BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI CAO VĂN CHÍ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC HAI LOÀI RUỒI ĂN RỆP Dideopsis aegrota Fabricius và Syrphus ribesii L
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CAO VĂN CHÍ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
HAI LOÀI RUỒI ĂN RỆP Dideopsis aegrota Fabricius và Syrphus ribesii Linnaeus VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHÚNG
TRONG PHÒNG CHỐNG RỆP MUỘI HẠI CÂY ĂN QUẢ
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Người hướng dẫn: GS.TS NGUYỄN VĂN ĐĨNH
Phản biện 1: PGS TS Khuất Đăng Long
Viện sinh Thái và Tài nguyên Sinh vật
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Viện Bảo vệ thực vật
Luận án được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thư viện Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có múi
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ruồi ăn rệp (RAR) thuộc họ Syrphidae đã được nghiên cứu, ứng dụng để phòng trừ rệp muội hại trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nước trên thế giới (Van Veen, 2004) Họ Syrphidae là họ lớn nhất của bộ Hai cánh, chúng được sử dụng trong phòng trừ sinh học (Speight, 1986), (Sommaggio, 1999), (Castella và Speight, 2001) Loài ruồi ăn rệp thuôc họ Syrphidae chiếm 53,04% tổng số các loài ăn rệp trong quần thể rệp muội ở vùng Mosul, Irắc (Manhmoud, 1983) Tại vùng Himachal Pradesh, Ấn Độ côn trùng ăn thịt chủ yếu là ấu trùng của RAR, chúng có thể làm giảm
20% quần thể rệp muội (Krishan và Orn, 1990) Ấu trùng loài ruồi Episyrphus
balteatus (De Geer) ăn hơn 100 loài rệp muội trên thế giới (Sadeghi và Gilbert,
2000b), (Verheggen và Haubruge, 2010)
Ở Việt Nam trên ruộng cải bắp, thuốc lá ít phun thuốc trừ sâu, ấu trùng của RAR có khả năng hạn chế mật độ rệp muội từ 20,1 - 89,3% (Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa, 2005) Để góp phần giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu trên cây ăn quả (CAQ) có múi và phát huy đầy đủ hơn vai trò của RAR, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học hai loài ruồi ăn rệp Dideopsis
aegrota Fabricius và Syrphus ribesii Linnaeus và khả năng sử dụng chúng trong
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm hình thái, sinh học và một số
yếu tố tác động đến sự phát sinh, phát triển của 2 loài RAR (D aegrota và S ribesii) ăn rệp
muội hại CAQ có múi tại Chương Mỹ (Hà Nội), các kết quả này là những tư liệu khoa học mới để sử dụng trong công tác nghiên cứu và đào tạo
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã đề xuất sử dụng 2 loài RAR (D aegrota, S ribesii) trong phòng chống
rệp muội hại CAQ có múi một cách có hiệu quả, góp phần sản xuất CAQ có múi an toàn, bền vững cho vùng Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
3 Mục đích, yêu cầu của đề tài
3.1 Mục đích
Xác định thành phần RAR (Diptera: Syrphidae) ăn rệp muội hại CAQ có múi
Trang 4và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của 2 loài RAR phổ biến
trên đồng ruộng (D aegrota, S ribesii), từ đó xác định khả năng sử dụng chúng trong
việc khống chế số lượng rệp muội hại CAQ có múi ở Hà Nội và phụ cận
3.2 Yêu cầu
- Xác định được thành phần rệp muội và thiên địch của chúng trên CAQ có múi ở Hà Nội và phụ cận
- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của RAR cánh nâu
D aegrota và RAR vằn vàng S ribesii
- Đánh giá vai trò của RAR cánh nâu D aegrota, RAR vằn vàng S ribesii và
khả năng sử dụng chúng trong việc khống chế số lượng rệp muội hại CAQ có múi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Ruồi ăn rệp cánh nâu D aegrota, ruồi ăn rệp vằn vàng S ribesii và rệp muội
hại CAQ có múi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đặc điểm hình thái, sinh học và một số yếu tố ảnh hưởng đến RAR cánh nâu
D aegrota, RAR vằn vàng S ribesii
Khả năng sử dụng RAR trong khống chế số lượng rệp muội hại CAQ có múi
5 Những đóng góp mới của đề tài
Đã phát hiện 5 loài ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi ở Hà Nội và phụ cận,
trong đó có 2 loài lần đầu tiên ghi nhận ở vùng nghiên cứu là Dideopsis aegrota Fabricius và Melangyna sp., 2 loài RAR cánh nâu Dideopsis aegrota Fabricius và ruồi ăn rệp vằn vàng Syrphus ribesii Linnaeus là các loài phổ biến, có vai trò quan
trọng trong điều hòa số lượng rệp muội trên cây ăn quả có múi ở Hà Nội và phụ cận
Bổ sung những dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát sinh, phát triển của ruồi ăn rệp cánh nâu
Dideopsis aegrota Fabricius
6 Cấu trúc của luận án
Luận án chính 122 trang, gồm 5 phần: mở đầu (4 trang), chương 1 Tổng quan tài liệu (21 trang), chương 2 Phương pháp nghiên cứu (19 trang), chương 3 Kết quả
và thảo luận (76 trang), kết luận và kiến nghị (2 trang), tổng số 114 tài liệu tham khảo (gồm 43 tài liệu tiếng Việt Nam, 71 tài liệu tiếng Anh)
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong hệ sinh thái đồng ruộng, mối quan hệ giữa cây trồng, sâu hại và thiên địch luôn gắn kết chặt chẽ với nhau Việc nông dân sử dụng nhiều thuốc trừ sâu không những gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến nhiều loài thiên địch trong vườn CAQ có múi Điều tra xác định những loài thiên địch của dịch hại cây trồng đồng thời nhân nuôi thiên địch có triển vọng sử dụng trong biện pháp sinh học đã trở thành tâm điểm của biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Hà Quang Hùng, 1998) Nhiều loài thiên địch đã được nghiên cứu nhân nuôi trở thành sản phẩm thương mại như tác nhân sinh học có ý nghĩa áp dụng phòng
chống dịch hại có hiệu quả (Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2004) Ở Hà Lan loài ruồi ăn rệp
E balteatus đã được nhân nuôi để tiêu diệt rệp vừng và nhiều loài rệp muội hại cây
trồng (Koppert, 2013) Ở Việt Nam biện pháp sinh học trên CAQ có múi chưa được áp dụng một cách rộng rãi, đặc biệt vấn đề bảo vệ nhóm kẻ thù tự nhiên chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều
1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.Thành phần rệp muội và thiên địch của chúng
1.2.1.1.Thành phần rệp muội
Theo Emden (1972) cho biết trên thế giới có 3805 loài rệp muội được phân bố thành 10 họ phụ
1.2.1.2 Thiên địch của rệp muội
Về thành phần ruồi ăn rệp (RAR) của rệp muội đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trên thế giới đã phát hiện có khá nhiều RAR thuộc họ Syrphidae như theo Emden (1956) có 49 loài, ở Nhật Bản có 200 loài (Tokuichi Shiraki, 1968a, 1968b), tại cộng hòa Czechoslovakia có 63 loài (Kula, 1981), ở vùng núi cao Tiên Shan và Pamir của Liên Xô (cũ) có 101 loài (Pek, 1982), ở Ấn Độ có 129 loài (Thompson, 1981), ở các đỉnh núi cao của Thụy Sỹ có 121 loài (Dethier và Tiefenau, 1982), ở Italy có 39 loài (Burgio và Sommaggio, 2002), ở Thổ Nhĩ Kỳ có 105 loài (Saribiyik, 2003) và ở Ba Lan có 38 loài (Elzbieta, 2006)
Từ những kết quả công bố trên thế giới về thành phần loài RAR các tác giả ít
đề cập đến loài RAR vằn vàng S ribesii và RAR cánh nâu D aegrota, chỉ có loài RAR E balteatus là được các tác giả đề cập đến nhiều Ít có những tài liệu nói về
thành phần RAR muội hại trên CAQ có múi
Trang 61.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học, sinh thái học của ruồi ăn rệp
1.2.2.1 Đặc điểm hình thái của ruồi ăn rệp
Đặc điểm hình thái của RAR tập trung chủ yếu vào hệ thống gân cánh, dạng vân, màu sắc cơ thể và cấu trúc phần phụ sinh dục của ruồi trưởng thành, đây là các đặc điểm chủ yếu đang được sử dụng để định loại (Van Veen, 2004), (Stuart and Roger, 2013)
1.2.2.2 Sinh học cơ bản của ruồi ăn rệp
Ở Ấn Độ, thời gian sống của trưởng thành 6 loài RAR M confrater, Scaeva
pyrastri, Macrosyrphus sp., E balteatus, M corollae và I scutellaris là từ 4 - 24
ngày (Sharma và Bhalla, 1988)
Alfier và Calilung (1981) cho rằng ở Philippine một ruồi cái RAR I scutellaris
đẻ được từ 32 - 51 quả trứng
Trưởng thành cái RAR đẻ trứng ở tập đoàn rệp non có mật độ cao, không đẻ trứng
ở những cây đã bị rệp phá hại nặng và không bao giờ đẻ trứng trong quần thể rệp muội đã
bị ký sinh (Chandler, 1968), (Tenhunberg và Poehling, 1991), (Scholz và Poehling, 2000),
(Sadeghi và Gilbert, 2000a), (Pienda và Marcos, 2005), (Pienda et al., 2007)
Sadeghi và Gilbert (2000b), Sutheland et al (2001) cho rằng tỷ lệ đẻ trứng của RAR E balteatus và S ribesii là khác nhau trên các loài rệp muội khác nhau
Các kết quả công bố trên cho thấy trên thế giới chưa có nhiều công bố nghiên cứu về thời gian phát triển các pha phát dục của các loài RAR mà có nhiều công bố nghiên cứu về vị trí đẻ trứng và khả năng đẻ trứng của RAR
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của ruồi ăn rệp
Ruồi ăn rệp không chỉ có sự cạnh tranh về thức ăn với các loài thiên địch ăn rệp khác mà còn bị ong ký sinh tấn công, hầu hết các loài RAR đều bị ong ký sinh, đây chính là mặt hạn chế của RAR (Rotheray, 1984), (Rotheray and Gilbert, 2011)
1.2.4 Vai trò của ruồi ăn rệp và khẳ năng sử dụng chúng
Các loài RAR chiếm 53,04% các loài thiên địch trên đồng ruộng và làm giảm 20% quần thể rệp trong vòng 3 tuần khi không có sự tham gia của các loài bọ rùa ăn
thịt kích thước lớn (Manhmoud et al., 1983), (Krishan và Orn, 1990), (Agarwala và
Yasuda, 2000)
Đã có nhiều tác giả công bố về khả năng ăn rệp muội của ấu trùng RAR và đều cho rằng ấu trùng các loài RAR ăn rệp muội cao, trên 200 con rệp muội/ấu trùng (Sadeghi và Gilbert, 2000b), (Alfiler và Calilung, 1981), (Sharma và Bhalla, 1988), (Tenhumberg và Poehling, 1995), (Rao và Nagalingam,1997), (Dadan, 2001), (Dadan
et al., 2001)
Trang 7Một số lượng lớn ấu trùng của RAR đã được nhân nuôi để khống chế rệp muội
hại cây trồng như ở Kenya đã nhân nuôi loài RAR I aegyptium để khống chế rệp chè (Sudoi và Rotich, 1977), ở Hà Lan đã nhân nuôi loài RAR E balteatus để khống chế
rệp vừng (Kopper, 2013)
Từ những kết quả công bố về vai trò và khả năng sử dụng ấu trùng RAR của các tác giả trên thế giới cho thấy rõ RAR có vai trò đáng kể trong việc khống chế rệp muội ngoài đồng ruộng
1.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.3.1 Thành phần rệp muội và thiên địch của chúng
1.3.1.1 Thành phần rệp muội
Trên CAQ có múi đã thu thập được 6 loài rệp muội (Homoptera: Aphididae) là
A citricola, A craccivora, A gossypii, A nerri, T aurantii và M persicae (Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa, 2002)
1.3.1.2 Thiên địch của rệp muội
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có 19 loài RAR (Nguyễn Văn Huỳnh và Phan Văn Biết, 2005), ở Thọ Xuân, Thanh Hóa có 3 loài RAR (Lê Văn Ninh và Trần Thị Mai, 2010), ở Hà Nội và Vĩnh Phúc có 12 loài RAR (Quách Thị Ngọ và cs., 2007), ở Gia Lâm, Hà Nội có 7 loài RAR (Bùi Minh Hồng, 2009), ở Thanh Trì, Hà Nội có 5 loài RAR (Nguyễn Xuân Thành, 1998),
Các kết quả công bố về thành phần RAR trong nước cho thấy 2 loài RAR (S
ribesii và E balteatus) đã được tìm thấy trên nhiều loài cây trồng và ở nhiều vùng
khác nhau nhưng loài RAR cánh nâu D aegrotus mới chỉ tìm thấy ở vùng Đồng bằng
sông Cửu Long
1.3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học, sinh thái học của ruồi ăn rệp
1.3.2.1 Đặc điểm hình thái của ruồi ăn rệp
Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Hồng (2005), Hà Quang Hùng và Bùi Minh
Hồng (2008) đã mô tả đặc điểm hình thái một số loài RAR như S ribesii, Leucopis sp., S confrater, M zonata, P quadrifasciatus, E balteatus, I scutellaris,
I glaucius, D lata
1.3.2.2 Sinh học và sinh thái học của ruồi ăn rệp
Kết quả nuôi sinh học 4 loài RAR I scutellaris, S miranda, P crenulatus và
D aegrotus cho thấy chúng có vòng đời ngắn, khoảng 3 tuần (Bùi Hải Sơn và
Nguyễn Thị Diệp, 1990), (Quách Thị Ngọ, 2000b), (Nguyễn Văn Huỳnh và Phan Văn Biết, 2005), (Quách Thị Ngọ và Lê Thị Tuyết Nhung, 2009)
Các kết quả tương tự của Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Hồng (2005), Bùi
Trang 8Minh Hồng (2009) cho biết vòng đời loài ruồi E balteatus từ 19,61 - 21,22 ngày, loài ruồi S ribesii từ 15,19 - 15,90 ngày, loài ruồi Leucopis sp từ 14,35 - 14,97 ngày
RAR có sức đẻ trứng khá cao, loài I scutellaris có thể đẻ được 106,0 - 136,0 quả trứng (Quách Thị Ngọ và Lê Thị Tuyết Nhung, 2009), loài E balteatus đẻ trung
bình 39,5 ± 2,11 quả/trưởng thành (Lê Văn Ninh và Trần Thị Mai, 2010)
Các tài liệu công bố trong nước mới chỉ đề cập đến 2 loài RAR (S ribesii và
E balteatus) là chính, chỉ có 1 tài liệu đề cập về vòng đời của RAR cánh nâu
D aegrotus, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái học của
loài RAR cánh nâu D aegrotus
1.3.3 Vai trò của ruồi ăn rệp và khả năng sử dụng chúng
Khi đánh giá khả năng tiêu diệt con mồi của loài ruồi I scutellaris,
D aegrotus, S ribesii, Clythia sp., E balteatus và Leucopis sp với thức ăn là các
loài rệp muội khác nhau, các công bố đều cho rằng khả năng ăn rệp muội trong phòng thí nghiệm và khả năng khống chế rệp muội của ấu trùng các loài RAR ngoài đồng ruộng là khác nhau (Bùi Hải Sơn và Nguyễn Thị Diệp, 1990), (Nguyễn Văn Huỳnh
và Phan Văn Biết, 2005), (Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Hồng, 2005), (Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng, 2007b), (Bùi Minh Hồng, 2009), (Quách Thị Ngọ và Lê Thị Tuyết Nhung, 2009), (Lê Văn Ninh và Trần Thị Mai, 2010)
RAR có vai trò lớn trong hạn chế rệp muội, chúng có khả năng tiêu diệt 60,70% - 89,30% rệp muội trên cây và số lượng rệp bi tiêu diệt tỷ lệ thuận với mật độ
ấu trùng RAR có trên cây (Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa, 2005), (Quách Thị Ngọ và cs., 2007)
Việc đánh giá vai trò của RAR chủ yếu đề cập đến 2 loài RAR (S ribesii và
E balteatus) là chính, có 1 tài liệu đề cập khả năng ăn rệp muội T citricidus của ấu
trùng RAR cánh nâu D aegrotus, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá sâu về vai trò của RAR cánh nâu D aegrotus ngoài đồng ruộng
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học, sinh thái học của RAR cánh nâu
D aegrota, RAR vằn vàng S ribesii được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển Cây có múi, xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Điều tra thành phần rệp muội và thiên địch, đánh giá vai trò của RAR cánh
nâu D aegrota, RAR vằn vàng S ribesii và khả năng sử dụng chúng vv được
Trang 9tiến hành tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội), huyện Văn Giang (Hưng Yên), huyện Cao Phong (Hòa Bình)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 5 năm 2013
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
2.3.1 Vật liệu nghiên cứu
- Cây cam, chanh, quýt, bưởi
- Rệp muội xanh A spiraecola, rệp muội nâu đen T aurantii
- Loài RAR cánh nâu D aegrota và RAR vằn vàng S ribesii
- Thuốc bảo vệ thực vật: Polytrin 440EC, Supracide 40EC, Dầu khoáng Tron Plus 98.8EC
DC-2.3.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Lọ đựng mẫu, đĩa petri, lam kính, kính lúp cầm tay điều tra ngoài đồng, kính lúp soi nổi 2 mắt, kính lúp soi nổi kết nối máy tính, hộp nuôi sâu, lồng nuôi sâu, giấy lọc
2.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài có 03 nội dung nghiên cứu là:
- Nghiên cứu thành phần thiên địch của rệp muội hại CAQ có múi ở vùng Hà Nội và phụ cận
- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của RAR cánh nâu
D aegrota và RAR vằn vàng S ribesii
- Đánh giá vai trò của RAR cánh nâu D aegrota, RAR vằn vàng S ribesii và
khả năng sử dụng chúng trong phòng chống rệp muội hại CAQ có múi
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra, thu thập xác định thành phần thiên địch của rệp muội hại cây ăn quả có múi ở vùng Hà Nội và phụ cận
2.5.1.1 Phương pháp điều tra thành phần thiên địch và rệp muội
Phương pháp điều tra thu thập thành phần rệp muội và thiên địch trên CAQ có múi theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng 2010 (QCVN01-38: 2010/BNNPTNT)
- Điều tra tự do và liên tục theo giai đoạn sinh trưởng của cây (7 ngày/lần) Điều tra trên các vườn CAQ có múi ở giai đoạn thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB) và thời kỳ kinh doanh (KD) tại Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình) và Văn Giang (Hưng Yên)
2.5.1.2 Phương pháp nghiên cứu về mức độ hại của rệp muội xanh A spiraecola trên cây ăn quả có múi
Đánh giá mức độ hại của rệp muội xanh A spiraecola trên lá non CAQ có múi
theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010)
Trang 10- Điều tra theo điểm (1 tháng một lần) trên vườn trồng cây cam, chanh, quýt, bưởi ở giai đoạn thời kỳ KTCB và thời kỳ KD, tiến hành trong năm 2011 và 2012 tại Chương Mỹ (Hà Nội)
2.5.1.3 Phương pháp nghiên cứu vị trí số lượng của các ấu trùng ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
Điều tra phát hiện vị trí số lượng của các ấu trùng RAR trên cây cam, chanh, quýt, bưởi tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình) và Văn Giang (Hưng Yên) theo phương pháp điều tra cơ bản dịch hại Nông nghiệp và thiên địch của chúng (Viện Bảo vệ thực vật, 1997) Số điểm điều tra là 150 điểm/huyện, tiến hành trong năm 2010 đến 2012
2.5.1.4 Phương pháp phân loại côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh của chúng
Phương pháp phân loại rệp muội hại và côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh được thực hiện tại Viện Bảo vệ thực vật, so với Bộ mẫu chuẩn Quốc gia tại Viện Bảo
vệ thực vật và khóa định loại của Van Veen (2004) với sự giúp đỡ của GS.TS Phạm Văn Lầm và GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh Riêng các mẫu vật ruồi ăn rệp gửi đi Đại học Guelph (Canada) và được GS.TS Stephen A Marshall giám định
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của 2 loài ruồi ăn rệp (D aegrota, S ribesii)
2.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, kích thước các pha phát dục của 2 loài ruồi ăn rệp (D aegrota, S ribesii)
- Mẫu ruồi ăn rệp (RAR) và các pha phát dục của chúng được thu trên các vườn CAQ có múi tại Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình) và Văn Giang (Hưng Yên), mang về phòng thí nghiệm, sau đó tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, màu sắc, đo kích thước từng pha phát dục như sải cánh, chiều dài cơ thể, chiều rộng
cơ thể với n = 30 theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010)
2.5.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của 2 loài ruồi ăn rệp (D aegrota, S ribesii)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của 2 loài RAR (D aegrota,
S ribesii ) theo Emden (1972)
* Tập tính sống, thời gian phát triển của các pha phát dục
Thu thập ruồi trưởng thành trên các vườn CAQ có múi ngoài tự nhiên tại Chương Mỹ (Hà Nội) thả vào lồng nuôi sâu (100cm x 100cm x 100cm) với n =30, trong lồng nuôi sâu có sẵn 1 đĩa petri có lộc cam non có nhiều rệp muội xanh
A spiraecola (tuổi 2 và 3) đặt trên giấy lọc ẩm, 1 đĩa petri đựng mật ong 10% để cho
trưởng thành ăn thêm
Khi trưởng thành đẻ trứng, dùng bút lông tách từng quả trứng đặt trên lá cam
non có nhiều rệp muôi xanh A spiraecola, phía dưới để giấy lọc ẩm rồi đưa vào hộp
Trang 11nuôi sâu (25cm x 15cm x 15cm) với n = 30 Hàng ngày thay lá cam non có rệp xanh
A spiraecola, theo dõi ngày 2 lần để xác định thời điểm trứng nở
Tương tự, khi trứng nở ra ấu trùng tiến hành nuôi ấu trùng theo phương pháp nuôi
cá thể, cho từng ấu trùng non vào hộp nuôi sâu (n = 30) như phần theo dõi trứng nở Theo dõi ngày 2 lần xác định xác lột để biết thời gian của 1 tuổi ấu trùng hoặc sự hình nhộng và trưởng thành vũ hóa
Khi nhộng vũ hoá, chọn những cá thể vũ hoá cùng ngày để ghép đôi 1 cá thể cái với 1 cá thể đực, thả 2 cá thể này vào lồng nuôi sâu như đã mô tả để theo dõi số lượng trứng đẻ trong ngày, thời điểm trứng nở, tỷ lệ nở của trứng và các chỉ tiêu liên quan đến
sự phát triển của thế hệ sau Theo dõi tiến hành cho đến khi trưởng thành chết sinh lý
Thí nghiệm được tiến hành 2 đợt, đợt 1 nuôi từ ngày 1/4/2011 nhiệt độ trung bình là 25,920C và ẩm độ trung bình là 83,95%, đợt 2 nuôi từ ngày 1/5/2011, ở nhiệt độ trung bình là 26,850C và ẩm độ là 88,29% Thức ăn thêm cho trưởng thành RAR sau khi vũ hóa là mật ong 10% đựng trong đĩa petri
- Chỉ tiêu theo dõi: thời điểm trứng nở, ấu trùng các tuổi lột xác, ấu trùng vào nhộng và trưởng thành vũ hóa
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu sinh thái học của 2 loài ruồi ăn rệp (D aegrota,
S ribesii) và khẳ năng sử dụng chúng trong phòng chống rệp muội hại CAQ có múi
2.5.3.1 Nghiên cứu sinh thái học của 2 loài ruồi ăn rệp (D aegrota, S ribesii)
* Sự phân bố của ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
Quan sát về sự phân bố của ấu trùng RAR cánh nâu D aegrota trên cây cam,
chanh, quýt, bưởi tại Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình), Văn Giang (Hưng Yên) trong năm 2011 và 2012 theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010)
Số điểm điều tra là 100 điểm/huyện, tiến hành trong năm 2011 và 2012
* Diễn biến mật độ rệp muội và ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
Điều tra diễn biến mật độ rệp muội, mật độ trứng và mật độ ấu trùng RAR được tiến hành tại Chương Mỹ (Hà Nội) theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010)
+ Điều tra theo điểm (7 ngày một lần) trên vườn CAQ có múi ở giai đoạn thời
kỳ KTCB và thời kỳ KD trong năm 2011 và 2012 Mỗi vườn đánh dấu 10 điểm theo đường chéo góc, điểm điều tra cách bờ 1 hàng CAQ có múi, mỗi điểm điều tra 1 cây, mỗi cây điều tra 3 tầng (trên, giữa, dưới), 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc), mỗi cây
quan sát 12 lá non Đếm số lượng rệp muội xanh A spiraecola, quả trứng và ấu trùng của 2 loài RAR (D aegrota, S ribesii) trên mỗi lá non điều tra
+ Chỉ tiêu theo dõi: số lượng rệp muội xanh A spiraecola, số lượng quả trứng và
Trang 12số lượng ấu trùng của 2 loài RAR (D aegrota, S ribesii) trên mỗi lá non
* Các yếu tố ảnh hưởng đến mật độ ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
- Ảnh hưởng của yếu tố ký sinh đến mật độ ấu trùng RAR
Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố ký sinh đến RAR được tiến hành trong năm
2011 tại Chương Mỹ (Hà Nội) theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010)
+ Tiến hành thu mẫu ngẫu nhiên các cá thể ấu trùng, nhộng của RAR (n= 30) trên CAQ có múi mang về phòng thí nghiệm Chuyển chúng vào hộp nuôi sâu (25 cm
x 15 cm x 15 cm), trong hộp có sẵn 1 đĩa petri có lộc cam non có nhiều rệp muội (tuổi 2 và 3) đặt trên giấy lọc ẩm để nuôi ấu trùng cho đến khi ấu trùng vào nhộng, hàng ngày thay lá cam non có rệp muội một lần
+ Chỉ tiêu theo dõi: số nhộng hóa ra RAR, số nhộng xuất hiện ra ong
- Ảnh hưởng của yếu tố bảo vệ thực vật đến mật độ ấu trùng RAR
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến mật độ ấu trùng RAR dựa theo Tiêu chuẩn bảo vệ thực vật (BNN&PTNT, 2001)
* Thí nghiệm ngoài đồng ruộng
+ Thí nghiệm được tiến hành trên vườn cây cam tại Chương Mỹ (Hà Nội) với
4 công thức (Polytrin 440EC, Supracide 40EC, Dầu khoáng DC-Tron Plus, Phun nước lã), 3 lần nhắc lại Mỗi công thức phun trên 3 cây cam ở thời kỳ KTCB, cây cam ở các công thức thí nghiệm cách bờ 1 hàng cây cam
+ Chỉ tiêu theo dõi: số lượng ấu trùng RAR sống ở các công thức thí nghiệm trước khi phun thuốc 1 ngày, sau khi phun thuốc 1, 3, 5 và 7 ngày
* Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần phun Dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC đến ấu trùng RAR
+ Thí nghiệm được tiến hành trên vườn cây cam tại Chương Mỹ (Hà Nội) với 4 công thức (Phun 1 lần, 2 lần, 3 lần, 4 lần Dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC ở nồng độ 0,5% trừ rệp muội)
+ Điều tra mật độ ấu trùng RAR theo phương pháp điều tra tại mục 2.5.3.1
2.5.3.2 Khả năng sử dụng ruồi ăn rệp trong phòng chống rệp muội hại cây ăn quả có múi
* Khả năng phát triển của rệp muội trên cây đậu đen làm thức ăn nhân nuôi RAR
+ Thí nghiệm được tiến hành với 2 công thức thả rệp muội (rệp muội xanh, rệp
muội đen) trên cây đậu đen (Vigna unguiculata)
+ Chỉ tiêu theo dõi: đếm số lượng rệp muội xanh và rệp muội đen qua từng thời
kì phát triển của cây đậu đen: 2 lá, 5 lá, 11 lá, ra hoa, hình thành quả
* Khả năng ăn mồi của ấu trùng RAR trong phòng thí nghiệm
Nghiên cứu khả năng ăn rệp muội của ấu trùng RAR theo Emden (1972)
Trang 13+ Ấu trùng RAR (tuổi 1, 2, 3) được lấy từ thí nghiệm mục 2.5.2.2 đặt vào hộp
nuôi sâu (25cm x 15cm x 15cm) với n = 30 cho mỗi tuổi, bỏ đói ấu trùng ở các tuổi trong vòng 24 h, sau đó cho vào mỗi hộp nuôi sâu 1 đĩa petri có lá cam non (100 con rệp muội ở tuổi 2 và 3) đặt trên giấy lọc ẩm Sau 24 giờ đếm số rệp muội còn lại trên
lá non ở mỗi hộp nuôi sâu và thay lá cam non mới có 100 con rệp muội ở tuổi 2 và 3
+ Chỉ tiêu theo dõi: số lượng rệp muội bị ấu trùng RAR ở các tuổi ăn trong
24 giờ
2.5.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Các số liệu được tính toán theo phương pháp thống kê sinh học thông dụng,
sử dụng phần mềm IRRSTAT 5.0 để so sánh và phân tích
- Vẽ đồ thị và biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Excel
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần thiên địch của rệp muội hại cây ăn quả có múi ở vùng Hà Nội
và phụ cận
3.1.1 Thành phần và mức độ hại của các loài rệp muội
3.1.1.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài rệp muội
Thành phần rệp muội hại trên cây ăn quả (CAQ) có múi ở huyện Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hoà Bình) và Văn Giang (Hưng Yên) là khá phong phú và có
sự tương đồng với nhau về thành phần loài được nêu trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Thành phần và mức độ phổ biến của rệp muội (Homoptera: Aphididae) hại
cây ăn quả có múi tại vùng Hà Nội và phụ cận (năm 2010 - 2012)
1 Rệp đào Myzus persicae (Sulzer) - + - - - -
2 Rệp muội đen Toxoptera citricidus
5 Rệp muội xanh Aphis spiraecola (Patch) +++ ++ +++ + ++ +
Ghi chú : Mức độ phổ biến : +++ : rất phổ biến (ĐTG > 50%), ++ : phổ biến (ĐTG từ 21 - 50% ), + : ít phổ biến (ĐTG từ 5 - 20% ), - : rất ít gặp (ĐTG < 5%)), KTCB: thời kỳ kiến thiết cơ bản, KD: thời kỳ kinh doanh