Thông thường trong điều khoản này, người mở cho phép tổ chức nhận trước một số tiền trước khi giao hàng, hay còn gọi là thư tín dụng ứng trước.. L/C đó được chia thành 2 loại: + L/C điề
Trang 1khoản đặc biệt này Thông thường trong điều khoản này, người mở cho phép tổ chức nhận trước một số tiền trước khi giao hàng, hay còn gọi là thư tín dụng ứng trước Theo L/c điều khoản đỏ, thì trong tương lai khi xuất trình chứng từ giao hàng tới ngân hàng chiết khấu, số tiền đó sẽ được trừ vào số tiền của hoá đơn trừ đi số tiền đã ứng trước theo điều khoản đỏ L/C đó được chia thành 2 loại:
+ L/C điều khoản đỏ không đảm bảo: là khoản tiền được ứng trước không đảm bảo đối với ngân hàng mở, tức là khoản tiền được trả trước được thực hiện khi người xuất khẩu xuất trình một số hoá đơn với sự cam kết của họ
+ L/C điều khoản đỏ có đảm bảo: là bên cạnh các giấy tờ nêu trên, người
XK còn phải xuất trình thêm các chứng từ có giá trị khác như bảo lãnh của ngân hàng phục vụ cho người XK hay giấy nhập kho
- L/C điều khoản xanh: giống L/C điều khoản đỏ có đảm bảo.Ngày nay L/C này không tồn tại
Thư tín dụng dự phòng: Để đảm bảo quyền lợi của đơn vị nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu không giao hàng theo đúng hợp đồng Đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng trong đó yêu cầu rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện hợp đồng, ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu
Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được: là loại thư tín dụng mà theo đó, người hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng được uỷ quyền thanh toán, cam kết trả sau, chấp nhận hay chiết khấu hoặc trong trường hợp tín dụng thư tự
do chiết khấu, ngân hàng được uỷ quyền ghi rõ trong thư tín dụng là ngân hàng
Trang 2chuyển nhượng, chuyển nhượng cho một hay nhiều người hưởng khác được sử dụng toàn bộ hay một phần thư tín dụng
Tín dụng thư chia nhỏ: là loại L/C quy định việc thanh toán từng khoản tiền nhất định đã thoả thuận trong hợp đồng cho người xuất khẩu sau mỗi chuyến giao hàng từng phần
Tín dụng thư không thể chia nhỏ: Là loại L/C quy định rõ toàn bộ
số tiền phải trả cho người xuất khẩu sẽ được thanh toán sau khi kết thúc phần giao hàng cuối cùng, loại L/C này thường được dùng trong giao hàng theo từng
lô riêng biệt
1.2.4 Nội dung của một L/C:
Số hiệu của tín dụng thư: Tất cả L/C đều có số hiệu riêng của nó.Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C, để ghi vào chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C, để tham chiếu khi thực hiện một nghiệp vụ nào đó
Địa điểm mở L/C: là nơi mà ngân hàng mở tạo lập và chuyển giao L/C Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn luật áp dụng khi xảy
ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó
Ngày mở L/C: là nội dung quan trọng để xác định:
- Ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở với người xuất khẩu
- Ngày bắt đầu tính thời gian hiệu lực của L/C
Trang 3- Ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu và đó là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn đã quy định trong hợp đồng hay không
Loại L/C: là nội dung quan trọng của L/C, vì mỗi loại L/C có tính chất và nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C cũng khác nhau
Tên và địa chỉ của các bên liên quan đến L/C:
- Tên và địa chỉ của người yêu cầu mở L/C
- Tên và địa chỉ ngân hàng mở L/C
- Ngân hàng thông báo: thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng
mở ở nước người xuất khẩu
- Ngân hàng trả tiền: có thể ngân hàng mở và cũng có thể là ngân hàng khác do ngân hàng mở uỷ nhiệm Nếu địa điểm trả tiền quy định tại nước người xuất khẩu thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng thông báo
- Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở theo yêu cầu của nó Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường và tài chính quốc tế
- Tên và địa chỉ người hưởng lợi L/C: phải được ghi rõ, đầy đủ, đúng và địa chỉ điện tín Nếu không ghi rõ, ngân hàng thông báo sẽ chậm trễ trong việc gởi L/C cho người thụ hưởng
Phương thức mở L/C: NH mở dùng điện hay thư để chuyển L/C
Thời hạn hiệu lực của L/C: là thời hạn mà ngân hàng mở cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời
Trang 4hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C
Thời hạn hiệu lực của L/C được xác định như sau:
+ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C
+ Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng với ngày giao hàng
+ Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý
Số tiền L/C: là nội dung quan trọng Vì vậy việc quy định nó trong L/C cũng rất chặt chẽ Số tiền trong L/C phải ghi cả bằng số và bằng chữ phải thống nhất với nhau Tên đơn vị tiền tệ phải cụ thể, rõ ràng không nên ghi số tiền dưới dạng một
số tuyệt đối, vì như vậy sẽ khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán Cách tốt nhất là dựa vào số lượng mà ghi số tiền cho chính xác, nếu không ghi thì ghi dung sai cho phép
Thời hạn trả tiền của L/C: liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền sau Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu phát hành hối phiếu trong L/C Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền ngay, hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền
có kỳ hạn Song điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C
Chỉ rõ tiền lãi hay phí chiết khấu do bên nào chịu: Người nhập khẩu hay người xuất khẩu chịu nếu thanh toán bằng chấp nhận hối phiếu của người thụ hưởng
Trang 5 Thời hạn xuất trình chứng từ: Ngoài việc ngày hết hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ, L/C còn quy định bộ chứng từ phải được xuất trình trong một thời hạn nhất định, thường căn cứ vào ngày giao hàng Theo UCP 600, thời hạn xuất trình bộ chứng từ phải trong vòng 21 ngày kể từ ngày giao hàng nếu bộ chứng từ có vận đơn gốc
Thời hạn giao hàng: là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng hoá cho bên mua kể từ khi L/C có hiệu lực Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ đến thời hạn hiệu lực của tín dụng thư Chú ý: Nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời hạn giao hàng thì thời hạn hiệu lực của L/C tự độnh được kéo dài tương ứng
Điều khoản về hàng hoá: tên hàng, số lượng, quy cách phẩm chất hàng hoá, giá cả đơn vị, bao bì, ký mã hiệu, trọng lượng, xuất xứ
Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sỏ giao hàng, địa điểm gởi hàng, bốc hàng, dỡ hàng, địa điểm chuyển tải, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C
Cách giao hàng, cách thanh toán và cách vận tải: có nhiều cách khác nhau.L/C có thể quy định cụ thể sau đây:
+ giao hàng một lần + giao nhiều lần trong thời gian…
+ giao nhiều lần trong thời gian quy định, số lượng quy định, + giao nhiều lần nhưng quy định giới hạn trọng lượng của mỗi chuyến + giao nhiều lần, mỗi lần có số lượng như nhau
Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình cho ngân hàng trả tiền: là nội dung then chốt của một L/C, bởi bộ chứng từ thanh toán quy định trong L/C
Trang 6là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng nghĩa vụ của L/C, do vậy ngân hàng mở phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C
Quy định về bảo hiểm: đồng tiền, công ty bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm phải mua,…
Hợp đồng mua bán làm cơ sở để mở L/C, cần ghi rõ số hiệu, ngày ký hợp đồng và hai bên ký kết
Các điều kiện khác, chẳng hạn: có thể hoàn trả tiền bằng điện chẳng hạn, chi phí sửa đổi do ai chịu,
Sự cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng: là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở với L/C này
Chữ ký của ngân hàng mở
1.2.5 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu
1.2.5.1 Tiếp nhận đơn mở L/C
Điều kiện mở L/C:
Có tư cách pháp nhân, hoạt động theo pháp luật hiện hành của Việt nam
- Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với khách hàng giao dịch lần đầu)
- Có giấy chứng nhận mã số kinh doanh xuất nhập khẩu (đối với khách hàng giao dịch lần đầu)
- Có tài khoản tại ngân hàng
- Có hợp đồng ngoại thương làm cơ sở để mở thư tín dụng
Trang 7- Văn bản cho phép nhập khẩu của Bộ Thương mại hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành (đối với hàng nhập khẩu có điều kiện)
Trường hợp khách hàng được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng thì giá trị tín dụng thư không được vượt quá hạn mức tín dụng được cấp Nếu vượt quá hạn mức thì doanh nghiệp phải ký quỹ
Trong trường hợp khách hàng chưa hoặc không được cấp hạn mức tín dụng thì khách hàng phải ký quỹ hoặc cầm cố thế chấp tài sản cho khoản mở thư tín dụng và phải được Ban tổng Giám đốc duyệt chấp thuận
Hồ sơ đề nghị mở L/C nhập khẩu
- Giấy yêu cầu mở tín dụng thư (L/C) (theo mẫu)
- Bản sao có công chứng hợp đồng ngoại thương hoặc các tài liệu có giá trị tương đương hợp đồng (bản sao)
- Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp khách hàng giao dịch lần đầu)
- Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp xuất – nhập khẩu (trường hợp khách hàng giao dịch lần đầu)
- Văn bản cho phép nhập khẩu của Bộ Thương mại hoặc bộ quản lý chuyên ngành (đối với hàng nhập khẩu được quản lý bằng hạn ngạch hoặc hàng nhập khẩu có điều kiện)
- Giấy đề nghị ký quỹ 100% trị giá L/C theo mẫu đối với khách hàng không có hạn mức L/C (hoặc làm hợp đồng vay để thanh toán L/C)
Trang 8 Ký quỹ mở L/C: là hình thức lập ra tài khoản đặc biệt chỉ giành cho thanh
toán L/C đã mở, doanh nghiệp không được quyền sử dụng cho mục đích khác.Mục đích ký quỹ là đảm bảo an toàn thanh toán cho ngân hàng phát hành L/C
Loại 1: không cần ký quỹ: đối với những doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn, tài khoản tiền gửi luôn có số dư lớn, uy tín trong thanh toán
Loại 2 ký quỹ dưới 100%: là những doanh nghiệp có mối quan hệ với ngân hàng, có uy tín trong kinh doanh
Loại 3: ký quỹ 100% đối với những doanh nghiệp chưa tạo được uy tín đối với khách hàng
1.2.5.2.Mở L/C:
L/C trả ngay:
+ Giấy phép nhập khẩu + Quota
+Hợp đồng nhập khẩu + Đơn xin mở
L/C trả chậm:
+ Giấy phép nhập khẩu + Đơn xin mở L/C trả chậm + Đơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ
1.2.5.2 Nhận và kiểm tra bộ chứng từ:
Kiểm tra hối phiếu:
Kiểm tra hoá đơn
Trang 9 Kiểm tra vận đơn
Kiểm tra giấy chứng nhận xuất xứ
Kiểm tra phiếu đóng gói
Kiểm tra chứng từ bảo hiểm
1.2.5.4 Thanh toán L/C:
1.2.5.4.1 Đối với L/C trả ngay
- Ký chấp nhận bất hợp lệ bộ chứng từ (nếu có)
- Có đủ ngoại tệ trong tài khoản hoặc được Ngân hàng bán ngoại tệ thanh toán
- Nhận bộ chứng từ
1.2.5.4.2 Đối với L/C trả chậm
-Quý khách ký cam kết thanh toán hối phiếu khi đáo hạn
-Ký chấp nhận bất hợp lệ bộ chứng từ (nếu có)
-Nhận bộ chứng từ
+ Bộ chứng từ phải đầy đủ về số lượng và hợp lệ theo qui định
+ Giấy đề nghị mở L/C phải có nội dung rõ ràng, các điều kiện phải thống nhất, đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng (nếu có)
+ Mọi sửa chữa trên L/C phải có chữ ký xác nhận của chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản uỷ quyền
- Có đủ ngoại tệ trong tài khoản để thanh toán hoặc được Ngân hàng bán ngoại tệ thanh toán khi đến hạn và các chi phí liên quan
Trang 101.3.Khái quát về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng
Chất lượng của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ từ lâu đã là mối quan tâm của nhiều người Trong khi hàng hoá hiện hữu được các nhà Marketing kiểm soát và quản trị theo chiến lược Marketing chung thì chất lượng của dịch vụ là khó xác định và chưa
có chiến lược quản lý có hiệu quả Vấn đề nhận thức, kiểm tra và kiểm soát chất lượng trong dịch vụ là vấn đề lớn đặt ra đối với các nhà nghiên cứu Chất lượng thực tế và những yếu tố chi phối nó hiện nay chưa lượng hoá được Tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ đối với doanh nghiệp và khách hàng có sự khác nhau rất lớn Chất lượng dịch vụ chi phối mạnh tới việc tăng tỷ phần của thị trường, tăng khả năng thu hồi vốn đầu tư, tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất và cuối cùng là tăng lợi nhuận
Đó là những lợi ích có chiến lược lâu dài đối với một doanh nghiệp dịch vụ Chúng ta không thể sử dụng những phương pháp kiểm tra, kiểm soát và quản trị chất lượng của hàng hoá hiện hữu sang áp dụng cho dịch vụ bởi vì dịch vụ có những đặc tính riêng biệt nó chi phối quá trình hình thành và vận động của chất lượng
Nhận thức về chất lượng dịch vụ
Những nhận thức chung này đang vươn tới hoàn thiện khái niệm và những đặc tính riêng biệt gắn với chất lượng của dịch vụ Đối với sản phẩm hàng hoá hiện hữu cũng có những quan điểm nhận thức khác nhau về chất lượng Chất lượng là làm cho sản phẩm tốt ngay từ đầu tiên, không có khuyết tật nào Chất lượng như là sự thích ứng với nhu cầu Kiểm soát chất lượng bằng cách duy trì nghiêm ngặt công nghệ, đếm những sai sót bên trong và những sai sót bên ngoài khi hoàn thiện đơn vị sản phẩm Tuy nhiên những nhận thức về chất lượng nói trên của hàng hoá hiện hữu không đủ để hiểu về chất lượng dịch vụ song nó cũng giúp ta có những định hướng về chất lượng
Trang 11Những đặc điểm nổi bật của dịch vụ chi phối đến chất lượng, những đặc điểm đó được phân tích kỹ hơn ở phần dưới
Thứ nhất, dịch vụ có đặc tính không hiện hữu vì chúng là tập hợp các hoạt động chứ không phải các yếu tố vật chất hiện hữu do vậy rất khó quán xuyến đến chất lượng đồng bộ Hầu hết các dịch vụ không đếm được, không đo lường được, không dự trữ và kiểm nghiệm được Đặc biệt dịch vụ không thể kiểm tra trước khi bán để đảm bảo chất lượng Do tính không hiện hữu nên các doanh nghiệp cảm thấy khó khăn để hiểu khách hàng tiếp cận dịch vụ và đánh giá dịch vụ như thế nào
Thứ hai, cá dịch vụ đặc biệt là các dịch vụ với hàm lượng lao động lớn thường không đồng nhất Việc thực hiện dịch vụ có thay đổi với từng người cung cấp, từng khách hàng và từng thời điểm cụ thể Sự tương thích về hành vi của các nhân viên dịch
vụ rất khó đảm bảo Dịch vụ doanh nghiệp dự định cung cấp cho khách hàng có khác
so với dịch vụ thực tế mà khách hàng nhận được
Thứ ba, sản xuất và tiêu dùng dịch vụ là đồng thời, không chia tách, không được thiết kế và tạo ra tại nhà máy sau đó phân phối trọn vẹn cho khách hàng Trong các dịch vụ sử dụng nhiều lao động, chất lượng xuất hiện trong khi chuyển giao phân phối dịch vụ, khi tác động qua lại giữa nhân viên cung cấp dịch vụ và khách hàng Doanh nghiệp dịch vụ thực hiện kiểm soát với mức độ nhất định lên chất lượng dịch vụ đối với những dịch vụ có mật độ khách hàng tham gia lớn bởi vì khách hàng có ảnh hưởng tới quá trình dịch vụ Trong những tình huống cụ thể đó, đầu vào là khách hàng đã thể hiện nhu cầu đối với người cung cấp nên trở thành một yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ cung cấp