1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại trong xuất nhập khẩu của Chính phủ cho Doanh nghiệp ở Đà Nẵng - 7 ppsx

11 216 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 236,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác chưa được hỗ trợ một cách hiệu quả và thường rất khó khăn trong việc tiếp cận các loại hình dịch vụ này.. Số liệu thống kê tại thành ph

Trang 1

các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác chưa được hỗ trợ một cách hiệu quả

và thường rất khó khăn trong việc tiếp cận các loại hình dịch vụ này Rất nhiều doanh nghiệp tuy có như cầu rất lớn về dịch vụ nhưng không biết phải tìm ở đâu khiến cho doanh nghiệp mất đi rất nhiều cơ hội kinh doanh, làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Mặt khác cũng là do các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa ý thức được lợi ích và chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ này Số liệu thống kê tại thành phố

Đà Nẵng cho thấy rằng:

Những yếu tố bên trong ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị doanh nghiệp do nhu cầu phát triển của doanh nghiệp chiếm đến 77% số doanh nghiệp được điều tra, ý kiến chủ quan của doanh nghiệp 68%, yếu tố sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị doanh nghiệp để giải quyết hiệu quả vấn đề phát sinh và tăng khả năng ứng phó chỉ chiếm khoảng 45% số doanh nghiệp được điều tra, yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến quyết định sử dụng tư vấn là khả năng tài chính của doanh nghiệp chỉ chiếm 16%

Thêm vào đó, yếu tố bên ngoài như cạnh tranh doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị doanh nghiệp chiếm 57 % số doanh nghiệp được phỏng vấn, yếu tố sự phát triển của dịch vụ tư vấn ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp là 49% và 34 % doanh nghiệp được điều tra cho rằng yếu tố xu hướng sử dụng dịch vụ tư vấn của doanh nghiệp hiện nay đã ảnh hưởng đến quyết định của họ

Một số loại hình dịch vụ chính phủ cung cấp cho các doanh nghiệp là:

 Dịch vụ tư vấn, đào tạo:

Trong thời gian qua việc cung cấp loại hình dịch vụ này khá phong phú về số lượng nhưng nhìn chung chất lượng còn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Nhiều ý kiến tư vấn về thị trường, về sản phẩm còn mang tính lý thuyết chung

Trang 2

chung, chưa thiết thực phục vụ cho các yêu cầu tác ngiệp của doanh nghiệp Nhiều hội nghị hội thảo, khó đào tạo còn mang tính chồng chéo, thiếu nội dung thiết thực, lãng phí thời gian và tiền bạc của người tham dự

 Dịch vụ đoàn công tác, khảo sát thị trường:

Các cơ quan của chính phủ và các TSIs trong thời gian qua cũng đã tổ chức được nhiều đoàn doanh nhân đi khảo sát thị trường cả ở trong và ngoài nước, đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, đón tiếp nhiều đoàn doanh nhân nước ngoài vào khảo sát thị trường Việt nam để xúc tiến thiết lập quan hệ đối tác, bạn hàng giữa các bên Nhưng công tác này gặp nhiều khó khăn, hiệu quả và tác dụng chưa cao Thứ nhất là do khó khăn về kinh phí

đi khảo sát, thứ hai là do khâu tổ chức chưa tốt, việc chuẩn bị cho chuyến đi không được

kỹ càng, không xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và chương trình cụ thể của chuyến đi Thứ ba là do hạn chế về trình độ, nhất là trình độ ngoại ngữ, năng lực kỹ thuật chuyên môn,

 Dịch vụ hội chợ triển lãm:

Có thể nói trong thời gian qua các hội chợ triển lãm đã trở nên quen thuộc và giúp cho doanh nghiệp tham gia ký kết được nhiều hợp đồng XK, tìm kiếm thêm các đối tác bạn hàng, mở rộng thị trường XK Tuy nhiên cũng cần phải thừa nhận rằng việc cung cấp các dịch vụ hội chợ triển lãm của các cơ quan XTTM của chính phủ vẫn còn nhiều yếu kém

và bất cập Do mặt bằng cho các trung tâm hội chợ triễn lãm còn thiếu thốn, còn quá ít hội chợ triễn lãm đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế của một hội chợ triển lãm, mặt khác cũng

là do việc tổ chức và tham gia hội chợ triễn lãm nhiều khi còn thụ động thiếu sự chủ động chuẩn bị về mọi mặt: tài chính, nhân sự, sản phẩm, thiết kế gian hàng, tổ chức hội thảo, 4.2 Những tồn tại trong hoạt động XTXK và nguyên nhân của nó

Trang 3

Những tồn tại:

Chưa có một khuôn khổ pháp lý rõ ràng và chuẩn xác hỗ trợ XK cho các doanh nghiệp

Chưa tạo môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp

Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn thông tin cần thiết nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (theo thống kê số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 85% trong số DN xuất khẩu đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng)

Những hạn chế và bất cập về công tác tổ chức và dịch vụ cung cấp thông tin thương mại cho các doanh nghiệp Thông tin thường sai lệch giữa các báo cáo và số liệu thực tế

Các cơ quan nhà nước chưa xây dựng được một chiến lược hỗ trợ XK cho các doanh nghiệp Mặc dù nhà nước đã có nghị định 90/2001/NĐCP trợ giúp cho các doanh nghiệp, trong đó có quy định “Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường XK, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp liên kết hợp tác với nước ngoài, mở rộng thị trường hàng hoá, dịch vụ Thông qua các chương trình trợ giúp XTXK, trợ giúp một phần chi phí cho DN khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội chợ, triễn lãm giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu thị trường ở nước ngoài.” Các nghị định này quá chung chung, chưa quy định một mức cụ thể nào về việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp

Ở các thành phố lớn như Đà Nẵng cũng đã có những tiến bộ trong công tác quản lý

và hỗ trợ cho các doanh nghiệp như chế độ “một cửa liên thông”, giảm giá thuê đất, tăng thời gian sử dụng đất thuê, thực hiện chính sách trợ giúp xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước, Tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa giúp được gì nhiều cho các doanh

Trang 4

nghiệp do mức trợ cấp, hỗ trợ còn hạn chế và chưa có một khung pháp lý hợp lý trong lĩnh vực này

Chưa tạo được sự thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của chính phủ cho các doanh nghiệp Thời gian giải quyết các thủ tục còn khá lâu tuy đã có nhiều cải cách (Đà Nẵng trước năm 2004 việc cấp giấy phép xây dựng là 3 tháng, kể từ ngày 1/7 /2004 thời gian rút lại chỉ còn 15 ngày)

Việc hỗ trợ của nhà nước giúp nâng cao năng lực XTXK của bản thân các doanh nghiệp còn rất hạn chế Năng lực của các doanh nghiệp của thành phố còn rất yếu do thiếu cán bộ chuyên môn được đào tạo một cách bài bản Chính vì vậy mà họ cần sự hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ của chính phủ và các TSIs để tham gia XK

Nguyên nhân:

Thứ nhất là do hậu quả của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Cách nghĩ và cách làm của thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung chưa thể ngay một lúc mà từ bỏ được mà phải trải qua quá trình chuyển biến từ nhận thức tới hành động Những hậu quả của nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung biểu hiện ở những quy định bất bình đẳng của pháp luật đối với các thành phần kinh tế khác nhau tham gia sản xuất, XK, ở sự quan liêu và duy ý chí trong công tác xây dựng kế hoạch và chiến lược xuất khẩu Mặt khác nó còn biểu hiện ở

cơ chế xin cho vẫn còn tồn tại trong quan hệ giữa doanh nghiệp với chính phủ, ở sự thiếu năng động và sáng tạo, ỷ lại trông chờ vào nhà nước của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp

Thứ hai, nguồn nhân lực còn thiếu kinh nghiệm và kiến thức trong hoạt động XTXK trong cơ chế kinh tế thị trường Có thể nói XTTM nói chung và XTXK nói riêng còn khá mới mẻ đối với nước ta do trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chúng ta mới

áp dụng những quy tắc và nguyên lý của kinh tế thị trường trong hoạt động sản xuất kinh

Trang 5

doanh, thêm vào đó các chính sách này lại thường xuyên được thay đổi liên tục, do vậy việc tiếp cận với các chính sách này gặp nhiều khó khăn đối với các doanh nghiệp Có thể thấy rõ ràng rằng chúng ta chưa có kinh nghiệm trong hoạt động XTXK mà phải học hỏi kiến thức và áp dụng bài học kinh nghiệm thành công của các nước khác có các đặc điểm nền kinh tế tương đồng với nước ta nhất là Nhật Bản Sự non nớt về mặt kinh nghiệm và thiếu kiến thức, kỹ năng chuyên môn thực hành XTXK hiện hữu hầu như tất cả các mắt xích của mạng lưới XTXK ở nước ta

Thứ ba, cơ sở kinh tế nước ta còn kém phát triển, xuất phát từ điểm thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tỷ trong nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn trong cơ cấu GDP của nước ta, tỷ trọng công nghiệp tuy trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến rõ rệt nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vẫn còn không đồng đều giữa các vùng

Trong năm 2007 VN đứng vị trí thứ 77, tụt ba bậc so với năm ngoái, trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Chỉ

số cạnh tranh toàn cầu được xây dựng dựa trên 9 chỉ số thành phần, gồm thể chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục và y tế phổ thông, giáo dục đại học, hiệu quả thị trường, độ sẵn sàng về kỹ thuật, mức độ hài lòng doanh nghiệp, và mức độ sáng tạo

Với VN, yếu tố thể chế được xếp thứ 74, cơ sở hạ tầng 83, kinh tế vĩ mô 53, y tế và giáo dục phổ thông 56, giáo dục đại học xếp thứ 90, hiệu quả thị trường 73, độ sẵn sàng

về công nghệ 85 Ở hai chỉ số còn lại, VN lần lượt xếp thứ 86 và 75 Trong khối ASEAN,

VN chỉ xếp trên Cambodia (xếp thứ 103) Singapore vẫn dẫn đầu về năng lực cạnh tranh trên toàn khối, tiếp theo lần lượt là Malaysia (26), Thái Lan (35), Indonesia (50), Philippines (71) WEF không xếp hạng Brunei, Lào và Myanmar

Trang 6

Đối với trong nước: 10 chỉ số thành phần được tiến hành điều tra của PCI năm

2007 bao gồm: Chi phí gia nhập thị trường; tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng

đất; tính minh bạch và tiếp cận thông tin; chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; chi phí không chính thức; ưu đãi đối với DNNN (môi trường cạnh tranh); tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; chính sách phát triển kinh tế tư nhân; đào tạo lao động; thiết chế pháp lý

10 tỉnh đứng đầu các chỉ số thành phần

Chi phí không chính thức

Chính sách phát triển kinh tế tư nhân

Thiết chế pháp lý

Hưng Yên, Tiền Giang

TPHCM

Bắc Kạn

9,49 7,71 8,56 8,18 7,71 8,29 9,20 8,73 8,34 6,57

Hình 2.5 Danh sách 10 tỉnh đứng đầu về các chỉ số thành phần

Thứ tư, công tác chỉ đạo điều hành hoạt động XTXK của nhà nước còn kém hiệu quả Từ khi thực hiện đổi mới nền kinh tế, Đảng và nhà nước đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn về phát triển kinh tế-xã hội, mở rông mối quan hệ đối ngoại, phát triển

XK Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng công tác tổ chức thực hiện đường lối, chính sách và pháp luật của nhà nước chưa nghiêm, kém hiệu lực, hiệu quả Sự lãnh đạo, chỉ đoạ, điều hành của nhà nước có phần thiếu nhanh nhạy, chưa thật sự chủ động chớp lấy

Trang 7

thời cơ, Chức năng quản lý, điều hành của nhà nước ở các cấp chưa được phân định rành mạch và phát huy đầy đủ Chưa có sự thống nhất trong nhân thức và thông suốt trong thực hiện hoạt động XTXK, làm cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và thể chế hoá về XTXK thiếu dứt khoát, chậm trễ Thêm vào đó công tác cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết cả về xây dựng và hoàn thiện thể chế, kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực và làm trong sạch đội ngũ các bộ tổ chức

Thứ năm, tác động khách quan của môi trường kinh doanh quốc tế Trong thời gian qua, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và thắng lợi lớn, tạo được nhiều thuận lợi cho XK nhưng cũng tạo ra không ít khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước như cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1998-1999, tình hình trượt dốc của nền kinh tế thế giới vào năm 2001-2002 và mới đây là những dự đoán về sự khủng hoảng về lương thực và tiền tệ trên thế giới trong giai đoạn 2007-2008

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu của chính phủ cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1 Những thay đổi, tác động của nó đối với hoạt động XTXK ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng

1.1 Những bối cảnh và thách thức mới đối với hoạt động XTXK

1.1.1 Tự do hoá thương mại theo WTO

Việt Nam đã gia nhập WTO và là thành viên AFTA điều này cho phép nước ta

có nhiều lựa chọn khi mở cửa thương mại quốc tế

Trên cơ sở tình hình thương mại Việt Nam và những điều kiện mới trong quá trình hội nhập mà chúng ta có thể lựa chọn hoặc kết hợp các mô hình, điều này ảnh hưởng rất

Trang 8

lớn đến các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cũng như ảnh hưởng rất lớn đến công tác hoạch định chính sách của từng địa phương trong cả nước vì mỗi mô hình đều có những điểm mạnh điểm yếu của nó tác đông trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp Do

đó cần phải nhận thức một cách đúng đắn để có thể chọn ra một giải pháp hữu hiệu nhất cho sự pháp triển của các doanh nghiệp nói chung và cho cả đất nước nói riêng Các mô hình:

1 Tiến hành tự do hoá đơn phương Để làm được điều này thì phải bãi bỏ hoàn toàn tất cả các loại thuế thương mại xuất nhập khẩu và trợ cấp Đây là điều mà Việt Nam có thể làm được mà không cần đàm phán với các nước Tuy nhiên lại gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với các doanh nghiệp của nước ngoài vì các doanh nghiệp của chúng ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực sản xuất còn thấp

2 Đi theo hướng hài hoà hoá thuế suất Trong đó tất cả các mức thuế của Việt Nam giảm đi hay tăng lên nhưng vẫn đảm bảo mức bình quân hiện tại (khoảng 11,9% cho các loại hàng nhập khẩu) Điều này có một lợi ích đáng kể khi giải toả được nỗi lo giảm nguồn thu ngân sách do cải cách thuế

Cách tiếp cận này được nhiều nhà kinh tế ưa chuộng vì nó loại bỏ được sư méo mó giữa hàng hoá nhập khẩu khác nhau về nguồn gốc và chủng loại Tuy nhiên nó có thể làm tăng một số loại thuế và giữ nguyên sự bất cập về giá đối với một số hàng hoá và dịch vụ

3 Đàm phán các hiệp định song phương với các đối tác Theo mô hình này thì những nước đang phát triển nếu đạt được thoả thuận với các nước phát triển lớn được coi là có lợi nhất

Trang 9

4 Tự do hoá khu vực Theo mô hình này, Việt Nam và các nước sẽ mở rộng khu vực mậu dịch tự do AFTA với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc

Khả năng này đã được các nước ASEAN thảo luận và bước đầu thực thi Nhưng hạn chế ở đây là Nhật Bản chưa là thành viên của bất kỳ nhóm thương mại ưu đãi nào Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh của rất nhiều nền kinh tế ASEAN mà lợi thế chung vẫn là lao động dồi dào và giá rẻ

5 Tự do hoá đa phương Chính sách đi theo mô hình này đề cập tới một thoả thuận chung của WTO trong thời gian tới Tuy nhiên, do các thành viên WTO không đạt được thỏa thuận nào trong vòng đàm phán ở Hồng Kông năm 2005 Vì vậy, đến nay vẫn chưa

có một điều khoản rõ ràng nào Giả định được đưa ra là giảm 50% thuế xuất nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước của tất cả các thành viên

6 Tự do hoá toàn cầu, hướng tới cắt giảm thuế 100% cho tất cả các nước và khu vực Qua nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng, hầu hết các kịch bản, không kể kịch bản hài hoà hoá, đều dẫn đến gia tăng xuất khẩu Tăng trưởng xuất khẩu có thể là một điều gây ngạc nhiên trong kịch bản thứ nhất vì chính sách ở đây sẽ không dẫn đến việc cải thiện thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi nhập khẩu dễ dàng thì xuất khẩu cũng sẽ được thúc đẩy để đảm bảo cán cân thương mại

Qua phân tích của các chuyên gia, mô hình tự do hoá thương mại toàn cầu sẽ tốt nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam Mô hình này sẽ làm tăng xuất khẩu khoảng 8,6 tỷ USD

và tối đa hoá được phúc lợi hàng năm

Tuy nhiên, việc đạt được tự do hoá thương mại toàn cầu nằm ngoài sự kiểm soát của bất cứ một quốc gia nào và khó có thể xảy ra trong tương lai gần Trong trường hợp này,

so sánh với các mô hình khác có thể thấy, khi chưa thực hiện tự do hoá đa phương, Việt

Trang 10

Nam có thể thực hiện tự do đơn phương nhưng điều này có nhiều hạn chế và gây ra bất lợi cho Việt Nam về trước mắt Do các doanh nghiệp khó có thể thích ứng nhanh với cách thực hiện này

Trong khi đó, nếu áp dụng mô hình hài hoà thuế suất sẽ tạo ra phúc lợi xã hội và sự chuyển dịch không đáng kể trong nền kinh tế Đồng thời giúp tăng thu khoảng trên 50% Trong trường hợp này thứ tự ưu tiên các mục tiêu của chính phủ sẽ là yếu tố quyết định sự lựa chọn

Tự do hoá song phương bao gồm tự do hoá với Liên minh châu Âu sẽ gặp phải một vấn đề rắc rối vì EU dường như chịu thiệt từ mô hình này và có thể sẽ không tham gia

Mô hình thực tế nhất là tự do hoá khu vực và tự do hoá đa phương, tự do hoá khu vực

sẽ mang lại lợi ích xuất khẩu nhưng tự do hoá đa phương cho lợi ích phúc lợi lớn hơn Và đây không phải là mô hình loại trừ lẫn nhau Cả hai hình thức tự do thương mại này đều

có thể cùng xảy ra

1.1.2 Xu hướng thị trường mới

Trong năm 2007, trong điều kiện bị cạnh tranh gay gắt, nhưng thị trường xuất khẩu

của Đà Nẵng đã mở rộng đến 95 quốc gia và vùng lãnh thổ Một mặt gia tăng thị phần XK tại các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan mặt khác đẩy mạnh XTXK vào các thị trường Đông Nam Á ( như Inđonexia, Myanma, Singapore), Tây Á-Trung Đông (Isarel, Syria), các thị trường EU mới(Czech, Romania, Bungary) Việc thúc đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường Tây Á và Nam Mỹ đang là xu hướng mới cho các doanh nghiệp xuất khẩu ở thành phố, do tính chất ổn định của các thị trường này về nhu cầu, hệ thống kiểm soát không chặt chẽ và giá cả tương đối phù hợp

Hình 3.1 Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường

Ngày đăng: 24/07/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.5 Danh sách 10 tỉnh đứng đầu về các chỉ số thành phần - Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại trong xuất nhập khẩu của Chính phủ cho Doanh nghiệp ở Đà Nẵng - 7 ppsx
Hình 2.5 Danh sách 10 tỉnh đứng đầu về các chỉ số thành phần (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w