhập bò sữa thuần với mục đích khai thác sữa Nên khuyến khích việc đầu tư mua một số bò giống từ vùng nhiệt đới có lý lịch rõ ràng dễ thích nghi để nuôi ở các Trung tâm hoặc trang trại lớn được trang bị tốt, sau đó tiến hành chọn lọc một cách hệ thống khắt khe để mong sao sau vài chục năm ta có được một đàn bò sữa hạt nhân tốt, có năng suất cao hơn và thích hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế nước ta Kinh nghiệm của Đài Loan trong việc nhập bò sữa nước ngoài, sau chọn lọc loại thải chỉ còn giữ được 30%, nhưng đó là một đàn bò sữa rất quý

Ngay từ đầu Nhà nước ta vẫn chủ trương phát triển bò sữa gia đình nên chủ yếu là tạo bò lai lấy sữa, đó là hướng đi đúng và lâu dài Đáng tiếc là sau đó nhiều địa phương đã đua nhau nhập ồ ạt đàn bò sản xuất mà việc chọn mua lai giao cho các công ty, rất ít hiểu biết về bò sữa và sau đó sự phân bố bò cũng không được hướng dẫn

Việc nhập ồ ạt bò sữa thương phẩm (không phải để làm giống) với giá khá cao những năm gần đây cho thấy là một sai lầm không chỉ về phương diện kinh tế mà còn ở góc độ thích nghi (thích nghi khí hậu lẫn kỹ thuật) Xem ra rất ít nơi nuôi bò nhập nội thành công và nếu nuôi được thì cái giá phải trả (cả vốn lẫn lãi suất) là

khá cao ( Hai tỉnh phía Bắc nhập hàng nghìn bò sữa nước ngoài

Trang 7

về nuôi là Tuyên Quang và Thanh Hoá đã thất bại vì nông dân yếu

cả về tổ chức lẫn kỹ thuật, đã phải bán lại cơ sở cho Vinamilk một

Công ty sữa lớn quản lý 2008 )

- Thức ăn:

Thức ăn thô xanh có thể xem là khâu thành bại trong việc nuôi

bò sữa ở nước ta Bò là loại nhai lại chỉ có cung cấp đầy đủ thức

ăn thô xanh cho nó thì các hoạt động sinh lý mới được tiến hành

bình thường, tránh được các stress dẫn đến bệnh tật Kinh nghiệm

cho thấy việc cho quá nhiều thức ăn tinh vào khẩu phần sẽ dẫn tới

rối loạn, các bệnh về chân và thậm chí ảnh hưởng đến sức sinh

sản Gần đây có Công ty đã cổ súy cho cái gọi là kỹ thuật trồng cỏ

hỗn hợp của Úc (chỉ biết là các chuyên gia đồng cỏ hàng đầu của

Úc lại hoàn toàn xa lạ với cái công nghệ ấy) người ta muốn ta dập

khuôn công nghệ trồng cỏ đậu hỗn hợp với cỏ họ thảo (mỗi loại 3

giống cỏ) với thâm canh cao độ, với mức phân hóa học tối đa và

nước tưới tiêu hoàn toàn chủ động Đây là công thức nuôi không

có cơ sở khoa học, bởi cỏ bộ đậu có thời gian sinh trưởng dài hơn

không thể thu hoạch cùng lúc với cỏ hoà thảo Thực tế cho thấy

sau một vài lần cắt thì cỏ bộ đậu gần như biến mất Đáng buồn là

sau vài lần trình chiếu trên ti vi chẳng nông dân nào quan tâm đến

cái công nghệ ấy vì họ biết nó hoàn toàn không bền vững, sức

nông dân không theo được và nó phải chết yểu

- Chăm sóc nuôi dưỡng: chăm sóc nuôi dưỡng bò mẹ lúc sinh

sản, lúc vắt sữa để nó sống và duy trì mức sản xuất được bền lâu

Phải cung cấp đủ dinh dưỡng theo yêu cầu duy trì và sản xuất, còn

phải đảm bảo tỷ lệ thức ăn xanh thô và thức ăn tinh hợp lý đảm

bảo quá trình tiêu hoá dạ cỏ được tiến hành bình thường

- Công tác thú y:

Nuôi bò sữa vùng nhiệt đới là một công việc phức tạp dễ xảy

ra rủi ro phát sinh bệnh mà thường thấy là các bệnh viêm bầu vú, đường sinh sản, các bệnh ký sinh trùng Mạng lưới thú y ở vùng nuôi bò sữa phải được củng cố, đặc biệt là ở các vùng vừa nhập bò sữa

Hình thức phổ biến nhất của ngành bò sữa Việt Nam là dựa trên hộ gia đình với từ dăm ba con đến hàng chục con Hình thức trang trại vừa và lớn chắc chắn chỉ chiếm một tỷ lệ không lớn Hiện nay có tình trạng có nơi mua bò nhưng vẫn chưa có phương thức nuôi Nói cho cùng thì hình thức gì cũng phải đảm bảo người nông dân là chủ thực sự và có lợi ích trong việc nuôi, không thể nuôi tốt bò nếu như vẫn coi nó là “ bò dự án” Tất nhiên

ở những nơi mới nuôi nông dân chưa có hiểu biết và kinh nghiệm thì đây là một khó khăn lớn, bởi vì người nông dân không dễ gì làm quen với kỹ thuật mới này Phải thừa nhận rằng trong ngành chăn nuôi nói chung thì nuôi bò sữa là nghề đòi hỏi kỹ thuật cao hơn cả Đáng buồn là một số địa phương miền núi, người ta đã giao cả bò sữa cho những gia đình chỉ quen nuôi lợn thả rông Vấn

đề quy hoạch và nuôi bò sữa là quan trọng, cần có thêm nghiên cứu Về lâu dài chăn nuôi bò sữa phải đẩy xa thành thị bởi các Trung tâm thành thị còn mở rộng và vì vấn đề ô nhiễm môi trường Người ta chở sữa về thành phố chứ không ai chở cỏ về thành phố Các nước dạy ta bài học này

Tóm lại việc phát triển bò sữa hộ gia đình là chủ trương đúng

và sẽ đem lại lợi ích cho người nông dân nếu có bước đi đúng và các biện pháp thích hợp Hàng loạt các tỉnh mới nuôi bò sữa lần

Trang 8

đầu đang gặp rất nhiều khó khăn thậm chí phá sản Đây là hậu quả

của việc làm kinh tế theo kiểu phong trào, chỉ đạo từ trên xuống

mà không thấy hết trở ngại của việc sản xuất cây thức ăn và trình

độ yếu về quản lý kỹ thuật của nông dân ít được huấn luyện Cũng

cần nói thêm là ở nhiều nơi, nông dân không quan niệm được đây

là chuyển dịch kinh tế gia đình chứ không phải là nuôi thêm mấy

con bò sữa Do qui mô nuôi quá ít vài ba con bò sữa nên người ta

không bố trí lại sản xuất trồng trọt, không chịu dành đất cho cây

thức ăn dẫn đến tình trạng bò sữa luôn bị thiếu thức ăn xanh

Khi họach định kế họach phát triển bò sữa dài hạn, cần xem

xét kỹ yếu tố thị trường cạnh tranh sau khi gia nhập WTO, qua đó

xác định mức độ tự túc nguyên liệu sữa nội địa và xác định các địa

bàn phát triển có lợi nhất Rõ ràng là ngành bò sữa chỉ có thể phát

triển tốt khi nó khai thác được nguồn thức ăn sẵn có, con giống

sẵn có và mang lại thu nhập tốt cho người nông dân Có thế sự

phát triển mới bền vững, nhất là trong điều kiện sau hội nhập Tất

nhiên Nhà nước sẽ phải có các chính sách tín dụng và các chính

sách khuyến khích khác đối với người nghèo Sữa học đường có

thể sẽ phải đặt ra nhất là đối với các vùng xa, khó tiêu thụ

V ĐỂ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SỮA PHỤC VỤ LỢI ÍCH

NGƯỜI NGHÈO

Nghề nuôi bò sữa chắc chắn không phải là cho tầng lớp nghèo

nhất của nông thôn Việt Nam, nhưng những gia đình có thể nuôi

5-7 con bò sữa với tín dụng ưu đãi của nhà nước thì cũng chưa thể

được coi là hộ giàu Thực ra, họ vẫn là những nông dân nghèo so

với các nước ở trong vùng Thành công của Ấn Độ, Thái Lan

trong phát triển bò sữa gia đình là bài học tốt đối với Việt Nam

Ngoài sự hỗ trợ tín dụng của nhà nước, thì sự giúp đỡ về huấn luyện, hướng dẫn kỹ thuật và dịch vụ kỹ thuật sẽ là đóng góp đáng

kể cho nông dân Cơ quan khuyến nông cần phải giúp nông dân lựa chọn các công nghệ thích hợp như chọn bò lai, tổ chức sản xuất thức ăn, phòng trị bệnh , giúp họ tránh bớt rủi ro và có thu nhập chắc chắn Đây cũng là cách giúp nông dân tiếp cận dần với sản xuất hàng hóa Vì thế phải hết sức tránh xu hướng giới thiệu các công nghệ cao, đầu tư lớn, quá khả năng và hiểu biết của người nông dân nhỏ Những cái ấy có thể là thích hợp với các trang trại vừa và lớn, nhưng lại xa lạ với các hộ nhỏ

Có thể là trong tương lai gần, cần có một chính sách “ Sữa cho học đường” nhằm những mục tiêu:

- Góp phần tạo nên những thế hệ con người cường tráng hơn cho tương lai

- Giúp giải quyết đầu ra cho những vùng mới phát triển sữa, lại xa nhà máy chế biến

- Góp phần giữ giá sữa tươi giúp người nuôi bò sữa trong điều kiện cạnh tranh với sữa bột nhập từ bên ngoài

Khi tổng kết thành công của sự phát triển sữa 40 năm qua (từ 1960-2000) các bạn Thái Lan đã rút ra 4 yếu tố thành công:

Về kỹ thuật: Đó là tạo giống lai bằng thụ tinh nhân tạo và tăng cường công tác quản lý

Về xúc tiến phát triển: Đó là chương trình sữa Thái Lan, Đan Mạch và sau đó là sự tổ chức xúc tiến bò sữa Thái Lan DPOT (Dairy Promotion Organization of Thailand)

Trang 9

Về thị trường: Đó là nhà máy chế biến sữa tiệt trùng, đó là quy

định chặt chẽ việc nhập sữa bột, cứ mua 20kg sữa tươi của nông

dân thì được phép nhập 1kg sữa bột

Sự ủng hộ vô cùng quý giá của vua Thái, người là ngọn cờ và

đã cổ động sáng lập hợp tác xã sữa trong toàn quốc

Thế nhưng chính nông dân Thái Lan cũng đang lo lắng trước

toàn cầu hóa, khi quy định hạn chế nhập sữa bột sẽ chấm dứt vì

hàng rào thuế quan bảo vệ ngành sữa của Thái Lan bị dỡ bỏ ngay

từ tháng 1 năm 2005 Hiệp ước mậu dịch tự do giữa Thái và Úc có

hiệu lực, và sắp tới Thái cũng sẽ ký hiệp ước tương tự với New

Zealand là những cường quốc sản xuất và xuất khẩu sữa bò Nông

dân Thái Lan hiện đang đấu tranh với Nhà nước để có các đảm

bảo cho sự phát triển tiếp tục của ngành sữa hộ gia đình

Chương 9

SỰ THAY ĐỔI CẤU TRÚC CHĂN NUÔI TRONG

HỘI NHẬP VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG HỘ

Sự phát triển nhanh chóng của dân số, của quá trình đô thị hoá,

sự tăng thu nhập của cộng đồng thúc đẩy nhu cầu sản phẩm động vật tăng mạnh Hội nhập kinh tế dẫn đến sự thay đổi to lớn trong cấu trúc chăn nuôi Chăn nuôi sẽ phát triển nhanh theo hướng công nghiệp quy mô lớn, đầu tư sâu, quay vòng nhanh Sự tập trung hoá theo vùng địa lý đem lại hiệu quả cao và sự liên kết dọc sẽ làm cho chuỗi sản xuất dài ra Hệ quả là bên cạnh mặt được thì người sản xuất nhỏ sẽ khó có cơ hội tiếp cận thị trường Nhận rõ các thay đổi

ấy trong hội nhập kinh tế là điều quan trọng để có được các chính sách phù hợp, các thể chế cần thiết, điều chỉnh sự phát triển kịp thời theo hướng bền vững nhằm đảm bảo sinh kế cho người nghèo

- thành phần dễ tổn thương nhất trong hội nhập kinh tế

I SỨC TIÊU THỤ VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI ĐẾN NĂM 2020

Theo dự tính của FAO thì nhu cầu sản phẩm chăn nuôi trong

15 năm tới sẽ tăng đáng kể, nhất là ở thế giới đang phát triển, những nơi mà cho đến nay mức tiêu thụ protein/ đầu người vẫn còn quá thấp

Hiện nay một nửa dân số của thế giới này vẫn ở mức nghèo (dưới 2 USD / đầu người / ngày) trong đó có 3 tỉ người ở châu Á

Trang 10

Sự phát triển của đô thị hoá, GDP không ngừng tăng, kéo theo sự

tăng thu nhập của dân chúng làm cho nhu cầu protein động vật

tăng mạnh Nếu trước đây do nghèo túng, người ta cần nhiều thức

ăn giàu năng lượng thì càng ngày sự đòi hỏi về protein sẽ càng

cao Sự thay đổi cấu trúc chăn nuôi được xúc tiến bởi những điều

kiện thuận lợi như giá hạt nông phẩm (ngô, đậu tương) rẻ, năng

lượng (dầu khí) có sẵn, các công nghệ hữu hiệu (di truyền và nuôi

dưỡng) Ngoài ra sự tự do hoá thị trường cũng là yếu tố quan

trọng

Dưới đây là một số tư liệu nói lên sức tiêu thụ sản phẩm chăn

nuôi và nhu cầu dự kiến cho đến 2020

Bảng 26: Tiêu thụ sữa và thịt/đầu người trong

các vùng của thế giới

Khu vực

(kg/người/năm)

Nguồn: FAO (2000)

Bảng 27: Chiều hướng tăng trưởng sử dụng

thức ăn chăn nuôi

Các khu vực

Tổng số ngũ cốc sử dụng làm thức ăn chăn nuôi

(Triệu tấn)

Các nước đã phát triển 128 442 425 611

Nguồn: FAO (2000)

Bảng 28: Dự đoán tiêu thụ thịt và sữa trong giai đoạn 1997-2020

Ngày đăng: 24/07/2014, 15:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 25. Sự phát triển đàn và năng suất sữa - PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP part 9 pptx
Bảng 25. Sự phát triển đàn và năng suất sữa (Trang 4)
Bảng 27: Chiều hướng tăng trưởng sử dụng - PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP part 9 pptx
Bảng 27 Chiều hướng tăng trưởng sử dụng (Trang 10)
Bảng 28: Dự đoán tiêu thụ thịt và sữa trong giai đoạn 1997-2020 - PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP part 9 pptx
Bảng 28 Dự đoán tiêu thụ thịt và sữa trong giai đoạn 1997-2020 (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm