1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự

88 748 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dự án xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Tác giả TS Phạm Bảo Dương, KS Nguyễn Thị Thiêm
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Biến đổi khí hậu
Thể loại Báo cáo đánh giá giữa kỳ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 661,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự

Trang 1

CCWG

Dự án ‘Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu

cho các Tổ chức xã hội dân sự’

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ GIỮA KỲ

Thực hiện:

Tư vấn độc lập:

TS Phạm Bảo Dương - Trưởng nhóm, Chuyên gia phát triển

KS Nguyễn Thị Thiêm - Cán bộ hỗ trợ cho Trưởng nhóm

Tháng 4 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT 5

NỘI DUNG BÁO CÁO 11

PHẦN I: GIỚI THIỆU 11

1.1 B ốI CảNH D ự ÁN X ÂY DựNG NĂNG LựC Về B IếN ĐổI KHÍ HậU CHO CÁC T ổ CHứC XÃ HộI DÂN Sự ’ 11

1.2 M ụC TIÊU CủA ĐÁNH GIÁ 11

1.3 P HƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ 11

1.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 11

1.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 12

PHẦN II: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ 13

2.1 X ÁC ĐịNH MộT CÁCH ĐịNH TÍNH MứC Độ HOÀN THÀNH MụC TIÊU , KếT QUả CÁC HOạT ĐộNG CủA Dự ÁN 13

2.1.1 Lễ công bố dự án 13

2.1.2 Hội thảo lập kế hoạch có sự tham gia 13

2.1.3 Nâng cấp website của nhóm CCWG và phát triển website bằng 02 ngôn ngữ Tiếng Anh và Tiếng Việt nhằm thu hút cộng đồng tham gia trực tuyến: 13

2.1.4 Tổ chức các diễn đàn trực tuyến 15

2.1.5 Xuất bản các Bản tin điện tử và và tờ tin về BĐKH 16

2.1.6 Phát triển cơ sở dữ liệu 17

2.1.7 Nâng cao ý thức về BĐKH và các hoạt động của dự án 17

2.1.8 Hoạt động điều phối của dự án 18

2.1.9 Thiết kế các hoạt động đào tạo cho các chủ đề đã chọn lọc bao gồm cả xây dựng và phát triển giáo án và các tài liệu liên quan khác 19

2.1.10 Đào tạo ToT cho các cán bộ của NGO 20

2.1.11 Đào tạo tại nước ngoài cho các học viên ToT tiêu biểu 20

2.1.12 Đào tạo cho cán bộ và đối tác của NGOs 21

2.1.13 Tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm liên quan BĐKH 22

2.1.14 Nghiên cứu học hỏi các mô hình ứng phó với BĐKH 22

2.2 X ÁC ĐịNH CÁC NHÂN Tố CHÍNH ảNH HƯởNG ĐếN HIệU QUả TRIểN KHAI CÁC HOạT ĐộNG CủA Dự ÁN 24

2.2.1 Yếu tố khách quan, bên ngoài 24

2.2.2 Yếu tố chủ quan, bên trong 25

2.3 P HÂN TÍCH ĐịNH TÍNH CÁCH TIếP CậN CủA Dự ÁN Về TÍNH PHÙ HợP ( VớI NHU CầU ), TÍNH HIệU QUả , VÀ TÍNH BềN VữNG 26

2.3.1 Tính phù hợp (với nhu cầu) 26

2.3.2 Tính hiệu quả 27

2.3.3 Tính bền vững 27

2.4 Đ ÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐộNG BAN ĐầU / SớM CủA Dự ÁN 28

2.4.1 Bước đầu thay đổi nhận thức của các tổ chức xã hội dân sự về BĐKH 28

2.4.2 Nâng cao năng lực cho các cán bộ của các NGOs/CSOs 28

2.4.3 Nâng cao năng lực cho các đối tác của NGOs/CSOs 28

2.4.4 Đưa các nội dung về BĐKH gần gũi công chúng hơn 29

2.4.5 Bước đầu giúp lồng ghép BĐKH trong các dự án phát triển của NGOs/CSOs 29

2.4.6 Tư liệu dự án cung cấp là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức 29

2.5 B ÀI HọC KINH NGHIệM 29

2.5.1 Về cách tiếp cận của dự án 29

2.5.2 Đối với các hoạt động của dự án 29

2.5.2.1 Hợp phần truyền thông và điều phối 29

2.5.2.2 Đối với hợp phần đào tạo nâng cao năng lực 30

2.5.2.3 Kinh nghiệm và đề xuất khác 31

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31

3.1 K ếT LUậN 31

3.2 K IếN NGHị 32

PHỤ LỤC 1: Bảng số liệu &các Hộp của báo cáo 35

P Hụ LụC 3: T ổNG THể TIếN Độ & KếT QUả CủA D ự ÁN 46

P Hụ LụC 4: B ộ CÔNG Cụ DÙNG CHO ĐÁNH GIÁ 50

P Hụ LụC 5: C HƯƠNG TRÌNH – K ế HOạCH ĐÁNH GIÁ 72

P Hụ LụC 6: D ANH SÁCH ĐạI BIểU THAM GIA THảO LUậN NHÓM VÀ PHỏNG VấN 73

Trang 3

P Hụ LụC 7: D ANH MụC TÀI LIệU THAM KHảO DÙNG CHO ĐÁNH GIÁ 77

P Hụ LụC 8: CV S CủA CHUYÊN GIA ĐÁNH GIÁ 78

DANH MỤC HỘP VÀ ĐỒ THỊ Đồ thị 1: Mức độ sử dụng tài liệu tập huấn 37

Đồ thị 2: Đánh giá tài liệu tập huấn 37

Hộp 1: Sự tham gia của thành viên BĐH ngày càng giảm 40

Hộp 2: Dự án linh hoạt trong việc điều chỉnh kế hoạch theo đề xuất của thành viên 40

Hộp 3: Tôi là người may mắn vì được chọn làm tập huấn viên nguồn của dự án 40

Hộp 4: Công ty TNHH Hoá Nông trước và sau khi tiếp xúc với một hoạt động của dự án 40 Hộp 5: THV nguồn và học viên của dự rất hài lòng những kiến thức và kỹ năng có được từ tập huấn 40

Hộp 6: Hành trình công việc của anh Linh, sau khi được dự án đào tạo trở thành một tập huấn viên nguồn 41

Hộp 7: Tư liệu dự án cung cấp là tài liệu tham khảo hữu ích của chúng tôi 41

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Mức độ và mục đích truy cập website của người sử dụng 35

Bảng 2: Những mong muốn/đề xuất của người sử dụng để website của dự án hữu ích hơn 35

Bảng 3: Mức độ và mục đích đọc bản tin/tờ tin của dự án 36

Bảng 4: Những mong muốn của người hưởng lợi để cải thiện Bản tin/tờ tin của dự án 36

Bảng 5: Mục đích sử dụng tài liệu của người hưởng lợi 37

Bảng 6: Tính hữu ích của một số hoạt động/sản phẩm của dự án 37

Bảng 7: Những việc làm của các tập huấn viên nguồn (học viên ToT) và học viên của dự án sau các khoá tập huấn 38

Bảng 8: Một số đề xuất/mong muốn của người hưởng lợi đối với dự án 39

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Diễn giải

BCC Truyền thông thay đổi hành vi

CCWG Nhóm làm việc về Biến đổi khí hậu của các tổ chức Phi chính phủ

INGO Tổ chức phi chính phủ quốc tế

Trang 4

IT Công nghệ thông tin

MCD Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng

NGO RC Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ

PT KTXH Phát triển kinh tế xã hội

RECOFTC Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp Cộng đồng cho Khu vực Châu Á

và Thái Bình Dương SRD Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững

TDI Viện Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ

VNGO & CC Mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và Biến đổi khí hậu VNGO Tổ chức phi chính phủ Việt Nam

VUSTA Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

Trang 5

§ Hợp phần 1 - Truyền thông và Điều phối: Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, truyền thông và điều phối các NGO về vấn đề BĐKH

§ Hợp phần 2 - Đào tạo về giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH: Nâng cao kiến thức và

kỹ năng về giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như năng lực lồng ghép biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai vào các chương trình hiện có

§ Hợp phần 3 - Chia sẻ và Học hỏi: Tăng cường chia sẻ và học hỏi các kinh nghiệm thực tiễn và các mô hình điển hình về quá trình giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu

Dự án được ĐSQ Phần Lan tài trợ và bắt đầu triển khai hoạt động đầu tiên tháng 6/2009 Sau một năm rưỡi triển khai, dự án đã đạt được các thành quả nhất định Theo kế hoạch ban đầu của dự án, một đợt đánh giá giữa kỳ sẽ được tổ chức trong năm thứ 2 của dự án để đánh giá quá trình hướng đến các mục tiêu của các hợp phần, các kết quả đạt được so sánh với các chỉ số và hiệu lực của chiến lược bền vững và kiểm tra các tác động sớm của dự án

2 Nhóm chuyên gia Đánh giá giữa kỳ của Dự án bao gồm TS Phạm Bảo Dương, chuyên gia phát triển (Trưởng đoàn), KS Nguyễn Thị Thiêm, trợ lý Trưởng đoàn, với sự hộ trợ của nhóm cán bộ chuyên trách thực hiện dự án, gồm ThS Phạm Thị Bích Ngọc, Điều phối viên, ThS Vũ Thế Thường, Cán bộ đào tạo và CN Nguyễn Thị Quỳnh Chi, Cán bộ truyền thông đã tổ chức triển khai các hoạt động đánh giá trong quý I năm 2011 Sau khi nghiên cứu tài liệu, làm việc với Cơ quan chủ trì (SRD) và các cán bộ chuyên trách thực hiện Dự án, Nhóm chuyên gia đã xây dựng Bộ công cụ và tổ chức Hội nghị đánh giá giữa

kỳ ngày 25-2-2011 Đồng thời, đã triển khai phỏng vấn các cá nhân bằng bảng hỏi (thu về

55 phiếu), các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với các THV nguồn của dự án, các đối tác hưởng lợi, cán bộ & lãnh đạo SRD, một số thành viên Ban điều hành Dự án Dự thảo Báo cáo Đánh giá giữa kỳ đã được gửi xin ý kiến lãnh đạo cơ quan chủ trì thực hiện, ban điều hành và trình bày tại Hội thảo Chia sẻ và cập nhật thông tin giữa kỳ dự án ngày 23-3-

2011 để xin ý kiến góp ý hoàn thiện báo cáo

3 Kết quả đánh giá cho thấy Dự án đã bám sát mục tiêu nhất quán là tăng cường năng lực cho các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam về BĐKH Các hoạt động và các hợp phần của Dự án đã được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ, kế hoạch đã đề ra Với cách tiếp cận từ dưới lên, theo nhu cầu, quá trình lập kế hoạch hàng năm đã nhận được sự

Trang 6

quan tâm tham gia của các bên liên quan do đó đảm bảo tính sát thực, khả thi của kế hoạch Trong quá trình thực hiện, Ban điều hành và cơ quan chủ trì Dự án đã chủ động, sáng tạo

và có những điều chỉnh kế hoạch linh hoạt, kịp thời Kết quả triển khai các hoạt động của

dự án nhìn chung đúng tiến độ Đặc biệt, hợp phần 2 về đào tạo, nâng cao năng lực được triển khai thực hiện với kết quả rất tốt Trên thực tế Dự án cũng đã dành rất nhiều nỗ lực hơn để thực hiện hoạt động này Mặc dù vậy, Báo cáo đánh giá cũng chỉ rõ một vài hoạt động trong hợp phần truyền thông và điều phối có thể được thực hiện tốt hơn và chắc chắn kết thúc dự án sẽ có những kết quả, tác động tích cực nếu có những sự điều chỉnh, thay đổi kịp thời

4 Kết quả đánh giá cũng chỉ ra các nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các hoạt động của dự án Các nhóm nhân tố khách quan, bên ngoài được xác định bao gồm: Tính thời sự, thời điểm của Dự án, năng lực-trình độ và sự quan tâm của các thành viên trong mạng lưới VNGOs&CC và CCWG, sự quan tâm & hỗ trợ kịp thời của VUSTA, và sự ủy nhiệm quản lý dự án của Sứ quán Phần Lan cho cơ quan quản

lý chuyên nghiệp Bên cạnh đó cũng có thể thấy một số thách thức khách quan bên ngoài nổi lên trong quá trình thực hiện dự án như vấn đề BĐKH là vấn đề mới, ít chuyên gia am hiểm tường tận, đây lại là dự án phục vụ cho một mạng lưới rất rộng các tổ chức XHDS với sự quan tâm và cam kết khác nhau nên đòi hỏi kỹ năng lãnh đạo, điều phối rất cao Một yếu tố khách quan khác là dự án rút ngắn thời gian hoạt động xuống 4 tháng so với kế hoạch cũng là một thách thức không nhỏ đối với Dự án

Nhóm các nhân tố chủ quan, bên trong bao gồm: Dự án được thiết kế một cách bài bản – phù hợp, đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong mạng lưới, năng lực và sự tâm huyết, nhiệt tình của các thành viên BĐH, các thành viên nhóm THV nguồn, cơ quan chủ trì thực hiện Dự án là SRD cũng là tổ chức phi chính phủ rất có năng lực và uy tín trong quá trình điều phối, triển khai thực hiện Sự hăng hái, nhiệt tình của các thành viên tham gia dự án – đặc biệt là nhóm cán bộ chuyên trách thực hiện dự án, với sự hiểu biết và kinh nghiệm tổ chức thực hiện, cộng với sự sáng tạo và hỗ trợ lẫn nhau cũng là nhân tố quan trọng, có tính quyết định đến sự thành công bước đầu của Dự án Bên cạnh đó, cũng có thể thấy một số tồn tại chủ quan như trình độ ngôn ngữ, cam kết full-time thực hiện dự án của các cán bộ chuyên trách cũng như cơ chế chia sẻ thông tin, đóng góp lên websites của dự án

5 Các phân tích định tính cũng chỉ rõ cách tiếp cận của dự án về tính phù hợp (với nhu cầu), tính hiệu quả, và tính bền vững Về tổng thể, sau nửa thời gian thực hiện đã chứng minh tính phù hợp, hiệu quả và bền vững của Dự án ở các khía cạnh khác nhau Nhóm tư vấn kiến nghị tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận này trong quá trình triển khai các hoạt động còn lại của Dự án và có thể đối với những dự án tương tự tiếp theo

6 Đánh giá các tác động ban đầu/sớm của dự án, Nhóm tư vấn cho rằng Dự án về tổng thể đã có những tác động bước đầu tích cực như đã: Bước đầu thay đổi nhận thức của các tổ chức xã hội dân sự về BĐKH, góp phần nâng cao năng lực cho các cán bộ và đối tác của các NGOs/CSOs, kết nối các thành viên trong mạng lưới (nhóm đối tượng hưởng lợi từ các hoạt động dự án) trong chia sẻ và trao đổi thông tin ,bước đầu truyền thông về BĐKH

Trang 7

và đưa BĐKH gần gũi công chúng, bước đầu giúp ích cho việc lồng ghép BĐKH trong các

dự án phát triển của VNGOs/CSOs, các tư liệu dự án cung cấp là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức, cá nhân liên quan Ngoài ra, các thành viên còn trao đổi, tham vấn lẫn nhau trong quá trình triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH

7 Trên cơ sở các phân tích ở trên, một số bài học kinh nghiệm đã được đề xuất để điều chỉnh các chỉ số cho phù hợp với tình hình thực tế và để triển khai dự án nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả tốt nhất trong năm cuối (năm 2011) của dự án Trước tiên, Nhóm tư vấn đánh giá và khuyến nghị tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hiện nay tuy nhiên,

cần có cơ chế để phân cấp, trao quyền huy động nhiều hơn sự tham gia của các tổ chức

thành viên Bên cạnh đó, Nhóm tư vấn cũng tổng hợp rút ra các bài học kinh nghiệm cho từng hoạt động ở mỗi hợp phần của Dự án

8 Từ thực tiễn triển khai và xác định các nhân tố ảnh hưởng, cùng với các bài học kinh nghiệm rút ra, Nhóm tư vấn mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị để triển khai tốt dự án trong thời gian rất ngắn (9 tháng cuối năm 2011) còn lại Các đề xuất cụ thể cho mỗi hoạt động ở từng hợp phần của Dự án cũng được đề cập Bên cạnh đó, Nhóm tư vấn cũng khuyến nghị nên tổ chức sớm hoạt động Tài liệu hóa các mô hình tốt ứng phó với BĐKH

và rút ra các bài học kinh nghiệm về hoạt động của Dự án Nhóm tư vấn cũng khuyến nghị một số hoạt động cần triển khai đến khi kết thúc Dự án trong đó, tập trung các nỗ lực, cố gắng vào việc nghiên cứu – xây dựng một đề xuất dự án về cùng chủ đề thích ứng và giảm thiểu với BĐKH nhưng với quy mô lớn hơn, phạm vi rộng hơn và thời gian thực hiện dài hơn Nhóm tư vấn cũng đề xuất áp dụng triệt để cơ chế phân cấp, trao quyền và huy động tối đa sự tham gia của các cá nhân, tổ chức thành viên và các cộng đồng người dân cấp cơ

sở trong triển khai thực hiện dự án Tuy nhiên, Nhóm tư vấn cũng lưu ý rằng phân cấp, trao quyền chỉ được thực hiện khi và chỉ khi tổ chức tiếp nhận sẵn sàng đón nhận và năng lực của họ đủ để có thể thực hiện được tốt

Trang 8

EXECUTIVE SUMMARY

1 Project “Capacity Building on Climate Change for Civil Society Organizations”

with objectives of raising awareness and build capacity of civil society, focusing on NGOs and their partners, to effectively respond to and integrate climate change adaptation and mitigation into relevant existing and future programs to contribute to long term sustainable development of the country and Vietnamese people The Project consists of three components:

Component 1: Communication and Coordination: Increased NGOs access to information,

communication and coordination on climate change

Component 2: Training on adaptation and mitigation: Increased knowledge and skills on

CC adaptation, mitigation and capacity to integrate CC and DRR into existing programs

Component 3: Sharing and Learning: Enhanced sharing and learning on practical

experience and good models of climate change mitigation and adaptation

The Project is funded by Finland Embassy and commenced the first activities in June 2009 After one and half year of implementation, the Project has had certain achievements According to the initial plan, a mid-term review is carried out in the second year to review activities of Components toward the set objectives, compare the implemented activities’ outputs with planned indicators, identify affected factors, review the Project approach as well as observe the early impacts of the Project

2 The Mid-term Review team consists of Dr Pham Bao Duong, development economists (Team leader), Ms Nguyen Thi Thiem, Team leader’s assistant, and with the supports from Project’s staff: MSc Pham Thi Bich Ngoc - PO, MSc Vu The Thuong, traning staff and Ms Nguyen Thi Quynh Chi, communication staff have carried out reviewing activities in the first quarter of 2011 After studying Project related documents, discussing with SRD managers and Project staff in-charge, the review team constructed Review Tools and organized the Mid-term Review Workshop held at February 25, 2011 The team also conducted questionnaire interviews with individuals (55 returned questionnaire), in-depth interviews, group discussions with ToT, beneficiaries, and some PSC members The draft of the Mid-term Review Report was circulated widely among those involved for comments The review team presented the draft report at the Mid-term Reviewing Workshop held at March 23, 2011 in Hanoi It, then, has been revised accordingly

3 The reviewing results show that the Project has strictly followed the consistent objective which is to build capacity on climate change for individuals and civil society organizations Component activities have been implemented accordingly to the set plan Following the bottom up, needs-based approach, the annually planning processes mobilized the interests and participations of stakeholders involved, hence, it ensures the feasibility as well as appropriateness of the plans

During the Project implementing process, PSC and principal organization- SRD have actively, flexibly and timely adjusted the plans Overall, the Project is implemented well Especially, component 2 concerning training and capacity building is progressing very well In fact, the Project devotes more efforts to carry out this component’s activities However, the mid-term report also points out that some activities in the Communication and Coordination component could have been implemented better and surely would bring good results with positive outcomes and impacts if appropriate adjustments are made

Trang 9

4 The report also identifies internal and external factors affecting the implementation and effectiveness of Project activities Those external factors are identified consisting of: The timing and the necessity of the Project, capability and the interests of members in VNGO&CC and CCWG network, the timely supports from VUSTA and the delegation of project management from Finland Embassy to a professional management company Besides, there are some external challenges emerged during the implementation process First, climate change is a new topic with quite few experts who understand it thoroughly This Project is for wide network of civil society organizations with whose different interests and commitments, hence, it requires high skills of leadership and coordination The implementation period of the Project is shortened by four months compared to the initial plan that is also a significant challenge to the Project management team

Those internal factors are identified as follows The Project is thoroughly designed and has been proved to be suitable; it meets demands of network members; it is carried out by members of PSC, ToT and others who are really capable and so enthusiasm The fact is that functioning as focal implementing agency, SRD is one of those NGOs which are quite capable and prestigious Furthermore, the enthusiasm of Project members particularly, of Project’ staff whose understandings and implementing experiences enhanced by their creativeness and mutual supports among them is also a very important factor that contributes decisively to the initial success of the Project

Besides that, there are still some subjective issues that need to be solved These are the English proficiency, less full-time commitments of staff in-charge as well as information sharing mechanism that affects particularly to the operating of the Project website

5 Qualitative analysis also assesses the approach of the Project in terms of its appropriateness (in accordance with needs), efficiency and sustainability Overall, after the half Project cycle of implementation it proves quite clearly the appropriateness, efficiency

as well as sustainability of the Project in different aspects The review team recommend to continue follow this approach in the process of implementing remaining activities of the Project and possibly for the similar type of projects in the future

6 Assessing the initial/early impacts of the Project, the review team observe that in general, the Project has brought about some positive impacts such as: Step by step to raise awareness of staff and civil society organizations concerning climate change; partly contribute to the capacity building process of staff and NGOs/CSOs partners; connect the network’s members whose benefits from Project’s activities in communication and information sharing; communicate with community on climate change and make it understandable to the public;hence, it all gradually brings climate change issues as a part of development projects/programs of VNGOs Project’s documents are useful references for individuals and organizations involved Lastly, there exist communications and experience sharing among members in the process of implementing activities

7 Based on above analysis, some lessons learnt are drawn to adjust indicators to be suitable with the current situation It also aims at best implementing activities so that to achieve a best quality and efficiency in the last year implementation (2011) of the Project Most importantly, the review team recommend to continue applying the current approach, however, it is necessary to more decentralize, more delegate and mobilize more participation of member organizations Besides, the review team also draw the lessons learnt for each activity in each component of the Project

8 From the state-of-the art implementation, with affected factors identified and lessons learnt drawn, the review team recommend some measures to better implement the Project in remaining short (9 months in 2011) period of time Detailed recommendations

Trang 10

for each activity in each component of the Project are pointed out Besides that, the team also propose the new activity of documentation of best practices and experiences the Project Most importantly, the team recommend follow- up project activities, of which is to conduct a feasibility and formulate a new project proposal concerning the same topic of climate change adaptation and mitigation However, the newly proposed project is recommended to be in bigger scale, larger scope of activities, and with longer period of implementation It is also highly recommended to apply in more comprehensive and systematic manner the mechanism of decentralization, delegation and mobilization of individuals, member organizations, and grassroots local community in project implementation At the same time, the review team also note that the process of decentralization should be carried out only when the decentralized organs are eager to receive and prove being capable of carrying out

Trang 11

NỘI DUNG BÁO CÁO PHẦN I: GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các Tổ chức xã hội dân

sự’

Dự án “Xây dựng năng lực về Biến đổi Khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự” với Mục tiêu của dự án là nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự, tập trung vào các tổ chức phi chính phủ (NGO) và đối tác, để ứng phó hiệu quả và lồng ghép hoạt động giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH vào các chương trình liên quan nhằm đóng góp vào sự nghiệp phát triển bền vững, lâu dài của Việt Nam Dự án gồm 3 hợp phần:

§ Hợp phần 1 - Truyền thông và Điều phối: Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, truyền thông và điều phối các NGO về vấn đề BĐKH

§ Hợp phần 2 - Đào tạo về giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH: Nâng cao kiến thức và

kỹ năng về giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như năng lực lồng ghép biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai vào các chương trình hiện có

§ Hợp phần 3 - Chia sẻ và Học hỏi: Tăng cường chia sẻ và học hỏi các kinh nghiệm thực tiễn và các mô hình điển hình về quá trình giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu

Dự án được ĐSQ Phần Lan đồng ý tài trợ từ 4/2009, được Liên hiệp các Hội khoa học và

Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) – cơ quan chủ quản của SRD phê duyệt tháng 5/2009, bắt đầu triển khai hoạt động đầu tiên tháng 6/2009 Sau một năm rưỡi triển khai, dự án đã đạt được các thành quả nhất định Theo kế hoạch ban đầu, một đợt đánh giá giữa kỳ sẽ được tổ chức trong năm thứ 2 để đánh giá quá trình hướng đến các mục tiêu của các hợp phần, các kết quả đạt được so sánh với các chỉ số và hiệu lực của chiến lược bền vững và kiểm tra các tác động sớm của dự án

1.2 Mục tiêu của đánh giá

Đánh giá quá trình thực hiện nhằm phát hiện và tài liệu hóa mức độ hoàn thành mục tiêu cũng như những tác động của Dự án; rút ra những bài học trong quá trình thiết kế, quản lý

và thực hiện Yêu cầu của đánh giá nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể như sau:

§ Xác định một cách định tính mức độ hoàn thành mục tiêu, kết quả các hoạt động của dự án,

§ Xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các hoạt động của dự

án,

§ Phân tích định tính cách tiếp cận của dự án về tính phù hợp (với nhu cầu), tính hiệu quả, và tính bền vững,

§ Đánh giá các tác động ban đầu/sớm của dự án

§ Rút ra những bài học kinh nghiệm để điều chỉnh các chỉ số cho phù hợp với tình hình thực tế và để triển khai dự án nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả tốt nhất trong năm cuối (năm 2011) của dự án

(Chi tiết về Điều khoản tham chiếu đánh giá xin xem Phụ lục 2)

1.3 Phương pháp đánh giá

1.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

Đánh giá được thực hiện theo phương pháp tiếp cận có sự tham gia Trong quá trình đánh giá đã kết hợp nhiều công cụ khác nhau nhằm huy động tối đa sự tham gia của các đối tượng liên quan Các công cụ thu thập thông tin bao gồm nghiên cứu tài liệu và thu thập dữ

Trang 12

liệu thứ cấp; phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm đại diện cho các bên liên quan trong Dự án; điển cứu là những công cụ được sử dụng thường xuyên để hiểu rõ thực trạng và nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến tích cực hoặc hạn chế của mỗi hoạt động hoặc lĩnh vực can thiệp của Dự án Bộ công cụ dùng trong quá trình đánh giá giữa kỳ bao gồm Khung nội dung thảo luận nhóm, Phỏng vấn sâu – điển hình, Phiếu phỏng vấn người hưởng lợi, Phỏng vấn cán bộ phụ trách dự án có thể tìm thấy chi tiết ở Phụ lục 4 của Báo cáo này

Sử dụng các công cụ trên, với sự hỗ trợ của cán bộ chuyên trách thực hiện dự án của SRD, chuyên gia đã có hàng loạt các buổi làm việc với cán bộ dự án, cán bộ và lãnh đạo SRD, với đại diện nhóm THV, BĐH, tổ chức Hội nghị đánh giá giữa kỳ, thảo luận nhóm với các đối tượng khác nhau liên quan đến dự án (Phụ lục 5) Đồng thời, cũng đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với tổng số 55 phiếu điều tra các đối tác hưởng lợi từ Dự án Chi tiết về các nhóm đối tượng và số người được phỏng vấn được trình bày ở Phụ lục 6

Kiểm tra chéo cũng được sử dụng nhằm tăng độ tin cậy của thông tin Một thông tin có thể được thu thập từ nhiều nguồn, phỏng vấn nhiều nhóm đối tượng, sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau

Vai trò của tư vấn1 là thúc đẩy các bên liên quan chia sẻ những nhận định, đánh giá về Dự

án xét trên phương diện của mỗi cá nhân hoặc nhóm lợi ích để trên cơ sở đó tổng hợp và đưa ra những kết luận mang tính phổ quát hoặc những vấn đề nổi bật

1.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

Các phương pháp phân tích định tính và định lượng được kết hợp sử dụng trong quá trình phân tích dữ liệu, viết báo cáo Trên cơ sở nghiên cứu văn kiện dự án, các Báo cáo quý, xem xét các tài liệu tập huấn, các báo cáo hoạt động, trang web, kết hợp trao đổi với cán bộ triển khai thực hiện dự án, lãnh đạo SRD và các thành viên BĐH, chuyên gia đánh giá giữa

kỳ sơ bộ hình dung những nhận định bước đầu về kết quả triển khai thực hiện các hoạt động Thông tin thu thập được từ Hội nghị đánh giá giữa kỳ, các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm cùng với quá trình xử lý thống kê các phiếu phỏng vấn để rút ra các nhận định, đánh giá về quá trình triển khai, các vướng mắc, tồn tại, tác động sớm và những kiến nghị bước đầu để triển khai thực hiện tốt hơn dự án trong thời gian tới

Trang 13

PHẦN II: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

2.1 Xác định một cách định tính mức độ hoàn thành mục tiêu, kết quả các hoạt động của dự án

Hợp phần 1 - Truyền thông và Điều phối:

Hợp phần này hướng tới mục tiêu: Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, truyền thông

và điều phối các NGO về vấn đề BĐKH Các kết quả cụ thể cần hướng tới là: (1) Nâng cao việc tiếp cận nguồn thông tin chính xác và đầy đủ về vấn đề BĐKH giữa các cán bộ của các tổ chức VNGO/INGO, các đối tác địa phương và công chúng; (2) Kế hoạch điều phối việc triển khai dự án với vai trò, trách nhiệm rõ ràng của các tổ chức hỗ trợ; (3) Thu thập

và đồng nhất tài liệu đào tạo và các tài liệu truyền thông có sẵn và có chất lượng cao từ tất

cả các dự án của CCWG và VNGO&CC; (4) Sử dụng hiệu quả các tài liệu, thông tin và dữ liệu chia sẻ trên website (giáo án đào tạo, các ấn phẩm và nguồn tài liệu, tài liệu IEC, danh sách học viên, vv…)

Kết quả đánh giá giữa kỳ cho thấy:

2.1.1 Lễ công bố dự án

Ngày 7 tháng 4 năm 2009 tại Hà Nội, SRD cùng với các đối tác đã long trọng tổ chức lễ công bố Dự án với sự tham gia của đại biểu đến từ các cơ quan, ban ngành có liên quan của Chính phủ, các nhà khoa học trong lĩnh vực BĐKH, các tổ chức quốc tế, các cơ quan báo chí, các tổ chức NGO và tổ chức xã hội dân sự khác Sau lễ công bố, thông tin về Dự

án đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1), trang website của NGO RC, SRD

2.1.2 Hội thảo lập kế hoạch có sự tham gia

Kế hoạch đặt ra tháng 07 hàng năm tổ chức hội thảo lập kế hoạch năm nhưng Dự án luôn triển khai sớm hơn Hội thảo cho lập kế hoạch năm thứ nhất được tổ chức vào ngày 26/06/2009 tại Hà Nội với sự tham gia của 30 đại biểu đến từ Ban điều hành Dự án, SRD,

các thành viên của 2 mạng lưới Các tham dự viên tham gia hội thảo đã thống nhất một dự

thảo kế hoạch các hoạt động của dự án (cả 3 hợp phần) cơ bản Kế hoạch bao gồm kết quả mong đợi của hoạt động, các chỉ số giám sát đánh giá, phương pháp thực hiện, thời gian thực hiện, địa điểm thực hiện và trách nhiệm của các bên trong thực hiện các hoạt động Kết thúc hội thảo, các tham dự viên thống nhất nhóm công tác dự án sẽ phát triển, hoàn thiện bản kế hoạch và gửi lại cho các tham dự viên để tiếp tục đóng góp ý kiến hoàn thiện

Ở hội thảo lập kế hoạch cho năm thứ hai của dự án được tổ chức 01 ngày (22/04/2010) tại

Hà Nội đã thu hút được 33 thành viên tham dự Hội thảo đã chia thành các nhóm thảo luận lập kế hoạch cho các hợp phần của dự án

Nhìn chung, hội thảo lập kế hoạch luôn thực hiện sớm hơn tiến độ và thu hút sự tham gia của đa dạng các thành phần liên quan BĐKH Bản kế hoạch của dự án được xây dựng khá công phu và có đầy đủ các nội dung: các hoạt động, đối tượng hưởng lợi, kết quả hoạt động, thời gian, người thực hiện, chỉ số đánh giá, nguồn thông tin, số liệu và đơn vị giám sát Tuy nhiên, Bản kế hoạch chưa xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên tham gia, ví dụ Bản kế hoạch của năm thứ 2 (lập tháng 04 năm 2010) mới chỉ đưa ra người thực hiện, chưa làm rõ ai, tổ chức nào làm việc gì; ở hợp phần 2 không xác định rõ tổ chức nào triển khai thực hiện

2.1.3 Nâng cấp website của nhóm CCWG và phát triển website bằng 02 ngôn ngữ Tiếng Anh và Tiếng Việt nhằm thu hút cộng đồng tham gia trực tuyến:

Theo kế hoạch của dự án, tháng 10 năm 2009, website Nhóm các tổ chức phi chính phủ làm việc về Biến đổi khí hậu (CCWG) trên website của NGO RC được hoàn thiện việc thiết kế lại và bắt đầu cập nhật thông tin Tuy nhiên, đến đầu tháng 3/2010, website của

Trang 14

CCWG mới được thiết kế lại với giao diện mới www.ngocentre.org.vn/ccwg Nguyên nhân của việc chậm tiến độ do NGO RC có sự thay đổi nhân sự và IT mới của NGO RC không chấp nhận một công ty thiết kế website trong nước đảm nhận công việc này Một cuộc họp giữa NGO RC và BĐH được tổ chức, trong đó xác định IT mới của NGO RC đảm nhận việc thiết kế lại website của CCWG, cán bộ truyền thông của dự án có nhiệm vụ cập nhật thông tin cho website Theo đó, hợp đồng thiết kế lại website của CCWG được chuyển sang thiết kế một website mới cho Mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và Biến đổi khí hậu (VNGO & CC) www.vngo-cc.vn

Cả hai website đã được hoàn thiện và cập nhật thông tin từ tháng 3/2010 với giao diện và thiết kế đẹp, cung cấp những thông tin cập nhật về biến đổi khí hậu tại Việt Nam Những thông tin về hoạt động của dự án, 2 mạng lưới và các hoạt động liên quan đến BĐKH tại Việt Nam đã, đang và sẽ được thu thập từ các tổ chức thành viên, các đối tác của dự án sau

đó được biên tập, edit và đăng tải trên cả 2 website bởi cán bộ truyền thông và quản trị mạng

Hiện nay, website của CCWG hiện vẫn do IT của NGO RC quản trị và chủ yếu phát triển phần tiếng Anh Quá trình duyệt và đưa thông tin lên website hiện do cán bộ của CARE đảm nhiệm, theo kế hoạch sau một năm sẽ chuyển giao cho cán bộ truyền thông của Dự án đảm trách Website của VNGO & CC do cán bộ truyền thông của dự án quản lý và cập nhật Cán bộ truyền thông này ngoài việc quản lý và cập nhật thông tin cho website của VNGO & CC (chủ yếu là tiếng Việt) còn có nhiệm vụ chuyển các thông tin của dự án, 2 mạng lưới tới đơn vị quản trị website của CCWG để đẩy thông tin này lên mạng

Đối với website của VNGO & CC:

Tính đến 08h15 ngày 25 tháng 02 năm 2011 website của VNGO & CC (www.vngo-cc.vn)

có 639.607 lượt người truy cập- một con số khá lớn đối với một website mới ra đời Về cơ

sở dữ liệu, có hơn 60 chuyên gia, 69 đầu tài liệu liên quan BĐKH, các bản tin và tờ tin của

dự án đều được đăng tải trên website và có thể download tham khảo

Trong số 55 người được điều tra có tới 41,8% người truy cập website của dự án thường xuyên, 43,6% truy cập nhưng không thường xuyên và 14,5% người không truy cập Điều

đó cho thấy website đã thu hút được số lượng lớn người quan tâm Người truy cập website của dự án với rất nhiều mục đích khác nhau, tập trung chủ yếu vào mục đích đọc các tin tức liên quan BĐKH (87%), tìm hiểu các chương trình, dự án liên quan BĐKH (80,4%), tìm kiếm cơ sở dữ liệu (78,3%), đọc bản tin điện tử của dự án (58,7%), tìm các cơ hội đào

về BĐKH (56,5%), đọc các chính sách về BĐKH (54,3%), đọc các trường hợp điển hình

về BĐKH (50%), tìm hiều về nhà tài trợ BĐKH (45,7%)… (Bảng 1, Phụ lục 1)

Hầu hết số người sử dụng đều hài lòng và nhận định website của dự án hữu ích Trong số

46 người cho nhận định về website của dự án, có 29,1% đánh giá website rất hữu ích, 38,2% đánh giá website hữu ích,14,5% cho rằng website chưa thực sự hữu ích và duy nhất 1,8% người chưa hài lòng về website Sự hạn chế của website của dự án được nhận định:

Về giao diện và cách sắp xếp dữ liệu trên website: Trong số 05 ý kiến đánh giá về hạn chế

của website có 01 ý kiến phản ánh giao diện và nội dung của website chưa phù hợp với cộng đồng, 01 ý kiến khác không hài lòng về cách bố trí cơ sở dữ liệu chưa được khoa học, chưa phân loại tài liệu thành các nhóm nhỏ nên khó tìm kiếm, ví dụ: mục tài liệu nghiên cứu, tập huấn chỉ thể hiện có 151 đầu tài liệu (tiếng Anh và tiếng Việt), không phân theo các nhóm

Về nội dung thông tin, nhận định của một số người hưởng lợi cho thấy, website hiện có ít

thông tin về hoạt động và các mô hình liên quan BĐKH của các tổ chức trong 2 mạng lưới

và các đối tác về BĐKH Các hoạt động mà website đưa tin chủ yếu là các hoạt động của

dự án như các thông tin về hội thảo, tập huấn, chưa có nhiều các thông tin chia sẻ về những

Trang 15

hoạt động của các tổ chức NGO/CSO ở khắp cả nước liên quan đến BĐKH trong khi số thành viên của 2 mạng lưới này lên tới trên 100 tổ chức Hiện nay, website mới chỉ đưa ra một mô hình kinh nghiệm của tổ chức CRD tại Thanh Hoá Bên cạnh đó, người truy cập website của dự án mong muốn chia sẻ và trao đổi thông tin với người khác nhưng không thể truy cập vào forum của website vì mục này chưa hoàn thiện

Về tính cập nhật: Ngày 25 tháng 02 năm 2011, nhóm tư vấn đánh giá truy cập website, tuy

nhiên, các mục về cơ hội đào tạo, tài trợ vẫn đang trong tình trạng cập nhật, không có thông tin Trong số 42 người đánh giá về tính cập nhật của website dự án có 24 người tương đương 57,1% người đánh giá website cập nhật thường xuyên, vẫn còn trên 33% số người đánh giá website chưa được cập nhật thường xuyên

Về nguyên nhân của các hạn chế nêu trên, thực tế hiện nay, dự án chỉ có một cán bộ truyền thông vừa đảm nhận nhiệm vụ thu nhận thông tin, biên tập thông tin cho 2 website vừa đảm nhận nhiệm vụ xuất bản bản tin hàng tháng, tờ tin hàng quy của dự án Với số đầu thông tin, dữ liệu phong phú của website và bản tin/tờ tin như hiện nay là sự cố gắng nỗ lực và tâm huyết mới có thể đảm nhận được nhiệm vụ với kết quả như trên Hơn nữa, BĐKH là lĩnh vực còn mới ở Việt Nam nên việc thu nhận, biên tập thông tin gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt, mặc dù dự án đã có những thông báo, biểu dương, kêu gọi gửi tin bài cho website, bản tin/tờ tin từ các tổ chức thành viên nhưng số các tổ chức tự gửi tin, bài còn hạn chế, rất cần được cải thiện trong thời gian tới

Đối với website của CCWG:

Website có đầy đủ các mục như giới thiệu về mạng lưới, tin tức, các ấn phẩm xuất bản, sự kiện của mạng lưới, các dự án tại Việt Nam, các hoạt động của NGO, các dự án nâng cao năng lực, các hoạt động của nhóm, Trong các mục chính của mạng lưới như các mục về các dự án tại Việt Nam, các chính sách về BĐKH đã tập hợp khái quát những thông tin cần thiết

Tuy nhiên, hầu hết các mục nêu trên đều là những thông tin tĩnh, không mang tính cập nhật Ví dụ: ngày 15/03/2011, nhóm chuyên gia truy cập website vào mục sự kiện chỉ có duy nhất một sự kiện của mạng lưới về đối thoại vào ngày 15/03/2011; mục tin tức cũng chỉ được cập nhật mới nhất vào ngày 07/01/2011; mục các ấn phẩm và xuất bản chưa cập nhật các bản tin của năm 2011

Nguyên nhân của hạn chế được lý giải, các thông tin liên quan BĐKH và các thông tin về mạng lưới và dự án chủ yếu được chia sẻ qua mailing list Theo BQL dự án, website của CCWG đặt trên trang của NGO RC với server đặt tại Hồng Kông nên đã bị cũ và không cập nhật so với các công nghệ hiện đang sử dụng tại Việt Nam nên hạn chế dung lượng và khả năng truyền tải cũng như truy cập Phía dự án rất mong muốn cải thiện giao diện của web cho sống động hơn nhưng gặp rất nhiều khó khăn

Với sự tiện lợi và tính hữu ích của website về BĐKH tại Việt Nam, các cá nhân và tổ chức hưởng lợi mong muốn website tiếp tục được cải thiện để đáp ứng tốt hơn mong đợi của người sử dụng như sau: Thường xuyên cập nhật thông tin liên quan BĐKH (63,6%), phổ biến dữ liệu đầy đủ (hồ sơ chuyên gia, tài liệu về BĐKH)-18,9%), huy động và cập nhật các thông tin từ tổ chức hưởng lợi, NGO, đối tác địa phương (13,5%) và cơ hội tài trợ, có diễn đàn chia sẻ thông tin về BĐKH (13,5%), có các video clip về các mô hình BĐKH, phổ biến để nhiều người biết website của dự án (Bảng 2, Phụ lục 1)

2.1.4 Tổ chức các diễn đàn trực tuyến

Theo đúng tiến độ của dự án, diễn đàn trực tuyến với chủ đề về “Vietnam’s responses to Climate change” và “The youth’s responses to climate change” được tổ chức từ 16h đến 17h ngày 14 tháng 07 năm 2010 với sự hợp tác với Cổng Trí Thức Thánh Gióng, website

của Đoàn thanh niên Việt Nam Diễn đàn đã thu hút sự tham gia của gần 300 thanh niên,

Trang 16

đại diện các tổ chức hội của Việt Nam, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, các tổ chức NGO và những cá nhân, tổ chức làm việc về BĐKH Đã có hơn 300 câu hỏi được gửi tới ban tổ chức qua website trước và trong khi tổ chức diễn đàn Các câu hỏi liên quan đến BĐKH như chính sách, chương trình bảo vệ môi trường và chống BĐKH của chính phủ và các tổ chức XHDS Giải đáp các câu hỏi này có sự tham gia của 2 chuyên gia đến từ Bộ Tài nguyên và Môi trường và 3 thành viên Ban quản lý dự án Đặc biệt, người quan tâm có thể xem các câu hỏi và lời giải đáp tại đường link: http://thanhgiong.vn/Home/Tin-tuc-New/Newsdetail.aspx?id=4442

hoặc http://srd.org.vn/default.asp?la=vi&a=vgm&pro=vn&id=22&g=77&ind=173

Trong và sau thời gian diễn ra trao đổi trực tuyến, một số trang điện tử như Đài Tiếng nói Việt Nam, Xalo, Oxfam, Cổng Thánh Gióng cũng đã truyền tải diễn đàn trên website Đây không chỉ là cơ hội để dự án truyền thông các vấn đề liên quan đến BĐKH mà còn là cơ hội tốt truyền thông các hoạt động của dự án đến nhiều cá nhân, cơ quan và tổ chức

Người tham gia diễn đàn được điều tra đánh giá hoạt động rất hữu ích Tính hữu ích thể hiện: qua diễn đàn người tham gia có được: “Định hướng tính xã hội, khía cạnh BĐKH vào công việc của bản thân”; “cập nhật thông tin, chia sẻ thông tin về BĐKH và mở rộng mạng lưới”; “trao đổi và giải đáp thắc mắc, là nơi gặp nhau và chia sẻ giữa những người quan tâm đến BĐKH”, Tuy nhiên, thời gian của hoạt động, mặc dù đã được kéo dài hơn

so với kế hoạch, nhưng vẫn không đủ để các chuyên gia trả lời các câu hỏi của người quan tâm Những người tham gia mong muốn trong thời gian tới dự án cần tiếp tục tổ chức các diễn đàn với các chủ đề liên quan BĐKH

2.1.5 Xuất bản các Bản tin điện tử và và tờ tin về BĐKH

Bản tin điện tử về BĐKH được xuất bản hàng tháng bằng 2 thứ tiếng Anh và Việt Các tổ chức thành viên và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến vấn đề BĐKH là những người cung cấp thông tin cho Bản tin và được cán bộ phụ trách của dự án tổng hợp, biên tập xuất bản

và được chuyên gia duyệt Theo đúng tiến độ của dự án, từ tháng 10 năm 2009 đến hết tháng 12/2010 dự án đã xuất bản được 15 bản tin điện tử Bản tin điện tử hàng tháng được gửi qua email đến hơn 140 tổ chức thành viên của mạng lưới VNGO & CC và hơn 200 tổ chức thành viên của CCGW và được đăng tải trên website của cả 2 mạng lưới để người quan tâm đến BĐKH có thể dễ dàng tiếp cận

Bên cạnh đó, hàng quý, các thông tin liên quan về BĐKH được chọn lọc từ các Bản tin điện tử và cô đọng để biên tập và xuất bản Tờ tin tiếng Việt và gửi đến những tổ chức thành viên, đối tác của các thành viên thuộc hai mạng lưới VNGO&CC và CCWG ở các địa phương, hiện bị hạn chế trong việc truy cập Internet Kết quả, từ quý 4/2009 đến hết tháng 12/2010, dự án đã xuất bản được 5 tờ tin và gửi qua e-mail đến các tổ chức thành viên của 2 mạng lưới, các đối tác của dự án với nhiều nội dung phong phú về các hoạt động của dự án và các hoạt động liên quan đến BĐKH tại Việt Nam Đặc biệt, đã có khoảng 3.500 tờ tin đã được in và gửi tới hơn 700 tổ chức là đối tác tại các địa phương của

2 mạng lưới (bắt đầu từ quý 3/2010, Dự án in 1000 bản tin)

Sau khi gửi đi các bản tin và tờ tin đến các thành viên của 2 mạng lưới và đối tác dự án, Ban quản lý đã nhận được nhiều sự phản hồi tích cực từ người đọc với sự hài lòng về những thông tin và mong muốn tiếp tục được đón đọc các bản tin và tờ tin tiếp theo

Kết quả điều tra bảng hỏi cho thấy, có 34,5% người thường xuyên đọc bản tin của dự án, 45,5% đọc nhưng không thường xuyên và 20% không đọc nguyên nhân chưa biết đến bản tin của dự án hoặc chưa đăng ký là thành viên trong mailing list để nhận bản tin của dự án Độc giả bản tin đánh giá rất cao tính hữu ích của bản tin với 18,2 % số người nhận định bản tin/tờ tin rất hữu ích, 72,7% hữu ích Người đọc bản tin điện tử và tờ tin của dự án để

có được những thông tin liên quan đến BĐKH và dự án như cập nhật các chương trình dự

Trang 17

án về BĐKH (93,2%), biết thông tin về hoạt động của dự án (77,3%), có thêm thông tin cơ hội tài trợ (50,0%), các ấn phẩm mới về BĐKH (47,7%), các câu chuyện thú vị về BĐKH (36,4%), dự báo và kịch bản về BĐKH (31,8%), (Bảng 3, Phụ lục 1)

Tuy nhiên, để bản tin, tờ tin tốt hơn và hữu ích hơn với người hưởng lợi, dự án cần khắc phục một số hạn chế sau:

Hạn chế về nội dung: Bản tin và tờ tin chưa có được nhiều những thông tin về hoạt động

của các tổ chức thành viên và các đối tác địa phương liên quan đến BĐKH Một số tổ chức thành viên phản ánh không nhận được thông báo gửi tin cho bản tin/tờ tin của dự án Bản tin có ít các mô hình thành công và thất bại về BĐKH tại Việt Nam

Về cách gửi và nhận bản tin điện tử: Bản tin đã được gửi cho các cá nhân đăng ký thành

viên và gửi đến e-mail của hơn 100 tổ chức Việc gửi bản tin đến địa chỉ của một người đại diện trong tổ chức nhận có thể xảy ra rủi ro, bản tin sẽ nằm tại e-mail của một người nào

đó mà không được chuyển tiếp đến các thành viên khác trong tổ chức Một số người điều tra tự nhận lỗi thời gian đầu thường chuyển ngay bản tin đến những thành viên khác trong

tổ chức và đối tác nhưng thời gian gần đây, do công việc bận rộn “đã quên” không chuyển cho người khác Bên cạnh đó, khó khăn trong gửi bản tin của dự án còn được nhận định do các tổ chức thành viên, các NGO thay đổi địa chỉ mail và không báo lại cho BQL dự án Với những hạn chế nêu trên, các độc giả mong muốn Bản tin/tờ tin ngày càng hấp dẫn hơn nữa, hữu ích hơn nữa với những đề xuất như có nhiều hình ảnh và câu chuyện hấp dẫn hơn (50%), có thông tin chia sẻ về hoạt động của các tổ chức thành viên, tổ chức khác và sáng kiến địa phương (25%), thông tin kết quả mô hình thất bại, thành công về BĐKH (18,8%), tăng hàm lượng thông tin, (Bảng 4, Phụ lục 1)

2.1.6 Phát triển cơ sở dữ liệu

Theo đúng tiến độ của dự án, tháng 12/2009, cơ sở dữ liệu của dự án đã được hoàn thiện với các nhóm nội dung: (1) Dữ liệu về các hoạt động biến đổi khí hậu hiện có tại Việt nam

mà có thể tìm kiếm; (2) Dữ liệu về các chuyên gia BĐKH sẵn sàng đóng góp công sức, thời gian và kiến thức; (3) Dữ liệu về các tổ chức thực hiện việc đào tạo liên quan đến biến đổi khí hậu cũng; (4) Dữ liệu về các nhà tài trợ và các cơ hội tài trợ; (5) Dữ liệu về các tham dự viên của các khóa đào tạo, các sự kiện học tập trong hợp phần 2 và 3 của dự án

Dữ liệu được phát triển dưới sự giúp đỡ và tư vấn của các chuyên gia từ mạng lưới CCWG, VNGO&CC; được cung cấp và cập nhật của các nhà tài trợ và tham dự viên Cơ

sở dữ liệu được thu thập, tổng hợp và biên tập và đăng tải trên website của cả 2 mạng lưới Tính đến 08h15’ ngày 25 tháng 02 năm 2011, có hơn 1000 lượt người truy cập website của VNGO & CC để xem cơ sở dữ liệu của dự án Kết quả điều tra bảng hỏi cũng cho thấy, có 13,3% số người truy cập website của dự án để tìm cơ sở dữ liệu Điều này chứng tỏ sức hấp dẫn và tính hữu ích của cơ sở dữ liệu dự án mang lại

Tuy nhiên cơ sở dữ liệu của VNGO&CC cũng còn một số tồn tại cần khắc phục Trong phiên thảo luận nhóm Hội nghị đánh giá giữa kỳ, đã có chuyên gia CSDL cho rằng đây

chưa thực sự là CSDL Dữ liệu về chuyên gia chỉ có tên chuyên gia, tên cơ quan, email và

số điện thoại liên lạc không có kèm theo lĩnh vực nghiên cứu, tư vấn cũng như kinh nghiệm của chuyên gia nên người đọc khó có thể dựa vào đó để tìm chuyên gia khi cần thiết Dữ liệu về các tư liệu liên quan BĐKH chỉ có tên tài liệu, đường link chỉ nguồn gốc của tài liệu, không có file dữ liệu kèm theo Người sử dụng phải tiếp tục tìm kiếm mới có được dữ liệu cần tìm

2.1.7 Nâng cao ý thức về BĐKH và các hoạt động của dự án

Với sự hỗ trợ và cộng tác của các thành viên Ban điều hành dự án và RECOFTC, tờ rơi giới thiệu và quảng bá về các hoạt động của dự án cũng như những thông tin, khái niệm cơ bản liên quan BĐKH đã được thiết kế và đăng tải trên website VNGO&CC vào tháng

Trang 18

12/2009 Đã có 3.000 bản cứng đã được in và gửi đến các tổ chức thành viên của 2 mạng lưới và các đối tác thông qua các cuộc họp, hội thảo, các khoá đào tạo và hoạt động khác

và gửi trực tiếp đến các đối tác địa phương của dự án

Một danh sách các tài liệu thông tin, giáo dục và truyền thông (IEC)/tài liệu truyền thông thay đổi hành vi (BCC), tài liệu đào tạo đã được thu thập và đăng tải trên web của CCWG vào tháng 11 năm 2009 để các tổ chức có thể chia sẻ thông tin Những tài liệu này (cả bản cứng và mềm) bao gồm: thông tin chương trình, dự án về biến đổi khí hậu, các báo cáo, các tài liệu đào tạo (bao gồm cả danh sách giảng viên), các nghiên cứu, các chỉ số giám sát

và các ấn bản được chia sẻ rộng rãi trực tuyến giữa các thành viên và đối tác của CCWG nhằm giúp đỡ họ tìm hiểu các nguồn hỗ trợ và tránh các hoạt động chồng chéo nhau khi thiết kế các tài liệu IEC/BCC về biến đổi khí hậu

Cuối tháng 12/2010, TOR về hoạt động biên soạn Sổ tay hỏi đáp về BĐKH cho cộng đồng

đã được hoàn thiện và đang chờ góp ý của các thành viên PSC Các câu hỏi được thu thập

từ cộng đồng và các tổ chức thành viên của 2 mạng lưới Dự kiến các câu hỏi và lời giải đáp được hoàn thiện và sử dụng vào cuối quý 02/2011

Riêng hợp phần truyền thông của dự án có sự thay đổi Trong Hội thảo lập kế hoạch năm, các tổ chức thành viên đã đề xuất dự án bổ sung thêm hoạt động xây dựng 1 video clip về các hoạt động của dự án Do đó, được sự đồng ý của Đại sứ quán Phần Lan, dự án đã liên

hệ với 3 đơn vị cung cấp dịch vụ và lựa chọn Công ty TNHH MTV truyền thông và sản xuất nghe nhìn Tam Linh xây dựng một video clip về BĐKH Tính đến 12/2010, SRD và công ty đang hoàn thiện với mô hình đầu tiên tại Thanh Hoá và dự kiến hoàn thành và trình chiếu trong quý II/2011

Tuy nhiên, nhìn chung do tính chất của dự án có nhiều bên tham gia và điều hành nên các hoạt động thường được xây dựng kế hoạch với một biên độ thời gian dài (từ quý 2/2010 đến quý 3/2011) nên khó đánh giá việc triển khai theo tiến độ, do đó, kết quả và tác động

sẽ được chỉ rõ hơn trong đánh giá cuối kỳ

2.1.8 Hoạt động điều phối của dự án

Dự án VM020 được đề xuất bởi một nhóm các chuyên gia của 2 mạng lưới CCWG và VNGO&CC Để chỉ đạo các hoạt động, Ban điều hành Dự án đã được thành lập với các thành viên đến từ các 4 tổ chức phi chính phủ trong và 5 ngoài nước đang hoạt động tại Việt Nam Giai đoạn đầu triển khai, Ban điều hành hoạt động khá hiệu quả với sự tham gia rất tích cực của các thành viên Tuy nhiên, gần đây, sự tham gia của một số thành viên có phần hạn chế (các thành viên tham gia họp tích cực – theo Biên bản các cuộc họp tháng 5, tháng 11 năm 2010 và tháng 1 năm 2011 chủ yếu bao gồm đại diện đến từ SRD, CARE International tại Việt Nam, MCD, RECOFTC và Oxfam) Rất hiếm các cuộc họp điều phối với sự tham gia đầy đủ các thành viên ban điều hành Bên cạnh đó, thực tế là các hoạt động cần xin ý kiến hoặc phê duyệt của BĐH thường bị chậm do phải tập hợp nhiều ý kiến Thời gian gần đây, sự tham gia của một số thành viên BĐH dự án giảm dần so với trước đó với nguyên nhân được lý giải rằng năng lực của các cán bộ thực hiện dự án đã tăng dần Một

số thành viên đã rút lui khỏi BĐH do không còn phù hợp: CDA, CRS, và VVOB; TDI rất

ít tham dự vào các hoạt động dự án Đã xuất hiện ý kiến cho rằng cần đánh giá lại sự mức

độ cam kết tham gia của một số thành viên BĐH để có sự bổ sung, thay thế cho phù hợp (Hộp 1, Phụ lục 1) Một số thành viên PSC BĐH quan niệm, năng lực của cán bộ dự án đã được nâng cao, không cần sự hỗ trợ của PSC BĐH nữa nên đã giảm dần thời gian tham gia các hoạt động điều phối

Hợp phần 2 - Đào tạo về giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH:

Trang 19

Hợp phần này hướng tới mục tiêu: Nâng cao kiến thức và kỹ năng về giảm nhẹ và thích

ứng với biến đổi khí hậu cũng như năng lực lồng ghép biến đổi khí hậu và DRR vào các chương trình hiện có Các kết quả cụ thể cần hướng tới là: (1) 10 cán bộ chủ chốt của VNGOs được đào tạo về “Tập huấn cho tập huấn viên (ToT)” sẽ tham gia tích cực vào việc đào tạo về các chủ đề liên quan đến quá trình giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu; (2) Ít nhất 200 người từ 50 tổ chức và đối tác của VNGOs sẽ được đào tạo về các chủ đề liên quan đến giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu; (3) Tăng cường sự hiểu biết chính xác của các tham dự viên trong các khóa đào tạo về các vấn đề cơ bản liên quan tới giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu; (4) Bộ giáo án đào tạo, tài liệu hướng dẫn và các công cụ hỗ trợ liên quan đến giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được phát triển và luôn sẵn có để mọi người có thể truy cập

Kết quả đánh giá giữa kỳ cho thấy:

2.1.9 Thiết kế các hoạt động đào tạo cho các chủ đề đã chọn lọc bao gồm cả xây dựng

và phát triển giáo án và các tài liệu liên quan khác

Dự án đã tiến hành các hoạt động lựa chọn nhóm chuyên gia xây dựng tài liệu tập huấn và lựa chọn các tập huấn viên, lựa chọn chủ đề cho các khoá tập huấn theo đúng tiến độ đặt

ra Các tập huấn viên cam kết bằng văn bản tham gia đầy đủ các hoạt động của dự án (có xác nhận của lãnh đạo tổ chức) Tài liệu đào tạo tập huấn viên được biên soạn bởi nhóm các chuyên gia và các cán bộ được lựa chọn đào tạo thành tập huấn viên của dự án Nhóm biên soạn tài liệu đã làm việc cùng nhau, thu thập các thông tin liên quan đến chủ đề đã được định rõ trong kế hoạch công việc chi tiết, sau đó biên soạn những thông tin này và chuẩn bị tài liệu cho hoạt động đào tạo sau đó

Ngày 23/10/2009, Hội thảo góp ý về cấu trúc và những nội dung chính được tổ chức với sự tham gia của 40 người đến từ BĐH, các học viên tiềm năng, nhóm chuyên gia, nhà tài trợ, thành viên của 2 mạng lưới, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sau góp ý, dự án đã hoàn thành bản thảo và đã tổ chức Hội thảo lấy ý lần 2 cho nội dung của cuốn giáo trình Sau các hội thảo, Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH đã được hoàn thiện và được sử dụng trong 2 khoá đào tạo ToT về BĐKH và các khóa tập huấn mở rộng Đặc biệt, Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH được nhóm giảng viên và tập huấn viên của dự án cập nhật và hoàn thiện sau mỗi khoá tập huấn Cuốn tài liệu tập huấn là sản phẩm trí tuệ của các nhà khoa học, các thành viên cũng như cộng đồng người hưởng lợi Đặc biệt, một thành viên BĐH đại diện cho RECOFTC đã đóng góp biên soạn miễn phí một số nội dung trong tài liệu SRD cũng tham gia viết một bài trong cuốn sách này, tuy nhiên chỉ lấy 50% kinh phí (so với mức phí được trả cho các thành viên khác)

Đối với hoạt động in ấn giáo trình, đến cuối năm 2010, SRD đã ký hợp đồng với Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, đến thời điểm này, cuốn tài liệu đã được xuất bản, trang trọng, đẹp mắt

Với cách tổ chức xây dựng tài liệu rất bài bản của dự án, cuốn tài liệu đã trở thành cẩm nang quan trọng không những cho các tập huấn viên nguồn khi tiến hành các khoá tập huấn về BĐKH cho các cán bộ VNGO/CSO mà các học viên cũng có thể sử dụng để tập huấn cho các đối tác địa phương Kết quả điều tra cho thấy, có 24,5% người được hỏi đánh giá tài liệu tập huấn rất hữu ích, 61,2% người đánh giá hữu ích Tài liệu tập huấn của dự án được sử dụng để tham khảo triển khai các hoạt động của tổ chức hưởng lợi (48,3%); tập huấn cho người khác (27%), xây dựng một tài liệu tập huấn/tham khảo khác (23,6%) và

mở rộng kiến thức (Bảng 5, Phụ lục 1)

Nghiên cứu tài liệu tập huấn cho thấy nếu tài liệu được bổ sung thêm một số công cụ trực quan như các hình ảnh, film tài liệu, bài trình bày, các trường hợp điển hình,… dưới dạng

Trang 20

một đĩa CD hoặc VCD sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nữa Kết quả khảo sát cũng cho thấy còn 20 lượt ý kiến mong muốn được cải thiện những hạn chế trong đó có tới 55% ý kiến cho rằng tài liệu nếu được bổ sung một số công cụ trực quan (hình ảnh, CD, VCD, Case study) thì sẽ thuận tiện hơn rất nhiều trong sử dụng tập huấn

2.1.10 Đào tạo ToT cho các cán bộ của NGO

Sau khi tiến hành các hoạt động tuyển chọn các cán bộ NGO/CSO để đào tạo thành tập huấn viên ToT Dự án đã lựa chọn được 15 người để cùng tham gia với nhóm chuyên gia biên soạn tài liệu đào tạo tập huấn viên, và tham gia 03 khoá tập huấn về kiến thức, kỹ năng để trở thành các tập huấn viên (THV) của dự án

Khoá 1: về nội dung “Kỹ năng tập huấn và thúc đẩy hoạt động nhóm có sự tham gia” Số lượng học viên tham gia là 16 người (phụ nữ chiếm 54%), có 5 đại diện từ 3 miền Bắc – Trung - Nam Sau 3 ngày tập huấn, các học viên đã có khả năng thiết kế được các bài học

có sự hỗ trợ trực quan; xây dựng tiết học/hoạt động nhóm có sự tham gia; sử dụng được các công cụ thúc đẩy sự tham gia trong tập huấn (chuẩn bị bài trình bày, trình bày với sự

hỗ trợ trực quan, đặt câu hỏi, phản hồi ) Đặc biệt, các học viên đã được thực hành kỹ năng gắn với các nội dung trong quyển tài liệu “Đào tạo tập huấn viên về BĐKH” đã được

dự án biên soạn

Khoá 2 và 3: về nội dung, “Tổng quan và giảm nhẹ BĐKH” và “Thích ứng với BĐKH”

Có 20 học viên tham dự tập huấn Trong hai khóa tập huấn này các chuyên gia và các học viên cùng nhau trao đổi và chia sẻ các nội dung kiến thức trong tài liệu Đào tạo tập huấn viên về BĐKH” Bên cạnh đó, trong 2 khoá tập huấn, các học viên được thảo luận và chia

sẻ chiến lược, kinh nghiệm thực hiện dự án liên quan đến BĐKH từ các tổ chức như CARE, OXFAM, Save the Children, SRD, Viện Chiến lược & Chính sách khoa học công nghệ (NISTPASS) Ngay sau khoá đào tạo ToT thứ 3, với sự hỗ trợ của chuyên gia, các tập huấn viên của dự án đã tiến hành tập huấn các nội dung về BĐKH cho các cán bộ và đối tác cấp tỉnh huyện của Trung tâm hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) – một tổ chức phi chính phủ Việt Nam tại Yên Bái

Cho đến thời điểm này 100% các tập huấn viên nguồn đã tham gia làm tập huấn viên trong các khóa tập huấn, làm thúc đẩy viên trong các hội thảo do dự án tổ chức Ngoài ta họ cũng

là tập huấn viên trong các khóa tập huấn về BĐKH, là thúc đẩy viên, báo cáo viên trong các hội thảo, diễn đàn liên quan đến BĐKH, tham gia các nghiên cứu, đánh giá liên quan đến BĐKH của tổ chức mình và các tổ chức khác

Có thể nói, hoạt động đào tạo THV nguồn của dự án như một điểm sáng về thành công bước đầu của dự án Kết quả đã tạo ra một nhóm các THV nguồn hùng hậu với sự nhiệt huyết và sự hài lòng cao về kiến thức và kỹ năng mà các khoá tập huấn ToT mang lại Ngay từ việc lựa chọn đối tượng làm THV nguồn của dự án đã cho thấy tính bài bản của hoạt động này Dự án đã lựa chọn đối tượng THV nguồn theo nhiều tiêu chí khác nhau như đại diện vùng miền, độ tuổi, kinh nghiệm, giới, đảm bảo tính đa dạng và thuận lợi trong chia sẻ và bổ trợ khi tổ chức các khoá đào tạo tiếp theo.Dự án đã kết hợp đào tạo với hợp phần học hỏi - chia sẻ bằng cách tổ chức study tour với đối tượng tham gia chính

là các THV nguồn Nguyện vọng của các tập huấn viên nguồn là tiếp tục được đào tạo gắn với thực tiễn liên quan đến nội dung của khoá học nhiều hơn nữa Tuy nhiên, theo ý kiến đánh giá của các THV nguồn, một số giảng viên của khoá học còn nặng về lý thuyết, thiếu kiến thức thực tiễn, giảng khó hiểu cần được rút kinh nghiệm trong thời gian tới

2.1.11 Đào tạo tại nước ngoài cho các học viên ToT tiêu biểu

Theo thiết kế dự án, có 2 đợt đào tạo tại nước ngoài cho một số học viên ToT tiêu biểu, tuy nhiên, việc lựa chọn người tham dự gặp khó khăn trong việc cam kết sau đào tạo, do đó, tất

cả thành viên BĐH thảo luận và thống nhất ngoài việc cử những học viên ToT thực sự tiêu

Trang 21

biểu tham gia các hoạt động hội thảo, tập huấn ở nước ngoài sẽ mời các giảng viên nước ngoài tiến hành đào tạo tại Việt Nam

Tháng 11/2010, dự án đã cử 3 người đại diện đi tham dự hội thảo liên quan BĐKH tại Philippin và Thái Lan Hai đại diện sau khi tham dự hội thảo tại Philippin đã có một bài trình bày chia sẻ những kiến thức và thông tin có được từ hội thảo như những giải pháp nông nghiệp bền vững trong bối cảnh BĐKH, vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp và những thông tin khác tại cuộc họp của CCWG, tháng 12/2010

Ngày 17-19/1/2011, dự án đã mời TS Chito P Medina, Điều phối viên quốc gia của Mạng lưới MASIPAG Philippin tập huấn nội dung “Nông nghiệp và BĐKH” cho 32 tham dự viên là tập huấn viên tiềm năng và các học viên tiêu biểu trong các khóa tập huấn trước đó Tại khóa tập huấn này các học viên đã đươc chia sẻ kinh nghiệm của lưới MASIPAG về

“Các chiến lược và sáng kiến dựa vào cộng đồng về khả năng thích ứng ngày càng tăng của nông dân sản xuất nhỏ đối với các hệ thống sản xuất lúa dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu”

BĐH dự án đã thống nhất mời chuyên gia nước ngoài tập huấn cho các học viên tại Việt Nam đã giúp cho dự án một mặt vẫn đảm bảo chất lượng và hiệu quả của hoạt động tập huấn, một mặt tiết kiệm chi phí cho dự án Đặc biệt, BĐH dự án đã quyết định sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm được từ hoạt động này vào việc tăng thêm học viên cho tập huấn Đây là cách làm sáng tạo và mang lại hiệu quả

2.1.12 Đào tạo cho cán bộ và đối tác của NGOs

Với việc các cán bộ được lựa chọn đã dần nâng cao kiến thức, kỹ năng tập huấn về BĐKH sau khi tham dự 3 khoá tập huấn ToT cộng với cẩm nang bộ tài liệu tập huấn được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, các tập huấn viên nguồn này đã trở thành những tập huấn viên trong các khóa tập huấn cho các cán bộ của NGO/CSO và các đối tác của NGOs Trong các khoá này, các chuyên gia là người hỗ trợ và cố vấn cho các tập huấn viên nguồn Kết quả, tính đến hết tháng 12/2010, dự án và các THV nguồn của dự án đã tổ chức được:

07 khoá tập huấn về BĐKH cho các NGOs tại Hà Nội, 07 khoá cho các cán bộ và đối tác tại các tỉnh Các khoá học đều áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia, đặc biệt là phương pháp thảo luận nhóm Sau mỗi khoá tập huấn, các THV nguồn, nhóm cán bộ dự án

và chuyên gia soạn giáo trình thường họp lại và tự rút ra bài học kinh nghiệm và cùng chia

sẻ để thực hiện tốt hơn Theo đánh giá của chuyên gia, các THV nguồn có sự tiến bộ sau mỗi khoá tập huấn

Kết quả đánh giá của các học viên sau tất cả khóa học đã được tổ chức cho thấy, các học viên đều rất tâm đắc về sự nhiệt tình giảng dạy, các trò chơi sư phạm, kiến thức cơ bản về BĐKH của đội ngũ tập huấn viên nguồn Ví dụ, kết quả đánh giá các khoá học Tổng quan

về biến đổi khí hậu tổ chức tại Hà Nội cho cán bộ của NGOs/CSOs từ ngày 29-30/06/2010, cho thấy, có trên 60% học viên hoàn toàn hài lòng về phương pháp tập huấn của các THV nguồn và trên 85% học viên hài lòng về nội dung do các tập huấn viên nguồn chuẩn bị Kết quả này chứng tỏ, đội ngũ tập huấn viên nguồn đã được trang bị kiến thức và kỹ năng đào tạo tốt ngay từ khi bắt đầu tham gia dự án

Đặc biệt, các tập huấn viên nguồn của dự án nhận định, “khác với những khoá tập huấn khác, khi tham gia làm tập huấn viên trong dự án này, các tập huấn viên nguồn luôn được

tổ chức theo nhóm (team work) nên có thể bổ trợ và chia sẻ học hỏi lẫn nhau”

Trong các khóa tập huấn được tổ chức, các tham dự viên luôn nhận được chia sẻ kinh nghiệm thực tế từ các dự án, mô hình, hoạt động thực tế ứng phó với BĐKH do các tổ chức NGO/CSO đang triển khai ở cộng đồng, các hoạt động ứng phó với BĐKH của các địa phương Đối với các mô hình, dự án không chỉ chia sẻ mô hình của SRD mà còn mời nhiều đại biểu đến từ các dự án, tổ chức khác chia sẻ trong các khoá tập huấn, đảm bảo tính đa dạng và sự tham gia của nhiều tổ chức Tuy nhiên, các tập huấn viên nguồn mong muốn dự

Trang 22

án thông báo thời gian tập huấn sớm hơn để họ có thời gian chuẩn bị bài giảng và sắp xếp công việc

Hợp phần 3 - Chia sẻ và Học hỏi

Hợp phần này hướng tới mục tiêu: Tăng cường chia sẻ và học hỏi các kinh nghiệm thực

tiễn và các mô hình điển hình về quá trình giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu Các kết quả cụ thể cần hướng tới là: (1) Các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ trực tiếp làm về biến đổi khí hậu phải nhận biết và áp dụng các kinh nghiệm thực tiễn, các mô hình hoạt động hiệu quả về quá trình giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu ; (2) Ít nhất có khoảng 10 tổ chức NGOs chia sẻ kinh nghiệm và các bài học học được từ các mô hình giảm nhẹ và thích ứng với các thành viên tham gia chương trình, các nhà hoạch định chính sách để nâng cao kiến thức và các kinh nghiệm thực tiễn quý báu ; (3) Ít nhất có một sự kiện tham quan chia sẻ và học hỏi trong nước về các vấn đề biến đổi khí hậu được thực hiện trong quá trình triển khai dự án ; (4) Ít nhất có 02 cuộc thăm quan lẫn nhau ở cấp địa phương được tổ chức ; (5) Ít nhất có một quyển sách nhỏ tổng hợp tất cả các trường hợp điển hình, các kinh nghiệm thực tiễn về giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu được xuất bản và phổ biến rộng rãi

Kết quả đánh giá giữa kỳ cho thấy:

2.1.13 Tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm liên quan BĐKH

Theo đúng tiến độ, có 02 hội thảo chia sẻ kinh nghiệm đã được tổ chức tại Hà Nội vào năm 2010:

Ngày 26/3/2010 đã tổ chức hội thảo về “Tăng cường hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ trong ứng phó với BĐKH” tại Hà Nội Hội thảo đã thu hút sự tham gia của

70 đại biểu, đại diện các cơ quan Chính phủ, Bộ-Ngành, tổ chức liên quan như Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục & Đào tạo, đại diện các cơ quan chính phủ và NGO từ Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Giang và Thừa Thiên Huế; đại diện từ các tổ chức quốc tế: CARE, Oxfam, WWF, GEF, Action Aid, GRET and RECOFTC; các nhà nghiên cứu và khoa học trong lĩnh vực BĐKH; các cơ quan truyền thông: VTV2, Đài tiếng nói Việt Nam, Báo Đất việt, Tạp chí Khoa học và đời sống, Tạp chí môi trường, Media Tomorrow Tại hội thảo, đại diện các NGO và các cơ quan nhà nước chia sẻ kinh nghiệm về các hoạt động liên quan BĐKH

Với sự phối hợp của tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, 01 hội thảo về “Chia sẻ kinh nghiệm thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng” đã được tổ chức vào ngày 10 tháng 12 năm 2010 với sự tham gia của hơn 100 đại biểu đến từ 2 mạng lưới, các nhà tài trợ quan tâm đến BĐKH (AusAID, UNDP, DANIDA, EC, ĐSQ NaUy), các cơ quan truyền thông, đối tác địa phương Các đại biểu cùng nhau chia sẻ và trao đổi về các mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, kinh nghiệm lồng ghép thích ứng BĐKH vào kế hoạch PTKTXH, các nghiên cứu liên quan BĐKH

Dự án cũng đã linh hoạt thay đổi địa điểm tổ chức hội thảo tại Cần Thơ (theo kế hoạch của

dự án) với lý do tại đây ít các tổ chức NGO/CSO so với Tp Hồ Chí Minh Với mục đích thu hút được số lượng người tham gia đông đảo hơn và hạn chế chi phí và đi lại, dự án dự kiến chuyển sang tổ chức hội thảo tại TP Hồ Chí Minh

2.1.14 Nghiên cứu học hỏi các mô hình ứng phó với BĐKH

Ngày 15-17/9/2010, dự án đã tổ chức nghiên cứu học hỏi các mô hình ứng phó với BĐKH của dự án “Tương lai xanh” tại Thanh Hoá do Hợp tác xã phát triển nông thôn Quan Hóa triển khai cho 26 cán bộ từ các NGO, Viện, Trường đại học, cơ quan truyền thông Trong chuyến đi, người tham dự đã được tìm hiểu nghiên cứu về các mô hình giảm nhẹ BĐKH như: hoạt hóa than từ mùn cưa luồng, sản xuất phân hữu cơ từ mùn cưa luồng, sử dụng bếp

Trang 23

tiết kiệm củi, bảo vệ và phục tráng rừng luồng, Biogas để thắp sáng và đun nấu… Các mô hình đa dạng sinh kế để thích ứng với BĐKH như trồng nấm trên giá thể mùn cưa luồng, trồng rau hữu cơ với phân ủ từ mùn cưa luồng, nuôi gà dưới tán rừng luồng …

Kết quả đánh giá ngay sau chuyến tham quan có 64% người tham dự hoàn toàn hài lòng và 36% người hài lòng về các nội dung của chuyến tham quan và 90% tham dự viên cho rằng

họ đã nhận được câu trả lời cho những thắc mắc về các mô hình Đặc biệt, 100% người tham gia nhận định mô hình rất cần thiết và hữu ích đối với các tổ chức XHDS

Nhận định chung về những mặt làm được và tồn tại chính trong thực hiện các hợp phần của dự án

Về những mặt được trong thực hiện các hợp phần dự án

Cán bộ truyền thông của dự án đã có sự cố gắng nỗ lực lớn trong việc cùng một lúc đảm nhận 02 website, 01 bản tin điện tử/tháng, 01 tờ tin/quý với nội dung thông tin phong phú, hữu ích cho nhiều đối tượng quan tâm đến BĐKH

Dự án đã gửi được số lượng lớn các bản tin/tờ tin tới nhiều cá nhân và tổ chức hưởng lợi từ các NGO/CSO tại Hà Nội đến các đối tác địa phương và cộng đồng Đồng thời BĐH dự án

đã có những quan tâm đặc biệt trong việc truyền thông tới nhóm đối tượng nhận tin là đối tác địa phương, cộng đồng bị hạn chế trong truy cập Internet

Dự án đã có sự kết hợp với Bộ Tài nguyên môi trường và Ngân hàng thế giới (WB) để nhận và gửi thông tin BĐKH đến 2 cơ quan này nhằm tăng hiệu quả truyền thông của dự

án

Dự án đã có những thay đổi rất linh động đem lại kết quả và hiệu quả cao: Bổ sung hoạt động theo nhu cầu của người hưởng lợi, chọn nhà cung cấp dịch vụ, thay đổi địa điểm tổ chức hội thảo nhằm thu hút nhiều người tham gia và giảm chi phí

Hoạt động tập huấn ToT của và biên soạn Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH của dự

án được thiết kế bài bản, phù hợp nhu cầu của chính các THV nguồn và học viên, là điểm sáng về thành công của dự án, được người hưởng lợi biểu dương cao

Hầu hết các chỉ số về kết quả mong đợi của dự án đều vượt chỉ tiêu trong đánh giá giữa kỳ (số tổ chức nhận bản tin/tờ tin, số THV nguồn được đào tạo, số cán bộ VNGO/CSO và đối tác địa phương được tập huấn, )

Một số tồn tại chủ yếu

Chưa có sự cam kết rõ ràng trong việc gửi thông tin cho website và bản tin/tờ tin từ tổ chức thành viên nên gặp khó khăn khi huy động thông tin từ các tổ chức này Điều này lý giải tại sao website và bản tin chưa đăng tải được nhiều thông tin từ các tổ chức thành viên Chưa

có cam kết trong nhận bản tin và chuyển bản tin đến người khác của các đại diện tổ chức thành viên trong mailing list

Bên cạnh đó, BĐKH là vấn đề mới ở Việt Nam nên dự án gặp khó khăn trong tu thập thông tin, cơ sở dữ liệu về chuyên gia Thực tế dự án chỉ có một cán bộ truyền thông nhưng

có quá nhiều công việc phải đảm nhận về truyền thông nên hoạt động này còn một số hạn chế nhưng có thể cải thiện được trong thời gian tới

Dự án xây dựng kế hoạch một số hoạt động với biên độ thời gian dài và một số chỉ tiêu kết quả mang tính định tính nên gặp khó khăn trong theo dõi, kiểm tra, đánh giá

Ngay từ khi thiết kế đã xác định rõ chỉ có SRD chịu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện các hoạt động của dự án và có khả năng thanh quyết toán tài chính với nhà tài trợ nên khó thực hiện việc phân cấp, trao quyền cho các tổ chức thành viên BĐH hoặc là các tổ chức khác để tổ chức thực hiện một số hoạt động như tập huấn cho các đối tác dự án, nên chưa huy động được sự tham gia và nâng cao năng lực tổ chức thành viên trong việc tổ chức các hoạt động tập huấn, hội thảo, Điều này có thể được cải thiện cho pha tiếp theo của dự án

Trang 24

nếu cơ chế phân cấp, trao quyền được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, đặc biệt xây dựng cơ chế quản lý ưu tiên cho các tổ chức tham gia đấu thầu (với kinh phí kèm theo) thực hiện các hoạt động của Dự án

2.2 Xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các hoạt động của

dự án

2.2.1 Yếu tố khách quan, bên ngoài

Thứ nhất, tính thời điểm, thời sự của dự án Ý tưởng xây dựng Dự án được manh nha từ

những năm 2007-2008 và bắt đầu thực hiện từ năm 2009 Đây là giai đoạn vấn đề biến đổi khí hậu bắt đầu nhận được sự quan tâm của hầu hết mọi tầng lớp trong xã hội Đặc biệt, đối với Việt Nam được dự báo là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng, thì vấn đề này càng trở nên nóng bỏng Mặt khác, đây lại là chủ

đề mới, số người hiểu biết tường tận không nhiều nên khi khởi xướng ý tưởng thiết kế dự

án và trong suốt quá trình tổ chức thực hiện đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt ở các tổ chức NGO/ tổ chức xã hội dân sự

Thứ hai, Dự án hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cho các tổ chức thuộc mạng lưới

các tổ chức phi chính phủ Việt Nam & BĐKH (VNGO&CC) và nhóm làm việc về BĐKH (CCWG), do đó khi tham gia các hoạt động của dự án, các tổ chức và cá nhân đều có sự cam kết và gắn bó chặt chẽ, mặt khác trình độ của đối tượng hưởng lợi đồng đều, năng lực nhận thức cao hơn so với đối tượng hưởng lợi của các dự án phát triển khác tại cộng đồng Nói các khác do những người hưởng lợi chủ yếu là những người trong mạng lưới nên sự gắn kết cũng chặt chẽ hơn, hoạt động cũng dễ điều phối hơn, vì họ không chỉ tham gia các hoạt động của dự án mà còn tham gia các hoạt động chung của mạng lưới nữa

Thứ ba, Dự án nhận được sự quan tâm và sự hỗ trợ kịp thời của VUSTA – Cơ quan đại

diện, bảo vệ quyền và lợi ích cho các tổ chức phi chính phủ thành viên vì đây là vấn đề đúng với chức năng, nhiệm vụ và tổ chức này có đủ năng lực để kết nối và điều phối các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam để nghiên cứu và hành động Với vai trò phản biện chính sách, VUSTA kết nối với các cơ quan TW hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước Với vai trò đầu mối, VUSTA dễ dàng kết nối với các nhà tài trợ để kêu gọi tài trợ cho các dự án liên quan đến BĐKH

Thứ tư, Dự án được tài trợ bởi Đại sứ quán Phần Lan nhưng ủy quyền quản lý (tài chính,

hoạt động …) cho một Công ty tư vấn quản lý nên có điều kiện quản lý sâu sát dự án Cán

bộ Dự án cho biết, do được Công ty hướng dẫn, tập huấn các quy trình, thủ tục bài bản, chi tiết ngay từ đầu và làm việc chuyên nghiệp nên quá trình thực hiện Dự án được triển khai sát với kế hoạch, nhanh chóng và hiệu quả

Tuy nhiên, do BĐKH là lĩnh vực mới và phức tạp nên trong quá trình thực hiện Dự án cũng không tránh khỏi việc khó tìm được các chuyên gia phù hợp (đảm bảo cả kiến thức chuyên môn liên quan đến biến đổi khí hậu, phương pháp và phong cách làm việc phù hợp với NGOs) Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện tại dự án phải rút ngắn thời hạn hoạt động xuống (4 tháng so với kế hoạch ban đầu) còn tài chính và hoạt động vẫn giữ nguyên nên năng suất hoạt động cần cao hơn, triển khai nhanh và gấp rút hơn Mặt khác, do tôn chỉ của

Dự án để phục vụ chính cho các thành viên của cả 2 mạng lưới và đối tác của họ, với sự tham gia của rất nhiều bên có liên quan, đa dạng về đối tượng phục vụ và sự quan tâm của mỗi tổ chức nên vấn đề điều phối thực sự là thách thức không nhỏ đối với cơ quan đầu mối triển khai thực hiện dự án

Trang 25

2.2.2 Yếu tố chủ quan, bên trong

Thứ nhất: Dự án được thiết kế một cách bài bản – phù hợp Khi BĐKH nổi lên là vấn đề

mang tính thời sự và nhận được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý và người dân cũng như các tổ chức phát triển thì Nhóm làm việc về BĐKH (CCWG) đã khởi xướng và

tổ chức hội nghị đánh giá nhu cầu tăng cường năng lực thích ứng và giảm thiểu với BĐKH Hội nghị thu hút đông đảo các tác nhân tham gia, kết quả của hội nghị đã xác định được 7 nhu cầu thiết yếu liên quan đến việc tăng cường năng lực BĐKH Hội nghị cũng chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình triển khai cũng như các

dự định đề xuất các dự án về BĐKH Kết quả của Hội nghị này đã là cơ sở quan trọng để thiết kế và đề xuất dự án này do vậy đã có những thiết kế hoạt động can thiệp phù hợp, cơ bản đáp ứng sự quan tâm của các bên liên quan, các tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu Trong quá trình thực hiện dự án, hàng năm đều tổ chức hội nghị lập kế hoạch có sự tham gia để kiểm điểm, đánh giá lại hoạt động năm trước và xây dựng kế hoạch chi tiết cho năm tiếp theo

Thứ hai: Banđiều hành dự án (BĐH) bao gồm những người có kinh nghiệm, chuyên môn

và tâm huyết với vấn đề BĐKH đồng thời có kinh nghiệm làm việc cho các dự án phát triển ở các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động ở Việt Nam Thành phần tham gia trong BĐH cũng khá đa dạng, bao gồm cả các nhà chuyên môn về môi trường, các nhà quản lý các tổ chức phi chính phủ, không chỉ gồm những người Việt Nam mà còn cả người nước ngoài Kinh nghiệm và năng lực chuyên môn của các thành viên BĐH cũng là nhân tố bên trong quan trọng góp phần triển khai thực hiện dự án này một cách thuận lợi và bài bản Tuy nhiên, vấn đề rất đáng được bàn ở đây là mức độ tham gia của các thành viên BĐH vào dự án chưa thực sự đồng đều, do phần lớn họ đều là lãnh đạo của các tổ chức NGOs với rất nhiều công việc bận rộn và chỉ tham gia BĐH với vai trò kiêm nhiệm, không hề có bất cứ chế độ phụ cấp nào

Thứ ba: Vai trò quan trọng của cơ quan thường trực điều phối và triển khai thực hiện Dự

án SRD được giao là cơ quan điều phối chủ trì thực hiện Dự án này Kế thừa 28 năm kinh nghiệm thực hiện các dự án phát triển của CIDSE, SRD hiện là một trong những tổ chức phi chính phủ mạnh, có kinh nghiệm triển khai hàng loạt các dự án phát triển ở Việt Nam Với đội ngũ cán bộ có năng lực, cộng với uy tín đối với các tổ chức khác trong mạng lưới

và trong bối cảnh được phân cấp, trao quyền rõ ràng, SRD đã chủ động, sáng tạo triển khai thực hiện dự án– một dự án đòi hỏi kỹ năng điều phối và tổ chức thực hiện cao Mặc dù còn một số điểm cần rút kinh nghiệm, tuy nhiên, việc giao cho SRD là đầu mối tổ chức thực hiện dự án có thể xem là một nhân tố quan trọng, góp phần triển khai nhịp nhàng các hoạt động của Dự án

Thứ tư: Sự hăng hái, nhiệt tình của các thành viên tham gia dự án, đặc biệt là các tập huấn

viên nguồn cũng có thể xem là nhân tố quan trọng Kết quả phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với các tập huấn viên nguồn cũng như các cán bộ quản lý, triển khai Dự án cho thấy sự tham gia tích cực nhiệt tình của cán bộ tham gia quản lý triển khai là do ý thức được các động lực then chốt như sự thích thú học hỏi thêm chủ đề mới, có cơ hội giao lưu học hỏi với chuyên gia ở trong nước và nước ngoài,…Tuy vậy, họ cũng gặp một số khó khăn như lương chi trả cho các cán bộ chuyên trách quản lý, triển khai Dự án chỉ bằng 70% thu nhập thực tế của họ, vì vậy nên họ phải dành thời gian để thực hiện công việc khác Bên cạnh

đó, cũng có thể thấy các thành viên tham gia BĐH hầu như là sự tự nguyện, không hề có động lực vật chất

Tuy nhiên, vẫn còn các nhân tố tồn tại đối với dự án như sự tham gia của cán bộ không

được 100% thời gian, vấn đề rào cản của ngôn ngữ khi mà Tiếng Anh của một bộ phận cán

bộ chưa thực sự tốt trong khi đó BĐKH là vấn đề mới, phần lớn các tài liệu được viết bằng

Trang 26

Tiếng Anh và chưa cập nhật ngay sang tiếng Việt được Một vấn đề khác là sự tham gia của các thành viên gửi thông tin lên hai trang websites, cho bản tin còn hạn chế Điều này một phần cũng do Dự án chưa có cơ chế khuyến khích các thành viên gửi tin bài

2.3 Phân tích định tính cách tiếp cận của dự án về tính phù hợp (với nhu cầu), tính hiệu quả, và tính bền vững

2.3.1 Tính phù hợp (với nhu cầu)

Dự án thể hiện cách tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận dựa trên nhu cầu một cách hiệu quả đối với tất cả các hoạt động của dự án Do đó, các hoạt động của dự án không những đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực về BĐKH của các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam mà còn mang tính thời sự, cấp thiết

Thiết kế dự án: Dự án được thiết kế căn cứ vào kết quả hội thảo về đánh giá nhu cầu xây

dựng năng lực đã được tổ chức vào tháng 07/2008 với sự tham gia của trên 100 khách mời đến từ các INGOs, VNGOs và cơ quan chính phủ và các cá nhân, nhằm xác định rõ nhu cầu, những mặt hạn chế, các cơ hội và thách thức trong việc xây dựng năng lực cho các tổ chức NGOs nói riêng và các tổ chức xã hội dân sự nói chung cũng như đối tác của họ Hơn nữa, dự án phục vụ cho hai mạng lưới của NGOs nên ngay từ khi thiết kế đã huy động được sự tham gia của nhiều tổ chức Các tổ chức tham gia chịu trách nhiệm thiết kế các hợp phần khác nhau theo thế mạnh của từng tổ chức, tạo nên sự hỗ trợ bổ sung cho nhau và sát với nhu cầu, đảm bảo tính khả thi của dự án

Thực hiện dự án: Khi bắt đầu triển khai dự án, một hội thảo khởi động, giới thiệu dự án đã

được tổ chức Đặc biệt, trong hội thảo này, các tổ chức thành viên của 2 mạng lưới và các đối tác đã cùng tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của dự án Trong quá trình thực hiện kế hoạch có sự điều chỉnh hàng năm cho phù hợp thực tế (Hộp 2, Phụ lục 1)

Bên cạnh đó, trước mỗi hoạt động, dự án đều tổ chức khảo sát nhu cầu của người hưởng lợi Do đó, nhìn chung các hoạt động của dự án đều sát thực với nhu cầu của NGO/CSO

Ví dụ: (1) Hoạt động xây dựng tài liệu dựa vào chính nhu cầu của các cán bộ NGO/CSO được chọn đào tạo thành tập huấn viên của dự án, họ được tham gia xây dựng tài liệu cùng các chuyên gia; (2) Hoạt động xây dựng tờ tin, dự án đã chú trọng xây dựng tờ tin và in ấn gửi đến các đối tượng hạn chế trong việc truy cập Internet đảm bảo những đối tác địa phương có thể tiếp cận được dự án (Hộp 3, Phụ lục 1)

Tính phù hợp và hữu ích của các hoạt động của dự án

Hầu hết các hoạt động ở cả 3 hợp phần của dự án như website, bản tin, tài liệu tập huấn, tham quan mô hình, hội thảo, tập huấn đều có tính ứng dụng cao, phục vụ lợi ích cho nhiều công việc và nhiều đối tượng hưởng lợi khác nhau, từ cán bộ ở cộng đồng, thanh niên, sinh viên đến các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách

Đối với website của dự án, có tới 40% lượt ý kiến nhận định hữu ích đối với các chuyên gia làm việc về BĐKH, 30% cho rằng website hữu ích đối với các cán bộ của NGO liên quan BĐKH và từ 20 đến 26% lượt ý kiến cho rằng những thông tin từ website hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách, người thực thi chính sách và người hưởng lợi Đặc biệt, các tài liệu tập huấn của dự án và những thông tin trong bản tin/tờ tin của dự án được xây dựng rất phù hợp với nhu cầu của người hưởng lợi Có 43% người cho rằng họ đã tham khảo tài liệu tập huấn để triển khai các hoạt động của tổ chức mình, sử dụng cho tập huấn người khác (24%), xây dựng tài liệu tham khảo hoặc tài liệu tập huấn khác (21%) Ngoài

ra, thông tin từ bản tin được người hưởng lợi sử dụng để tham khảo viết đề xuất dự án về BĐKH, lập kế hoạch cho tổ chức, (Bảng 6, Phụ lục 1)

Trang 27

Đặc biệt, dự án đã thiết kế và thực hiện các khoá đào tạo ToT và sau các khoá đào tạo này,

dự án đã có một đội ngũ tập huấn viên nguồn có thể thực hiện các khóa đào tạo về BĐKH cho các cán bộ của NGO/CSO Hoạt động này một mặt nâng cao năng lực cho đội ngũ tập huấn viên nguồn, một mặt tạo ra tác động và hiệu quả theo cấp số nhân Dự án đã tiết kiệm được rất nhiều kinh phí thuê chuyên gia đào tạo nhưng vẫn đào tạo được trên 2.000 lượt người (số liệu Bảng 7) tại Hà Nội và các tỉnh

Về in ấn các tờ tin: Ban quản lý dự án cũng đã quyết định chỉ in tờ tin với số lượng vừa đủ

để gửi cho các tổ chức thành viên và đối tác địa phương khó khăn, không tiếp cận được Internet Đây là cách làm rất hiệu quả của dự án, một mặt tiết kiệm chi phí in ấn, một mặt gửi tới người đọc thông điệp hạn chế sử dụng các bản in để giảm tiêu thụ giấy, góp phần giảm nhẹ BĐKH

2.3.3 Tính bền vững

Tính bền vững của dự án được thể hiện qua các sản phẩm dự án đã và đang tạo ra:

Sự bền vững của đào tạo ToT:

Dự án đã xây dựng được một nhóm tập huấn viên (THV) nguồn có kỹ năng, tâm huyết, nhiệt tình với công việc Đây thực sự là một điểm sáng của dự án Sau khi được các chuyên gia có chuyên môn, có kinh nghiệm đào tạo thành tập huấn viên, họ tham gia rất nhiều vào các hoạt động của dự án như lập kế hoạch, thiết kế tài liệu, thúc đẩy viên trong các hội thảo, tập huấn cho các cán bộ của NGO/CSO, các đối tác địa phương và đối tác của bản thân tổ chức mà THV đang làm việc Do đó, ngay cả khi dự án kết thúc, đội ngũ THV vẫn

sẽ tiếp tục nhiệm vụ đào tạo của mình

Tuy nhiên, để có thể mở rộng hơn nữa tính hiệu quả và bền vững của đội ngũ THV, dự án nên tiếp tục có những hỗ trợ trong việc xây dựng mô tả sơ lược (Profile) của 15 THV và quảng bá để họ dần trở thành 1 nhóm các chuyên gia chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến BĐKH

Website của dự án (2 mạng lưới):

Trang website của mạng lưới CCWG hiện đang được cán bộ của tổ chức CARE tại Việt Nam quản l y và thuộc VUFO-NGO Resource Centre, website của VNGO&CC đang được cán bộ truyền thông của dự án quản trị Hai website này nếu tiếp tục được quản lý tốt sẽ là nền tảng đế tiếp tục duy trì ngay cả khi dự án kết thúc

Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH:

Đây là cuốn tài liệu được các chuyên gia cùng đội ngũ THV nguồn biên soạn, rút kinh nghiệm để hoàn thiện cho chính các THV nguồn sử dụng Tài liệu này sẽ được in ấn, phát hành rộng rãi (trên cả website) tới những người đang đảm nhận nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu Có thể nói đây là tài liệu tham khảo hữu ích và lâu dài về chủ đề BĐKH ở Việt Nam

Những bài học kinh nghiệm được tư liệu hoá:

BĐKH là một trong những ưu tiên của SRD và hiện đang là vấn đề thời sự, thu hút sự quan tâm của các thành viên 2 mạng lưới của NGO Sau khi dự án kết thúc, kỳ vọng những bài học kinh nghiệm sẽ được tư liệu hoá để áp dụng cho các dự án, hoặc là mô hình tốt để nhân

Trang 28

rộng, hoặc là nền tảng để xây dựng những mô hình vận dụng lồng ghép vấn đề BĐKH trong các chương trình, dự án phát triển tại địa phương, các mô hình thích ứng với BĐKH trong tương lai

Tuy nhiên, mặc dù cách thiết kế cũng như triển khai hoạt động của dự án dựa trên cơ sở

tiếp cận theo nhu cầu, tuy nhiên, sự tham của các tổ chức thành viên còn có phần hạn chế Điều này xuất phát từ nguyên nhân khách quan do đây là dự án nâng cao năng lực nên chủ yếu ưu tiên nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ của các tổ chức trong mạng lưới Bên cạnh đó, cơ chế quản lý của dự án quy định SRD là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm thanh toán tài chính với Đại sứ quán Phần Lan Mặc dù vậy, nếu có cơ chế phân cấp, trao quyền rõ ràng và hợp lý để các tổ chức thành viên chủ trì hoặc liên kết tổ chức một số hoạt động của dự án như tổ chức hội thảo, tập huấn, diễn đàn, sẽ giúp các tổ chức thành viên nâng cao năng lực tổ chức và thực hiện các chủ đề liên quan đến BĐKH Đây không chỉ là nhận định của các chuyên gia mà còn là nguyện vọng/đề xuất của các tổ chức thành viên trong pha tiếp theo của dự án

2.4 Đánh giá các tác động ban đầu/sớm của dự án

2.4.1 Bước đầu thay đổi nhận thức của các tổ chức xã hội dân sự về BĐKH

Dự án đã giúp các cá nhân và tổ chức tham gia mạng lưới bước đầu thay đổi nhận thức về BĐKH Ví dụ, trước đây, chưa có ý tưởng lồng ghép BĐKH vào các hoạt động của tổ chức mình thì nay họ đã bắt đầu suy nghĩ, hình thành ý tưởng và xây dựng kế hoạch hành động lồng ghép BĐKH vào các hoạt động của tổ chức mình (Hộp 4, Phụ lục 1)

2.4.2 Nâng cao năng lực cho các cán bộ của các NGOs/CSOs

Các tập huấn viên và những người tham gia các khoá tập huấn của dự án đều đánh giá cao

về tính hữu ích hoặc rất hài lòng với các kiến thức và kỹ năng được trang bị từ các khoá

tập huấn về BĐKH do dự án tổ chức Theo đánh giá của người hưởng lợi, dự án không những đã giúp họ được tiếp cận, có được các thông tin và kiến thức về BĐKH mà còn được trang bị những kỹ năng đào tạo, truyền thông, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến BĐKH (Hộp 5, Phụ lục 1)

2.4.3 Nâng cao năng lực cho các đối tác của NGOs/CSOs

Hoạt động đào tạo của dự án theo như các phân tích trên đây cho thấy tính tác động lan tỏa rộng lớn mang cấp số nhân của dự án Dự án đào tạo ToT, sau đó các học viên ToT đào tạo các cán bộ của NGOs/CSOs, các cán bộ này lại tiếp tục đào tạo đối tác địa phương Do đó, cùng một mục đích nâng cao năng lực nhưng dự án đã đạt được đồng thời cho 3 nhóm đối tượng hưởng lợi

Có 32% số THV nguồn và học viên điều tra cho rằng, sau tập huấn của dự án họ đã tập huấn cho 324 lượt người trong tổ chức của mình về BĐKH, 18% người đã tập huấn cho

523 lượt người là cán bộ của VNGO/CSO về BĐKH, 36% người điều tra đã tập huấn cho

1585 người là đối tác địa phương của dự án Những con số nêu trên nói lên tác động và sức lan toả mạnh của dự án Bên cạnh đó, sau tập huấn, các THV nguồn và học viên đã: (1) Vận dụng kiến thức để tham gia xây dựng, thực hiện các dự án liên quan BĐKH của tổ chức mình (58% người điều tra); (2) Lồng ghép BĐKH vào các dự án của tổ chức (68%); (3) Thực hiện các nghiên cứu (66%); (4) Viết bài trình bày hội thảo, bài giảng, viết báo (40%), (5) Viết đề xuất dự án liên quan BĐKH (4%) (Bảng 7, Phụ lục 1)

Đặc biệt, nếu theo hành trình của từng học viên ToT ta sẽ thấy tác động của dự án mang lại

là rất lớn (Hộp 6, Phụ lục 1)

Trang 29

2.4.4 Đưa các nội dung về BĐKH gần gũi công chúng hơn

Các số liệu thống kê về lượt người truy cập vào website của 2 mạng lưới cho thấy dự án đã

và đang thu hút một số lượng lớn các đối tượng người quan tâm tới BĐKH Dự án đã sử dụng rất nhiều công cụ và sản phẩm để thực hiện truyền thông về BĐKH như website, tờ rơi giới thiệu về dự án, bản tin, tờ tin, video clip, tài liệu tập huấn, sổ tay hỏi đáp các vấn

đề về BĐKH, Các sản phẩm này giúp người quan tâm có thể tiếp cận bằng nhiều hình thức khác nhau và sử dụng khá tiện lợi

2.4.5 Bước đầu giúp lồng ghép BĐKH trong các dự án phát triển của NGOs/CSOs

Sau khi tham dự các hoạt động của dự án, người tham dự đã có thêm nhiều ý tưởng để lồng ghép BĐKH vào trong các hoạt động dự án đang triển khai của họ như đưa các nội dung

về BĐKH vào các khoá tập huấn kỹ thuật, các hoạt động truyền thông, họp cộng đồng Một số tổ chức xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ chức để ứng phó và hỗ trợ cộng đồng ứng phó với BĐKH Kết quả điều tra bảng hỏi 55 người hưởng lợi, có tới 68% lượt ý kiến cho rằng, sau tập huấn của dự án, họ đã thực hiện lồng ghép BĐKH vào các dự án của tổ chức mình (Bảng 7)

2.4.6 Tư liệu dự án cung cấp là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức

Biến đổi khí hậu hiện vẫn đang là vấn đề mới tại Việt Nam, do đó những kiến thức về BĐKH chủ yếu ở dạng tiếng Anh Trong khi đó, không phải tất cả những người làm việc

về BĐKH có thể đọc hiểu được các tài liệu này Dự án đã xây dựng được các bộ tài liệu,

dữ liệu tiếng Việt, dễ hiểu cho người sử dụng Các cá nhân/tổ chức có thể vận dụng để xây dựng tài liệu tập huấn, tài liệu tham khảo, bài giảng, viết bài trình bày tại các hội thảo, viết

2.5.2 Đối với các hoạt động của dự án

2.5.2.1 Hợp phần truyền thông và điều phối

Nâng cấp và vận hành website

Bổ sung tóm tắt giới thiệu lĩnh vực chuyên môn và địa chỉ liên hệ của các chuyên gia (không sử dụng CV) và các file dữ liệu kèm theo và sắp xếp theo các nhóm để người truy cập dễ tìm tài liệu

Có forum cho các học viên và người quan tâm chia sẻ thông tin về BĐKH

Trang 30

Có thể xây dựng các video clip (ví dụ như mô hình của Thanh Hoá) ngắn khoảng từ 2 đến

5 phút và chia sẻ trên website và các phương tiện thông tin đại chúng như VTV, các đài phát thanh địa phương giúp hiệu quả truyền thông cao

Để đảm bảo tính bền vững của website sau khi dự án kết thúc, ngay từ lúc này, dự án nên chia thông tin của website thành các nhóm nội dung nhỏ (Nhóm đào tạo về BĐKH, Nhóm thích ứng - giảm thiểu BĐKH, Nhóm truyền thông ) và mỗi thành viên trong BĐH (hoặc

tổ chức của BĐH) sẽ phụ trách một nhóm theo thế mạnh của mình Dự án có thể yêu cầu đơn vị cung cấp website xây dựng các account và password cho từng nhóm sau đó tổ chức tập huấn cách biên tập và post thông tin lên website (thông tin, hình ảnh, file kèm) Để đảm bảo tính bí mật và tăng độ phân cấp, các nhóm chỉ biết account & password của nhóm mình và SRD là đơn vị điều phối chung, chịu trách nhiệm cao nhất về trang giao diện chính (chỉ có SRD có account về giao diện chính) Dự án có thể xây dựng và ký kết các cam kết về quản lý và vận hành website với các thành viên BĐH

2.5.2.2 Đối với hợp phần đào tạo nâng cao năng lực

Xây dựng tài liệu

Bổ sung thêm một số hình ảnh và video clip (một số hình ảnh và video clip cơ bản) hoặc xây dựng các đĩa CD, VCD tư liệu cơ bản về những hoạt động, ảnh hưởng của BĐKH kèm theo tài liệu tập huấn Đây là những công cụ cơ bản, dựa vào đó các TOT có thể sáng tạo thêm

Tổ chức hội thảo xin ý kiến góp ý thêm từ miền Bắc, Trung, Nam và cập nhật thông tin, đảm bảo THV nguồn ở mọi vùng miền có thể sử dụng được và thông tin mang tính vùng Cập nhật thêm thông tin hoặc bổ sung các đường link để người sử dụng có thể cập nhật thông tin và dữ liệu liên quan

Tổ chức tập huấn:

Tập huấn kết hợp trải nghiệm thực tiễn qua các mô hình cụ thể hoặc có thể hỗ trợ đưa đề xuất của các học viên đến với nhà tài trợ hoặc đào tạo gắn với mô hình ở hợp phần chia sẻ Tiếp tục duy trì đưa các tài liệu tập huấn trên 2 website

Dự án cần yêu cầu học viên tham gia tập huấn cam kết phản hồi sau tập huấn, hoặc viết báo cáo sau tập huấn học viên đã làm gì, đóng góp gì vào lĩnh vực BĐKH, ví dụ đào tạo thêm được bao nhiêu người, viết được bao nhiêu bài báo, đề xuất dự án, lồng ghép như thế nào, Đây sẽ là những tư liệu quan trọng và hữu ích giúp tư liệu hoá, đánh giá hiệu quả và

Trang 31

tính bền vững của dự án và là thông tin chia sẻ hữu ích và nhân rộng mô hình Hiện dự án

đã làm hoạt động này nhưng chỉ với đối tượng là các THV nguồn

Gửi thư mời, thông báo tới các THV nguồn một cách chính thống qua tổ chức thay vì gửi trực tiếp đến các THV nguồn để cơ quan biết và tạo điều kiện cho họ tham gia đầy đủ

2.5.2.3 Kinh nghiệm và đề xuất khác

Tư liệu hoá kết quả các hoạt động của dự án: Khi kết thúc dự án, cần xây dựng một bộ tài liệu về tất cả các hoạt động của dự án để tiếp tục thực hiện các hoạt động truyền thông sau khi dự án kết thúc

Trong giai đoạn tiếp theo của dự án (nếu có) nên xây dựng các hoạt động với tài trợ nhỏ để các tổ chức trong mạng lưới tiếp tục phát huy và vận dụng những nội dung đã được tập huấn

Xây dựng các đĩa CD/VDC về BĐKH hoặc các hoạt động của dự án và phân phát cho các đối tác địa phương và cộng đồng để truyền thông cho dự án hoặc phát thanh, truyền hình trên các phương tiện thông tin đại chúng

Giai đoạn tiếp theo khi Dự án đã kết thúc, cần tăng cường các hoạt động vận động chính sách về BĐKH như tổ chức các triển lãm, hội thảo vận động chính sách, nghiên cứu vận động chính sách, chiến dịch truyền thông Đặc biệt là việc VĐCS về việc lồng ghép BĐKH vào kế hoạch PTKT-XH của địa phương Đồng thời, xây dựng các mô hình thích ứng với BĐKH (ví dụ mô hình thích ứng với BĐKH theo vùng sinh thái của Việt Nam) Mở rộng đối tượng tập huấn về BĐKH xuống tới cấp cơ sở: cán bộ lãnh đạo các cấp địa phương, người dân

Xem thêm Bảng 8, Phụ lục 1 về đề xuất của người hưởng lợi đối với dự án

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1 Kết luận

Dự án “Xây dựng năng lực về Biến đổi Khí hậu (BĐKH) cho các tổ chức xã hội dân sự” với mục tiêu nhất quán là tăng cường năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự đối với các vấn đề về BĐKH Đánh giá giữa kỳ này được thực hiện theo kế hoạch, kết quả đánh giá cho thấy:

Dự án đã bám sát mục tiêu nhất quán là tăng cường năng lực cho các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam về BĐKH Với cách tiếp cận từ dưới lên, theo nhu cầu, quá trình lập kế hoạch hàng năm đã nhận được sự quan tâm tham gia của các bên liên quan do đó đảm bảo tính sát thực, khả thi của kế hoạch Trong quá trình thực hiện, BĐH và cơ quan chủ trì đã chủ động, sáng tạo và có những điều chỉnh kế hoạch linh hoạt, kịp thời Kết quả triển khai các hoạt động của dự án nhìn chung đúng tiến độ, kế hoạch (xem thêm Phụ lục 3

để có quan sát toàn cảnh về tiến độ triển khai các hoạt động của Dự án) Đặc biệt, hợp phần 2 về đào tạo, nâng cao năng lực được triển khai thực hiện với kết quả rất tốt Trên thực tế Dự án cũng đã dành rất nhiều nỗ lực hơn để thực hiện hoạt động này Mặc dù vậy, Báo cáo đánh giá cũng chỉ rõ một vài hoạt động trong hợp phần truyền thông và điều phối

có thể được thực hiện tốt hơn và chắc chắn kết thúc dự án sẽ có những kết quả, tác động tích cực nếu có những sự điều chỉnh, thay đổi kịp thời

Kết quả đánh giá cũng chỉ ra các nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các hoạt động của dự án Các nhóm nhân tố khách quan, bên ngoài được xác định bao gồm: Tính thời sự, thời điểm của Dự án, năng lực-trình đô và sự quan tâm của các thành viên trong mạng lưới VNGO&CC và CCWG, sự quan tâm&hỗ trợ kịp thời của VUSTA, và sự ủy nhiệm quản lý dự án của Sứ quán Phần Lan cho cơ quan quản lý chuyên

Trang 32

nghiệp Bên cạnh đó cũng có thể thấy một số thách thức khách quan bên ngoài nổi lên trong quá trình thực hiện dự án như vấn đề BĐKH là vấn đề mới, ít chuyên gia am hiểm tường tận, đây lại là dự án phục vụ cho hai mạng lưới rất rộng các tổ chức XHDS với sự quan tâm và cam kết khác nhau nên đòi hỏi kỹ năng lãnh đạo, điều phối rất cao Một yếu tố khách quan khác là dự án rút ngắn thời gian hoạt động xuống 4 tháng so với kế hoạch cũng

là một thách thức không nhỏ đối với Dự án

Nhóm các nhân tố chủ quan, bên trong bao gồm: Dự án được thiết kế một cách bài bản – phù hợp, đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong mạng lưới, năng lực và sự tâm huyết, nhiệt tình của các thành viên BĐH, các thành viên nhóm THV nguồn, cơ quan chủ trì thực hiện Dự án là SRD cũng là tổ chức phi chính phủ rất có năng lực và uy tín trong quá trình điều phối, triển khai thực hiện Sự hăng hái, nhiệt tình của các thành viên tham gia dự án, đặc biệt nhóm cán bộ chuyên trách triển khai dự án với sự nhiệt tình, sáng tạo, khả năng và kinh nghiệm điều hành/làm việc trong mạng lưới, kiến thức và kỹ năng quản lý dự án cũng là nhân tố quan trọng, có tính quyết định đến sự thành công bước đầu của Dự án Bên cạnh đó, cũng có thể thấy một số tồn tại chủ quan như trình độ ngôn ngữ của cán bộ, cam kết full-time thực hiện dự án của các cán bộ chuyên trách cũng như cơ chế chia sẻ thông tin, đóng góp lên websites của dự án

Các phân tích định tính cũng chỉ rõ cách tiếp cận của dự án về tính phù hợp (với nhu cầu), tính hiệu quả, và tính bền vững Về tổng thể, sau nửa thời gian thực hiện đã chứng minh tính phù hợp, hiệu quả và bền vững của Dự án ở các khía cạnh khác nhau Nhóm tư vấn kiến nghị tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận này trong quá trình triển khai các hoạt động còn lại của Dự án và có thể đối với những dự án tiếp theo

Đánh giá các tác động ban đầu/sớm của dự án, Nhóm tư vấn cho rằng Dự án về tổng thể đã

có những tác động bước đầu tích cực như đã: Bước đầu thay đổi nhận thức của các tổ chức

xã hội dân sự về BĐKH, góp phần nâng cao năng lực cho các cán bộ và đối tác của các NGOs/CSOs, bước đầu truyền thông về BĐKH và đưa BĐKH gần gũi công chúng, bước đầu giúp ích cho việc lồng ghép BĐKH trong các dự án phát triển của VNGOs/CSOs, các

tư liệu dự án cung cấp là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức

Trên cơ sở các phân tích ở trên, một số bài học kinh nghiệm đã được đề xuất để điều chỉnh các chỉ số cho phù hợp với tình hình thực tế và để triển khai dự án nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả tốt nhất trong năm cuối (năm 2011) của dự án Từ các bài học kinh nghiệm rút ra, Nhóm tư vấn mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị như sau:

3.2 Kiến nghị

1 Về tiến độ: Thời gian từ nay đến khi kết thúc Dự án còn rất ngắn (8 tháng) Cần bám sát

và quyết liệt thực hiện Kế hoạch đã được điều chỉnh để kết thúc các hoạt động của Dự án đúng hạn

2 Về lập kế hoạch: Xác định thời gian và người chịu trách nhiệm cụ thể cho từng hoạt

động, trong đó xác định rõ vai trò của các tổ chức hỗ trợ, biên độ thời gian phù hợp để thuận tiện cho việc theo dõi và đánh giá

3 Tiếp tục thực hiện các hoạt động của dự án:

* Hợp phần 1: Truyền thông và điều phối

+ Về website:

Nên tập trung vào website của VNGO & CC (tiếng Việt và tiếng Anh) Cần triển khai ngay việc cập nhật, bổ sung và hoàn thiện các mục nội dung Trong quá trình đánh giá, với sự phản hồi ban đầu của chuyên gia, ban quản lý dự án đã có những tác động kịp thời thay đổi một số nội dung của website nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện

Trang 33

Về nội dung: thường xuyên cập nhật các thông tin về: (1) Cơ hội đào tạo, tài trợ liên quan BDKH; (2) Có dữ liệu/học liệu mở về BĐKH; (3) Thông tin chia sẻ về hoạt động liên quan đến BĐKH của các tổ chức thành viên 2 mạng lưới và các đối tác địa phương

Các tổ chức trong mạng lưới cần xác định rõ và thấm nhuần quan điểm đây là website của mạng lưới chứ không phải là website của riêng dự án nên: (1) Việc cần làm

ngay là một lần nữa Dự án gửi thư thông báo tới các tổ chức thành viên và đối tác

địa phương về việc cung cấp thông tin chia sẻ cho website và bản tin, có biểu dương tổ chức tích cực (dự án đã thực hiện nhưng cần tiếp tục duy trì); (2) Về lâu dài cần có cơ chế phân cấp, trao quyền cho các tổ chức thành viên BĐH và những thành viên tiêu biểu khác về việc cam kết tự chịu trách nhiệm đưa thông tin chia sẻ lên website; SRD vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm chính

+ Tổ chức diễn đàn trực tuyến: Nên kéo dài thêm thời lượng của diễn đàn để giải đáp đầy

đủ các câu hỏi Nếu được, xem xét, điều chỉnh ngân sách để tổ chức thêm một vài diễn đàn trực tuyến.+ Ấn hành bản tin/tờ tin và gửi: (1) Về thông tin của bản tin: Cập nhật thông tin chia sẻ của các tổ chức thành viên và đối tác địa phương (tin tức hoạt động, kinh nghiệm làm việc về BĐKH, chương trình dự án và mô hình về BĐKH, ), các cơ hội tài trợ, đào tạo, các ấn phẩm về BĐKH, Cán bộ truyền thông của dự án nên tiếp tục tham khảo thêm Bản tin của VDIC (WB) với bản tiếng Việt và tiếng Anh và các Bản tin khác để làm phong phú thêm các nội dung của Bản tin, tờ tin; (2) Về gửi bản tin/tờ tin: Thay đổi cách gửi bản tin, không nên chỉ gửi tới các cá nhân đại diện mà nên gửi tới địa chỉ mail chính thống của các tổ chức thành viên và đối tác nhằm đảm bảo nhiều người quan tâm có thể tiếp cận được

+ Củng cố Ban điều hành dự án (BĐH): Dựa theo kết quả tham vấn một số thành viên của BĐH và ý kiến nhận định của chuyên gia nên tiếp tục củng cố, kiện toàn lại BĐH Dự án:

rà soát lại sự tham gia và cam kết của các thành viên BĐH dự án, thay thế các thành viên không hoạt động, và/hoặc bổ sung thành viên mới nếu cần thiết Cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên đến từ VNGOs và INGOs

* Hợp phần 2: Đào tạo về giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH

+ Đào tạo ToT là điểm nhấn về sự thành công của dự án nên: (1) Cần có sự cam kết chặt chẽ hơn nữa với các tổ chức của các THV nguồn; (2) Nên thay đổi cách gửi thư, thông báo khi cần huy động THV nguồn cho các khoá tập huấn: gửi thư thông báo tới lãnh đạo của tổ chức của THV nguồn để tạo điều kiện cho họ tham gia đầy đủ; (3) Tiếp tục duy trì những phản hồi, chia sẻ của các THV nguồn trên website, bản tin/tờ tin

* Hợp phần 3: Chia sẻ và học hỏi

- Lồng ghép các hoạt động truyền thông và vận động chính sách về BĐKH trong các hội thảo, hội nghị chia sẻ của dự án bằng cách tiếp tục đẩy mạnh đăng tải thông tin về các hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, Đài VOV, các đài và báo địa phương, Thành phần hội thảo, hội nghị nên

có đại diện của cơ quan lập pháp như Văn phòng quốc hội, Uỷ ban môi trường, Cơ quan hành pháp như Bộ nông nghiệp và PTNT, Bộ tài nguyên và Môi trường

- Tiếp tục đề nghị VUSTA hỗ trợ cùng mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự vận động chính sách từ lập pháp và thực thi chính sách để hiểu đúng vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH và giao cho các tổ chức này cùng tham gia hoạt động liên quan đến BĐKH

- Trong và sau các mô hình tham quan cần có hoạt động tư liệu hoá mô hình: xuất bản các đĩa CD, VCD về mô hình và gửi tới các đối tác địa phương, đăng tải trên website, bản tin,

Trang 34

4 Tài liệu hoá bài học kinh nghiệm về hoạt động của dự án

Sau khi dự án kết thúc nên tài liệu hoá những kết quả và bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện các hoạt động của dự án vì đây là dự án về mạng lưới, BĐKH, một lĩnh vực đang được quan tâm tại Việt Nam

Các tư liệu có thể bao gồm: (1) Tư liệu ảnh các hoạt động, kết quả của dự án; (2) Tư liệu

về các mô hình đã tham quan, mô hình khác về BĐKH bằng CD, VCD, (3) Tư liệu về bài giảng của các THV nguồn; (4) Tư liệu về bài giảng của các chuyên gia về BĐKH;

5 Điều chỉnh kinh phí cho các hoạt động mới phát sinh: Trên cơ sở điều chỉnh kế hoạch cho thích ứng với tiến độ mới, kiến nghị Đại Sứ quán Phần Lan cho phép sử dụng các nguồn kinh phí kết dư, kinh phí dự phòng bổ sung cho các hoạt động mới phát sinh đã kiến nghị ở trên như tổ chức thêm hội thảo/hội nghị, tài liệu hóa các kết quả hoạt động, các bài học kinh nghiệm,…

5 Những khuyến nghị về hoạt động sau khi dự án kết thúc

Trên cơ sở những những kết quả, tác động bước đầu của dự án và những khuyến nghị điều chỉnh phù hợp, nhóm chuyên gia cho rằng sự thành công của dự án là hoàn toàn có thể đạt được Từ đó, các chuyên gia khuyến nghị với Ban quản lý dự án khẩn trương nghiên cứu

và xây dựng một đề xuất dự án mới với quy mô, phạm vi rộng hơn và thời gian thực hiện

có thể từ năm 2012 đến 2015

Các khuyến nghị tập trung vào:

+ Đối tượng hưởng lợi không chỉ giới hạn trong các NGOs mà cần mở rộng thêm các tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức cộng đồng tại địa phương như các CBO, HTX, tổ hợp tác, các hội đoàn thể và các cấp chính quyền và người dân địa phương

+ Phạm vi: Không chỉ trong phạm vi nâng cao năng lực mà cần mở rộng thêm các hoạt động triển khai thực tế tại địa phương như các mô hình (nên chăng đề xuất mỗi vùng sinh thái thực hiện thí điểm 1 mô hình) đào tạo, truyền thông, xây dựng các mô hình giảm nhẹ

và thích ứng với BĐKH ở các vùng sinh thái khác nhau làm cơ sở cho tuyên truyền, đào tạo của dự án, )

+ Cơ chế thực hiện dự án: Với quy mô và phạm vi lớn hơn dự án có thể phân cấp, trao quyền trong xây dựng và triển khai các hoạt động của dự án Tuy nhiên, vấn đề phân cấp, trao quyền chỉ được thực hiện khi các đối tác nhận trao quyền có đủ năng lực Ví dụ: Dự án

có thể xây dựng các tài trợ nhỏ và tổ chức đấu thầu rộng rãi trong mạng lưới và chọn ra tổ chức thích hợp thực hiện trao quyền cho các đối tác tại đó thực hiện và làm chủ các mô hình thí điểm ở địa phương

+ Tăng cường vận động chính sách trong dự án mới với những hoạt động như hội thảo, hội nghị, toạ đàm Đặc biệt, dự án nên xây dựng các mô hình VĐCS từ cấp cơ sở để kiên trì quan điểm lồng ghép BĐKH trong các chương trình, dự án và kế hoạch PTKTXH ở các địa phương, các sở ban ngành

+ Mở rộng mạng lưới THV nguồn bằng cách tiếp tục mở thêm các lớp ToT với đối tượng mới và nâng cao đội ngũ THV cũ và thực hiện phân tầng THV thành THV nguồn, cấp 1, cấp 2, THV của các NGO và các đối tác địa phương

Trang 35

PHẦN IV: CÁC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Bảng số liệu &các Hộp của báo cáo

Bảng 1: Mức độ và mục đích truy cập website của người sử dụng

STT Mục đích truy cập website của người sử dụng Số lượt

truy cập Tỷ lệ (%)

I Mức độ thường xuyên trong truy cập website của dự án

1 Số người truy cập website của dự án thường xuyên 23 41,8

II Mục đích truy cập Website

2 Tìm hiểu các chương trình, dự án liên quan BĐKH 37 80,4

12 Theo dõi chất lượng, tiến độ thực hiện, duy trì website của

dự án

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Bảng 2: Những mong muốn/đề xuất của người sử dụng để website của dự án hữu ích hơn

STT Cần cải thiện để bản tin/tờ tin tốt hơn

Số ý kiến (người)

Tỷ lệ (%)

II Mong muốn/đề xuất

1 Thường xuyên cập nhật thông tin liên quan BĐKH 14 63,6

2 Phổ biến dữ liệu đầy đủ (hồ sơ chuyên gia, tài liệu về BĐKH) 7 18,9

3 Huy động và cập nhập thông tin từ các tổ chức hưởng lợi, NGO 5 13,5

Trang 36

5 Có thêm các video clip về các mô hình BĐKH cụ thể 2 5,4

6 Phổ biến để nhiều người biết đến website của dự án 2 5,4

8 Giới thiệu website trên nhiều mạng lưới khác nhau 1 2,7

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cán bộ và tổ chức hưởng lợi của dự án

Bảng 3: Mức độ và mục đích đọc bản tin/tờ tin của dự án

STT

Mục đích đọc bản tin của người sử dụng Số người truy

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Bảng 4: Những mong muốn của người hưởng lợi để cải thiện Bản tin/tờ tin của dự án

T

T Cần cải thiện để bản tin/tờ tin tốt hơn

Số ý kiến (người)

Tỷ lệ (%)

2 Có thông tin chia sẻ hoạt động của các tổ chức thành viên, tổ

chức khác và sáng kiến của địa phương

3 Thông tin kết quả những mô hình thất bại và thành công về

BĐKH

4 Liệt kê các chủ đề chính của bản tin trong thư gửi bản tin 1 6,3

Thêm mục tài liệu lưu trữ chính thống về tổ chức và quốc gia 1 6,3

Trang 37

liên quan BĐKH

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Đồ thị 1: Mức độ sử dụng tài liệu tập huấn Đồ thị 2: Đánh giá tài liệu tập huấn

Bảng 5: Mục đích sử dụng tài liệu của người hưởng lợi

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Bảng 6: Tính hữu ích của một số hoạt động/sản phẩm của dự án

Chỉ tiêu Số người

nhận định

Tỷ lệ (%)

người nhận định

Tỷ lệ (%)

Website cần thiết, hữu ích đối với: Thông tin bản tin/tờ tin được sử dụng

It thuong xuyen Thuong xuyen

Muc do su dung tai lieu tap huan

Missing Khong co cau tra loi Binh thuong Huu ich Rat huu ich

Danh gia tai lieu tap huan cua DA

Trang 38

địa dự án của tổ chức Các nhà hoạch định

Tài liệu tập huấn được sử dụng để: Hội thảo chia sẻ và mô hình của dự án

giúp ích cho việc:

Tham khảo triển khai

các hoạt động của tổ

chức

43 87,8 Có được kinh nghiệm

của tổ chức khác về BĐKH

20 95,2

Tập huấn người khác 24 49,0 Được chia sẻ kinh

nghiệm của tổ chức mình

13 61,9

Xây dựng một tài liệu

tham khảo hoặc tập

huấn khác

21 42,9 Được đưa nhu cầu,

nguyện vọng của cộng đồng tới cấp cao hơn

8 38,1

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Bảng 7: Những việc làm của các tập huấn viên nguồn (học viên ToT) và học viên của

dự án sau các khoá tập huấn

STT

Chỉ tiêu

Số học viên ToT, học viên thực hiện

Tỷ lệ (%)

Số lượng đã được tập huấn bởi các TOT và học viên (lượt người)

1 Tập huấn cho các cán bộ khác trong tổ

chức mình về BĐKH

4 Tham gia xây dựng, thực hiện các dự án

liên quan BĐKH của tổ chức mình

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Trang 39

Bảng 8: Một số đề xuất/mong muốn của người hưởng lợi đối với dự án

2 Pha II nên xây dựng tài trợ nhỏ các hoạt động để các

tổ chức thành viên thực hiện

3 Nên chuyển năng lực, nhận thức ở pha I thành hành

động hoặc sản phẩm ở pha II (xây dựng mô hình

BĐKH ở các vùng sinh thái, Tập huấn lồng ghép

BĐKH vào KH PTKT XH địa phương)

4 Mở rộng và tiếp tục tập huấn nâng cao năng lực TOT

và các cán bộ NGO/CSO và có các hoạt động trao đổi

Nguồn: Điều tra bảng hỏi các cá nhân và tổ chức hưởng lợi của dự án

Trang 40

CÁC HỘP

Hộp 1: Sự tham gia của thành viên BĐH ngày càng giảm

Hiện nay trong 9 tổ chức, VVOB xin rút, Andrew (CRD) rút, CDA không liên hệ được, Nhật (Oxfam) thay thế Việt, Phương (Care) được bổ sung thêm, TDI ít tham gia các hoạt động của dự án Như vậy, cần xem xét

và đưa thêm một số tổ chức khác quan tâm đến dự án (VD: CCRD, WARECOD, SNV, CtC) vào trong BĐH

Nguồn: Trích biên bản một cuộc họp gần đây của BĐH Dự án

Hộp 2: Dự án linh hoạt trong việc điều chỉnh kế hoạch theo đề xuất của thành viên

Trong thiết kế ban đầu của dự án, hợp phần truyền thông và điều phối không có hoạt động xây dựng video clip, phim tư liệu và chiến dịch truyền thông về BĐKH Tuy nhiên, sau hội thảo lập kế hoạch năm thứ nhất,

dự án đã bổ sung hoạt động xây dựng video clip theo đề xuất của các thành viên

Theo tổng hợp của nhóm chuyên gia

Hộp 3: Tôi là người may mắn vì được chọn làm tập huấn viên nguồn của dự án

Tôi là người may mắn vì được tham gia dự án từ hoạt động đầu tiên và được chọn làm tập huấn viên nguồn của dự án Tôi đã được tham gia vào 3 hội thảo xây dựng Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH cùng các chuyên gia Đây là cách tiếp cận rất hay của dự án các cán bộ được chọn đào tạo thành tập huấn viên là người tham gia xây dựng tài liệu và cũng chính là người sử dụng tài liệu đó nên rất phù hợp Đặc biệt, dự án

tổ chức hoàn thiện tài liệu tập huấn bằng cách sau mỗi khoá tập huấn, các tập huấn viên nguồn và chuyên gia cùng ngồi lại để thảo luận chỉnh sửa và hoàn thiện

Anh Dương Nhất Linh, HTX phát triển nông thôn Quan Hoá, TOT của dự án

Hộp 4: Công ty TNHH Hoá Nông trước và sau khi tiếp xúc với một hoạt động của dự án

Cô Phong là giám đốc của Công ty TNHH Hoá Nông (ACC), một tổ chức tư vấn chuyên nghiệp về BVTV, bao gồm: nghiên cứu, sản xuất các chế phẩm an toàn, quản lý chất lượng, thông tin Theo cô Phong, ACC trước khi tiếp xúc dự án: “Nghiên cứu và tư vấn là bán ý tưởng, là thuần tuý sinh kế và định hướng công việc theo nhu cầu của doanh nghiệp để thu lợi nhuận Đối tượng quan tâm của ACC là bản thân ACC và khách hàng doanh nghiệp” Sau khi tham gia khoá tập huấn về “Nông nghiệp và Biến đổi khí hậu” tại Hà Nội, cô Phong cho biết “ACC đã hiểu rõ hơn trách nhiệm xã hội của các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đối với vấn

đề BĐKH ACC bước đầu nhìn nhận hoạt động nghiên cứu và tư vấn của mình không chỉ thuần tuý sinh kế

mà còn nên mang ý nghĩa xã hội Từ đó, định hướng công việc của ACC là Tư vấn sản xuất chế phẩm thuốc BVTV an toàn, hạn chế sử dụng dung môi có nguồn gốc hoá thạch.” Đối tượng quan tâm của ACC hiện nay

là ACC, khách hàng doanh nghiệp, người nông dân và nhà quản lý.” Ánh mắt, thái độ và sự nhiệt tình trong câu chuyện của cô Phong cho thấy ý nghĩa dự án mang lại đối người lãnh đạo của một doanh nghiệp về vấn

đề BĐKH là không nhỏ Xin nhấn mạnh ở đây là một doanh nghiệp Và hơn thế nữa, tác động dự án còn thể

hiện đậm nét hơn trong lời kết của cô Phong: “Nhưng ACC chỉ là một doanh nghiệp nhỏ, ACC cần gia nhập mạng lưới cộng đồng các tổ chức dân sự để cùng chung tay làm điều cần thiết cho xã hội”

Để có được câu chuyện này, ngoài việc phỏng vấn trực tiếp cô, chúng tôi còn nhận được từ cô “Bản thu

hoạch sau tập huấn” mà cô đã tự tay viết ra ngay sau khi tham dự khoá tập huấn của Dự án

Theo Cô Phong, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn hoá nông

Địa chỉ: G4 Làng Khoa học, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Hộp 5: THV nguồn và học viên của dự rất hài lòng những kiến thức và kỹ năng có được từ tập huấn

1 Tôi được tham gia khoá tập huấn tổng quan về BĐKH tại Hà Nội, tôi rất hài lòng và ngay sau đó tôi gửi đơn xin tham gia nhiều hoạt động của dự án Hiện nay, tôi đang học thạc sỹ có liên quan về quản lý tài nguyên nên muốn tham gia các hội thảo, tập huấn về BĐKH để có thêm nhiều thông tin, hiểu biết về vấn đề này

Anh Hoàng Nguyễn Giáp, Viện Kinh tế sinh thái

2 Tôi đánh giá cao các khoá tập huấn của dự án Khi tham gia khoá tập huấn về kỹ năng của dự án, chúng tôi

đã được hướng dẫn đọc những gì Sau đó, những tư liệu và kiến thức có được tôi đã viết được 2 bài báo đăng trên Tạp chí Thủy Sản

Anh Tưởng Phi Lai, TT Nghiên cứu Tài nguyên và PTNT

3 Dự án hoàn toàn đáp ứng kỳ vọng của bản thân tôi Tôi được tham gia 3 hội thảo và tập huấn của dự án và nhận thấy mình được nâng cao năng lực cả về kiến thức và kỹ năng Tôi nghĩ, tổ chức được hình thành từ những cá nhân, khi các cá nhân được nâng cao năng lực cũng có nghĩa là tổ chức được nâng cao năng lực Khi tham gia dự án, tôi được nâng cao kỹ năng đào tạo Không chỉ đào tạo về BĐKH mà những kỹ năng đào

Ngày đăng: 15/03/2013, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 1: Bảng số liệu &các Hộp của báo cáo - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
1 Bảng số liệu &các Hộp của báo cáo (Trang 35)
Bảng 1: Mức độ và mục đích truy cập website của người sử dụng - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 1 Mức độ và mục đích truy cập website của người sử dụng (Trang 35)
Bảng 4: Những mong  muốn của người hưởng lợi để cải thiện Bản tin/tờ tin của dự án - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 4 Những mong muốn của người hưởng lợi để cải thiện Bản tin/tờ tin của dự án (Trang 36)
Bảng 3: Mức độ và mục đích đọc bản tin/tờ tin của dự án - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 3 Mức độ và mục đích đọc bản tin/tờ tin của dự án (Trang 36)
Đồ thị 1: Mức độ sử dụng tài liệu tập huấn  Đồ thị 2: Đánh giá tài liệu tập huấn - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
th ị 1: Mức độ sử dụng tài liệu tập huấn Đồ thị 2: Đánh giá tài liệu tập huấn (Trang 37)
Bảng 5: Mục đích sử dụng tài liệu của người hưởng lợi - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 5 Mục đích sử dụng tài liệu của người hưởng lợi (Trang 37)
Bảng 7: Những việc làm của các tập huấn viên nguồn (học viên ToT) và học viên của - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 7 Những việc làm của các tập huấn viên nguồn (học viên ToT) và học viên của (Trang 38)
Bảng 8: Một số đề xuất/mong muốn của người hưởng lợi đối với dự án - Dự án Xây dựng năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự
Bảng 8 Một số đề xuất/mong muốn của người hưởng lợi đối với dự án (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w