Chân không
Trang 1CHƯƠNG I CHÂN KHÔNG
I KHÁI NIỆM
chân không, trong vật lý thuyết cổ điện, là không gian không chứa vật chất Như vậy chân không có thể tích khác không và khối lượng (và do đó năng lượng) bằng không Do không có vật chất bên trong, chân không là nơi không có áp suất
Một số lý thuyết lượng tử cho biết khái niệm chân không theo nghĩa cổ điển không tồn tại, do vi phạm nguyên lý bất định Chân không, theo các lý thuyết này, luôn có sự dao động khối lượng (và do đó năng lượng) nhỏ Điều này nghĩa là, ở một thời điểm nào đó, luôn có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên các hạt có năng lượng dương và một thời điểm khác hạt này biến mất Các hạt ngẫu nhiên xuất hiện trong chân không tạo ra một áp suất gọi là áp suất lượng tử chân không Các thí nghiệm đo đạc áp suất này sẽ giúp khẳng định độ chính xác của các lý thuyết lượng tử về chân không
Trong thực tế, không có nơi nào trong vũ trụ quan sát được tồn tại chân không hoàn hảo như lý thuyết Các thí nghiệm và các ứng dụng thực tế có thể tạo ra các không gian chứa ít vật chất và có áp suất thấp Những không gian này cũng hay được gọi là "chân không" trong kỹ thuật, như khi nói về máy bơm chân không, tùy theo quy ước về giới hạn áp suất thấp Như vậy, chân không được hiểu là khoảng không-thời gian cụ thể có mật độ vật chất thấp và/hoặc rất thấp Lưu ý, khái niệm thấp và rất thấp ở đây được hiểu một cách tương đối
Trang thái chân không, do đó, hiểu là trạng thái có áp suất nhỏ hơn áp suất khí quyển trung bình chuẩn, và được chia thành:
1 Chân không thấp (p>100Pa)
2 Chân không trung bình (100Pa>p>0.1Pa)
3 Chân không cao (0.1Pa>p>10-5Pa)
4 Chân không siêu cao (p<10-5Pa)
Nói chung, nơi có điều kiện gần với chân không nhất là khoảng không giữa các thiên thể,
Trang 2hoặc khoảng không ở ngoài rìa vũ trụ (cách trung tâm Vụ Nổ Lớn hơn 15 tỷ năm ánh sáng).Hạt photon của ánh sáng và bức xạ điện từ được cho là di chuyển trong chân không, đúng hơn là trong không gian không có vật chất nào ngoài hạt này, với tốc độ không đổi và không phụ thuộc vào hệ quy chiếu, thường được gọi là tốc độ ánh sáng.
II Lịch sử
Hơn 25 thế kỉ qua, chân không đã được con người gán cho nhiều khái niệm khác nhau.
Theo quan niệm của các nhà khoa học thời cổ đại ở thế kỉ XV, mà tiêu biểu là Democrite- cha đẻ của thuyết nguyên tử, cho rằng chân không là không gian không chứa vật chất, trống rỗng, hoàn toàn không có gì Qua đó, có nghĩa là với thể tích khác không, nhưng khối lượng bằng không dẫn đến năng lượng bằng không thì áp suát bằng không Một thế kỉ sau, Aristote lại phủ nhận chân không và ca ngợi thiên nhiên Thiên nhiên có mặt ở khắp mọi nơi, cho rằng không gian chứa đầy “ete vũ trụ”-chất “tinh túy tuyệt vời”, nó có mặt ở mọi nơi, mọi chốn Vậy, chân không không thể tồn tại, vì nếu có thì chuyển động của một vật sẽ phải “tức thời” hay “bất tận” Những tư duy ý niệm có tính triết học về chân không “trống rỗng”, “hư vô” thống trị tư duy của thế giới Ả Rập, La Mã, Hy Lạp đó chỉ bị đánh đổ khi có sự ra đời khoa học thực ngiệm của Gallile(1564-1642),Pascal(1623-1662), Torricelli(1608-1647) ở TK XVII Dù bản chất của chân không chưa được sáng tỏ nhưng kể từ đó, chân không mới đi dần vào hiện thực cuộc sống
Nhưng đến năm 1654, sau thí nghiệm của “Quả cầu Magdeburg” Otto Von Guericke tiến hành tại bang Magdeburg, nước Đức,quê hương ông, chân không mới thực sự được hiểu đúng
và bắt đầu phục vụ sản xuất Có thể nói, ông là người đặt nền tảng, là cha đẻ của chân không Nói về thí nghiệm “Quả cầu Magdeburg” Mỗi học sinh đều được học ở trung học, trong thí nghiệm này, có 16 con ngựa- mỗi bên 8 con kéo một bán cầu kim loại đã mài nhẵn, áp sát vào nhau và được rút hết không khí bên trong bằng chiếc máy hút chân không cũng do Otto chế tạo vào năm 1650 Qua thí nghiệm này, con người mới thấy được sức ép to lớn của khí quyển lên mặt đất như thế nào
Ngày nay, lý thuyết lượng tử đã khẳng định Rằng: Do sự đúng đắn của “Nguyên lý bất định”mà luôn có sự “dao động” khối lượng và năng lượng (dù rất nhỏ) trong lòng chân không Nghĩa là, những hạt mang năng lượng vẫn tồn tại trong chân không Chúng tạo ra áp suất trong lòng chân không, gọi là “áp suất lượng tử chân không”
Trang 3Chân không được tạo ra thực tế có ít vật chất, áp suất thấp, được gọi là chân không kĩ thuật.
CHƯƠNG II KỸ THUẬT CHÂN KHÔNG
I Bơm chân không (máy hút chân không)
Về nguyên tắc máy hút chân không làm việc không khác gì máy nén khí, chỉ khác ở phạm vi áp suất làm việc và độ nén Các bơm chân không hút khí ở áp suất thấp hơn áp suất khí quyển và đẩy khí ra ở áp suất lớn hơn áp suất khí quyển một ít Bơm chân không thường tạo ra được độ chân không bằng 90% ( ứng với áp suất tuyệt đối bằng 0.1 at) và nén khí tới
1.1 at, thì độ nén tính được: 11
1,0
1,12
1 = =
P P
Do độ nén lớn nên tác dụng của khoảng hại (với bơm pittông) cũng lớn, dẫn đến làm giảm hiệu suất thể tích cũng như năng suất của bơm chân không Ví dụ, khi hệ số khoang hại
từ 3 đến 5% thì hiệu suất thể tích giảm xuống còn 0.4 đến 0.6 Vì thế đối với bơm chân không, để tăng hiệu suất thể tích, điều quan trọng nhất là bằng mọi cách giảm khoảng hại xuống Dùng phương pháp cân bằng áp suất nhờ các rảnh nhỏ ở đầu xilanh có thể tăng hiệu suất thể tích lên tới 0.8 đến 0.9
Năng suất của bơm chân không thay đổi, giảm dần cùng với sự giảm của áp suất hút (tăng độ chân không) Vì thế khi chọn bơm phải căn cứ đông thời cả vào năng suất độ chân không tối đa mà bơm tạo ra được
II Bơm tạo chân không thấp:
II.1 Bơm chân không kiểu pittông
Cấu tạo của bơm chân không kiểu pittông gần giống như máy nén pittông Giới hạn áp suất phụ thuộc chủ yếu vào độ khít giữa pittông và xilanh và hệ số khoảng hại Bơm chân không kiểu pittông thường được dùng trong công nghệ hóa chất và thực phẩm Nó có năng suất tương đối cao khoảng từ 45 đến 3500 m3/h (qui về điều kiện áp suất và nhiệt độ trước khi vào ống hút) Bơm chân không kiểu pittông chia làm 2 loại: khô và ướt Về cấu tạo 2 loại không có gì khác nhau Loại ướt hút cả hỗn hợp khí và lỏng, còn loại khô chỉ hút khí Vì vận tốc chất lỏng trong bơm loại ướt nhỏ hơn vận tốc khí, nên kích tước các van hút và đẩy phải lớn hơn loại khô và khoảng hại cũng lớn hơn Do đó độ chân không do bơm ướt tạo ra bằng khoảng 80 đến 85% và loại khô khoảng 96 đến 99.9%
Trang 4Giống như bơm pittông, bơm chân không kiểu pittông cũng được chia thành loại nằm ngang và loại thẳng đứng, theo vị trí của pittông Lọa nằm ngang một cấp tác dụng kép có số vòng quay từ 160 đến 200 vòng/phút, tạo nên độ chân không khoảng 700 mmHg Loại thẳng đứng hiện đại hơn vì có số vòng quay lớn hơn.
Căn cứ vào cấu tạo và hoạt động của bơm pittông chúng ta có thể chia chúng thành các loại: bơm pittông tác dụng đơn và bơm pittông tác dụng kép, bơm sai động, bơm pittông quay Trong đó nếu căn cứ vào cấu tạo của pittông lại có thể phân hai loại là pittông thường (Hình 1,a) và pittông trụ (Hình 1,b) Bơm pittông bơm được lưu lượng nhỏ (từ 0,01 250 m3/h) nhưng cột nước cao (từ 0,25 250 at)
Hình 1 Sơ đồ máy bơm pittông tác dụng đơn
a) Bơm pittông thường: 1- xi lanh; 2- pittông; 3- cán pittông
b) Bơm pittông trụ: 1- buồng công tác; 2- pittông trụ
Nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của loại bơm này thể hiện ở Hình (1,a): Pittông 2 tịnh tiến qua lại trong xi lanh 1 nhờ cơ cấu động gồm trục O, biên 5 và thanh truyền 4, con trượt Dung tích xi lanh nằm giữa hai điểm chết của pittông bằng dung tích chất lỏng trong mỗi lần hoạt động của pittông ở điều kiện lý thuyết ( không có tổn thất dung tích ) Khi pittông chuyển động sang phải thì van 8 đóng, van 7 mở, chất lỏng từ bể hút 11 hút lên lòng xi lanh Khi pittông đến điểm chết bên phải thì hoàn thành quán trình hút Sau đó pittông chuyển động ngược lại thì van 7 đóng, van 8 mở, chất lỏng được đẩy lên bể 10 Pittông đến điểm chết trái thì quá trình đẩy hoàn thành Như vậy cứ mỗi vòng quay của trục O thì bơm thực hiện được
Trang 5một chu trình hút và đẩy Khi trục O quay một góc ϕ
III Bơm tạo chân không trung bình và cao
III.1 Bơm chân không kiểu rôto
Bơm chân không kiểu rôto cũng được dùng rộng rãi trong công nghiệp hóa chất, thực phẩm Ưu điểm của loại bơm này so với bơm pittông hoàn toàn giống như máy nén và máy thổi khí loại rôto, so với loại pittông là hút khí đều đặn, cấu tạo gọn gàng, không có van phức tạp, giá thành chế tạo rẻ và chi phí vận hành nhỏ
Để làm bơm chân không, bình thường người ta có thể dùng tất cả các loại máy nén và máy thổi khí kiểu rôto, như loại có tấm trượt, loại hai guồng quay Ngoài ra người ta dùng rất phổ biến bơm chân không loại vòng chất lỏng
Bơm chân không loại tấm trượt có năng suất trong khoảng 200 đến 6000 m3/h và áp suất đạt dến 0.1:0.3 mmHg Nhờ số vòng quay lớn nên có thể đạt được vận tốc hút 100 l/s (ở áp suất khí quyển)
Bơm chân không loại hai guồng có số vòng quay lớn từ 1000 đến 2000 vòng/phút và tạo được độ chân không cao Áp suất tuyệt đối đến 1:1.10(-3) mmHg Nếu lắp thêm một bơm chân không kiểu phun tia để bổ sung thì bơm 2 guồng có thể tạo được áp suất tới 5.10 (-3) đến 5.10-4 mmHg Nếu có hai cấp thì áp suất đạt đến giới hạn nhỏ hơn 10(-5) mmHg
III.1.1 Bơm vòng nước
Hình 2 Sơ đồ cấu tạo và nguyên lý làm việc bơm vòng nước
Bơm vòng nước thuộc loại bơm thể tích Nó thường dùng để tích nước trước khi khởi
Trang 6động máy bơm li tâm có hiệu suất dương, hoặc để hút khí duy trì một độ chân không nào đó trong thiết bị Độ chân không nó tạo được từ - 0,8 - 0,9 át Rôtocủa máy bơm này đặt lệch tâm với tâm vỏ trụ Nguyên tắc hoạt động của nó như sau: Đầu tiên đổ nước vào trong trụ (khoảng chừng một nửa) Khi bánh xe quay, nước sẽ bắn ra chu vi vỏ trụ tạo thành một vòng nước 7 Vòng nước này phần trên tiếp xúc với đỉnh ống lót C của BXCT, phần dưới của ống lót tạo thành các ngăn không khí 1, 2, 3, 4, 5, 6 Các ngăn 1, 2, 3 là ngăn hút; các ngăn 4, 5, 6 là ngăn đẩy Khi Rôto quay theo chiều kim đồng hồ thì thể tích các ngăn tăng dần, trong nó chân không được tạo thành, hút không khí từ ống hút qua khe cửa lưỡi liềm A vào khoang Đồng thời thể tích các ngăn 4, 5, 6 giảm dần, không khí từ chúng bị đẩy qua cửa ra dạng lưỡi liềm B vào ống đẩy Khi Rôto quay, một phần nước bị đẩy vào ống đẩy , do vậy để duy trì vòng nước cần cần liên tục bổ sung đủ nước cho bơm, đồng thời cũng cần tản nhiệt cho bơm khi nó hoạt động
Bơm chân không loại vòng chất lỏng
không cần dầu bôi trơn nên rất thuận tiện
trong công nghiệp hóa học và được dùng
rộng rãi Bơm loại ướt có thể hút hỗn hợp
không khí với hơi nước (Hình 3.) biểu diễn
cấu tạo của bơm, gồm vỏ trong đó đặt lệch
tâm rôto có cánh hình sao Trước khi mở
bơm cần cho nước vào gần đầy thân để khi
rôto quay sẽ văng ra thành tạo nên một vòng chất lỏng Nhờ rôto đặt lệch tâm, nên khoảng cách còn lại được các cánh chia thành những khoảng có thể tích không đều Khí được hút qua cửa vào những khoang có thể tích lớn dầnkhi rôto quay, rồi được nén lại trong những khoang
có thể tích giảm và dần được đẩy ra qua cửa
Về cấu tạo và nguyên lý làm việc thì bơm vòng chất lỏng đơn giản hơn bơm pittông và bơm tấm trượt Ở bơm vòng nước, giữa guồng quay và vỏ có sự quay tương đối của không khí nên không bị bẩn tắc Do đó có thể dùng để hút các khí có bẩn bụi Bơm có thể lắp trực tiếp với động cơ điện vì có số vòng quay từ 600 đến 1450 vòng/phút Giới hạn áp suất do bơm tạo ra phụ thuộc vào nhiệt độ vòng nước, bằng khoảng 15 đến 110 mmHg, năng suất dao đông trong khoảng 0.25 đến 465 m3/ph Nhược điểm của bơm này là tiêu tốn năng lượng tương đối
vì phải vận chuyển cả lượng nước trong bơm và càng tăng khi độ chân không tăng Hiệu suất cực đại của bơm bằng 48 – 52%
Hình 3 Cấu tạo bơm roto vòng nước
Trang 7Hình 4 biểu diễn sơ đồ hệ thống thiết
bị bơm chân không loại vòng nước Khí
được hút qua ống 2, nén lại và đẩy ra ống
3 Khi có mang theo các giọt nước đi vào
thùng 5 rồi được xả ra qua ống 4, còn
nước hoặc quay trở lại bơm hoặc tháo ra
ngoài Nước bổ sung vào bơm qua ống 7
và van 6
III.2 Bơm chân không kiểu phun tia.
III.3 Phân loại:
Loại bơm này rất gọn và cấu tạo đơn giản, không cần nền móng, giá đỡ phức tạp Bơm được chia thành ba loại: Bơm tia bằng nước có áp suất giới hạn khoảng 10mmHg; bơm tia bằng hơi có áp suất giới hạn khoảng 0.3 mmHg và bơm loại khuếch tán có áp suất giới hạn khoảng 10(-7) :10(-8) mmHg
III.4 Bơm tia có một số nhược điểm như:
− Hiệu suất thấp (theo quá trình đoạn nhiệt thì hiệu suất 5.7%, nhưng trong điều kiện có thể sử duung5 nhiệt hơi sau bơm để đun nóng thì cũng nâng hiệu suất lên đến 90 - 95%)
− Tiêu thụ lượng hơi lớn, khởi động chậm;
− Khí hút ra bị trộn lẫn với hơi
Tuy nhiên do một số ưu điểm đã nêu, đặc biệt là tạo được độ chân không cao, có cấu tạo đơn giản, vận chuyển được các chất lỏng có độ ăn mòn cao mà bơm tia vẫn được dùng rộng rãi trong công nghiệp hóa chất
Để tạo được độ chân không cao người ta thường lắp nối tiếp một vài bơm tia lại thành bơm nhiều cấp Cấu tạo gồm một số bơm tia 1 lắp nối tiếp nhau, giữa chúng có thiết bị ngưng
tụ 2 Sau mỗi cấp hơi ngưng tụ trực tiếp với nước lạnh, nên đỡ tốn năng lượng để nén hơi làm iệc ở cấp trước trong cấp sau Độ nén trong mỗi bậc khoảng 3 Do đó số bậc phụ thuộc vào độ chân không cần tạo ra
Bơm chân không kiểu phun tia làm việc nhờ tia hơi hay nước, mà không cần một cơ cấu chuyển động nào khác Nguyên tắc làm việc là nhờ lực ma sát bề mặt của tia hơi hay nước
Hình 4 Nguyên tắc hoạt động
Trang 8chuyển dông với vận tốc lớn keo theo không khí hay khí cần hút, truyền cho nó một phần đông năng để sau đó phần động năng này biến đổi thành thế năng ( áp suất).
Hình 5 trình bày nguyên tắc cấu tạo và làm việc của bơm tia Nguồn chất lỏng công tác được lấy ở trên cao, dẫn theo ống 2 qua vòi phun 5 đưa vào buồng hỗn hợp 7, cung cấp năng lượng để hút nước cần bơm từ bể hút 4 qua ống hút 1, đẩy nước lên bể tháo 3 Trong vòi 5, tốc độ chất lỏng công tác và động năng tăng, còn thế năng và áp năng bị giảm Khi tốc độ đạt tới trị số xác định thì áp suất trong buồng hút 6 giảm nhỏ hơn áp suất không khí và xuất hiện chân không Dưới tác dụng của chân không nước sẽ được hút lên từ bể 4 theo ống 1 vào buồng hút 6 rồi buồng hỗn hợp 7 Ở trong buồng hỗn hợp, dòng chất lỏng công tác và dòng chất lỏng cần bơm trộn vào nhau, khi đó chất lỏng công tác truyền một phần năng lượng của mình cho chất lỏng cần bơm Sau đó dòng chất lỏng hỗn hợp chuyển vào đoạn khuếch tán 8,
tại đây vận tốc dòng chảy giảm dần và cột nước tĩnh tăng, dòng chất lỏng được đưa lên bể 3 Nếu dùng bơm tia để đẩy chất lỏng thì gọi là “injecto”, còn đề hút chất lỏng gọi là ejecto”
CHƯƠNG III ĐO ÁP SUẤT VÀ CHÂN KHÔNG
I Áp suất
Áp suất được định nghĩa là lực do lưu chất tác dụng vuông góc lên một đơn vị bề mặt Có
3 tính chất:
- Áp suất luôn luôn tác động vuông góc với thành bình tiếp xúc với lưu chất
- Tại một điểm bên trong lưu chất tĩnh, áp suất theo mọi phương đều như nhau
- Định luật Pascal: trong bình kín, độ gia tăng áp suất được truyền đi khắp mọi điểm
trong lưu chất Đơn vị đo áp suất
Hình 5 Nguyên tắc cấu tạo và làm việc của bơm tia
Trang 9II Áp suất tuyệt đối và áp suất dư
Có 2 phương pháp để xác định áp suất
Phương pháp đo áp dựa vào chân không tuyệt đối là áp suất tuyệt đối
Phương pháp đo áp dựa vào áp suất khí quyển là áp suất dư
Mối quan hệ áp suất tuyệt đối và áp suất dư như sau:
áp suất dư = áp suất tuyệt đối - áp suất khí quyển
Pd = Ptd - Pb
Áp suất chân không là hiệu số giữa khí áp và áp suất tuyệt đối
Pck = Pb - Ptd
Chân không tuyệt đối không thể nào tạo ra được
III Đo chân không trong phòng thí nghiệm
III.1 Chân không kế Mcleod:
Đối với môi trường có độ chân không cao, áp suất tuyệt đối nhỏ người ta có thể chế tạo dụng cụ đo áp suất tuyệt đối dựa trên định luật nén ép đoạn nhiệt của khí lý tưởng
Trang 10Nguyên lý : Khi nhiệt độ không đổi thì áp suất và thể tích tỷ lệ nghịch với nhau.
P1 V1 = P2 V2 Loại này dùng ta để đo chân không
Đầu tiên giữ bình Hg sao cho mức Hg ở ngay nhánh ngã 3 Nối P1 (áp suất cần đo) vào rồi nâng bình lên đến khi được độ lệch áp là h => trong nhánh kín có áp suất P2 và thể tích V2 h.g.V
P2 = P1 + γ h V2 ( P1 + γ h) = P1 V1 P1 = V1 −V2 ⇒ ⇒ ⇒
• Nếu V2 << V1 V1 thì ta bỏ qua V2 ở mẫu P1 = h.g.V2⇒
• Nếu giữ V2 là hằng số thì dụng cụ sẽ có thang chia độ đều
• Khoảng đo đến 10-5 mm Hg
Người ta thường dùng với V1max = 500 cm3 , đường kính ống d = 1 ÷ 2,5 mm
III.2 Loại dùng trong công nghiệp
Trong công nghiệp người ta thường dùng để đo hiệu áp suất gọi là hiệu áp kế
Hình 5 Nguyên tắc cấu tạo và làm việc của chân không kế
Mcleod
Trang 11III.2.1 Áp kế và hiệu áp kế đàn hồi.
Bộ phận nhạy cảm các loại áp kế này thường là ống đàn hồi hay hộp có màng đàn hồi, khoảng đo từ 0 ÷ 10 000 kG/ cm2 và đo chân không từ 0,01 ÷ 760 mm Hg
Đặc điểm của loại này là kết cấu đơn giản, có thể chuyển tín hiệu bằng cơ khí, có thể sử dụng trong
phòng thí nghiệm hay trong công nghiệp, sử dụng thuận tiện và rẻ tiền
+ Nguyên lý làm việc: Dựa trên sự phụ thuộc độ biến dạng của bộ phận nhạy cảm hoặc lực do nó sinh ra và áp suất cần đo, từ độ biến dạng này qua cơ cấu khuếch đại và làm chuyển dịch kim chỉ (kiểu cơ khí)
+ Các loại bộ phận nhạy cảm:
+ Cấu tạo và phạm vi ứng dụng:
* Màng phẳng :
Trang 12- Nếu làm bằng kim loại thì dùng để đo áp suất cao.
- Nếu làm bằng cao su vải tổng hợp, tấm nhựa thì đo áp suất nhỏ hơn (loại này thường
có hai miếng kim loại ép ở giữa)
- Còn loại có nếp nhăn nhằm tăng độ chuyển dịch nên phạm vi đo tăng
- Có thể có lò xo đàn hồi ở phía sau màng
Các áp kế truyền thống hoạt động theo nguyên lý cơ học với một ống Bourdon được uốn cong, kín, có xu hướng duỗi thẳng khi áp suất bên trong tăng
Trang 13Chú ý: - Khi lắp đồng hồ cần có ống xi phông để cản lực tác dụng lên đồng hồ và phải có van ba ngã để kiểm tra đồng hồ.
- Khi đo áp suất bình chất lỏng cần chú
ý đến áp suất thủy tĩnh
- Khi đo áp suất các môi trường có tác dụng hóa học cần phải
có hộp màng ngăn
- Khi đo áp suất môi trường có nhiệt độ cao thì ống phải dài 30 ÷ 50 mm và không bọc cách nhiệt
- Các đồng hồ dùng chuyên dụng để đo một chất nào có tác dụng ăn mòn hóa học thì trên mặt người ta ghi chất đó
- Thường có các lò xo để giữ cho kim ở vị trí 0 khi không đo
IV MỘT SỐ LOẠI ÁP KẾ ĐẶC BIỆT
Trong phạm vi chân không cao và áp suất siêu cao hiện nay người ta đều dùng phương pháp điện để tiến hành đo lường, các dụng cụ đo kiểu điện cho phép đạt tới những hạn đo cao hơn và có thể đo được áp suất biến đổi rất nhanh
Chân không kế kiểu dẫn nhiệt : Hệ số dẫn nhiệt của chất khí ở áp suất bình thường thì không có quan hệ với áp suất nhưng ở điều kiện áp suất tương đối nhỏ thì người ta thấy tồn tại quan hệ trên Nhiệt độ dây dẫn khi đã cân bằng nhiệt sẽ thay đổi tùy theo hệ số dẫn nhiệt của khí và dùng cầu điện không cân bằng để xác định điện trở dây dẫn ta sẽ biết được độ chân không tương ứng
Chân không kế Ion : Nhờ hiện tượng ion hóa tạo nên dòng ion trong khí loãng có quan hệ với áp suất nên từ trị số của dòng ion người ta xác định được độ chân không của môi trường
Có nhiều cách thực hiện việc ion hóa như : dùng tác dụng của từ trường và điện trường, sự dự phát xạ của catốt được đốt nóng khi có điện áp trên anôt, dùng sự phóng xạ và tùy theo các cách đó mà ta có các chân không kế khác nhau
Trang 14Áp kế kiểu áp từ : Áp suất tạo ra ứng lực cơ học trong vật liệu sắt từ biến đổi sẽ làm biến đổi hệ số dẫn từ của vật liệu đó Lợi dụng hiệu ứng áp từ ta có thể chế tạo được bộ nhạy cảm kiểu áp từ.
Áp kế áp suất điện trở : Muốn đo những áp suất lớn hơn 10.000 kG/cm2 hiện nay hầu như chỉ có 1 cách duy nhất là dùng bộ phận nhạy cảm áp suất điện trở làm áp kế
CHƯƠNG IV ĐIỀU KHIỂN HÚT CHÂN KHÔNG
I VAN ĐIỀU KHIỂN ÁP SUẤT
Trong hệ thống thủy lực valve điều khiển áp suất (gọi tắt là nhóm valve áp suất) được sử dụng ở rất nhiều dạng rất nhau và đóng vai trò quan trọng, là một trong 3 nhóm valve điều khiển chính bao gồm: Valve chuyển hướng - Valve điều chỉnh lưu lượng và Valve điều khiển áp suất
Tuy nhiên valve áp suất thường chỉ được biết đến như là valve an toàn (Relief valve) Bài viết này muốn giới thiệu thêm với các bạn về 2 loại valve áp suất cơ bản khác rất hay được sử dụng trong các mạch thủy lực
Như vậy, có 3 loại valve áp suất chính trong nhóm valve an toàn bao gồm:
- Valve an toàn: Relief valve
- Valve tuần tự (hay thứ tự): Sequence valve
- Valve giảm áp: Reducing valve
Các loại valve áp suất khác như CBV, valve xả không tải là tổ hợp của các valve nêu trên
I.1 Valve an toàn
Tác dụng của nó là "ngăn ngừa" áp suất vượt quá một giá trị đặt trước bởi người sử dụng nhằm bảo vệ hệ thống hoặc cụm thiết bị không bị phá hỏng do áp suất (vì vậy nó được gọi là valve an toàn - Cái này chắc mọi người đều biết cả) Thông thường valve này có hai cửa dầu Một cửa nối với nguồn cấp/gây ra áp suất; cửa kia nối về thùng chứa để xả bỏ dầu về thùng chứa Lưu ý là lưu lượng xả bỏ qua valve an toàn hầu như không phụ thuộc vào áp suất
Trang 15I.2 Valve tuần tự
Về bản chất và ký hiệu, valve tuần tự không khác gì valve an toàn nhưng nó có cách thức sử dụng cho mục đích khác Người ta hay sử dụng valve này như một valve thường đóng NC để làm thay đổi áp suất làm việc ở hai nhánh làm việc khác nhau Tức
là sẽ có một áp suất chênh giữa hai nhánh làm việc trong cùng một hệ thống được gây ra bởi valve tuần tự
Khác với valve an toàn, cửa dầu ra của valve (cửa A) không nối với thùng dầu chứa
mà nó được nối với mạch làm việc thứ 2
Hãy xem xét một ví dụ đơn giản như sau:Một máy khoan cần có hai cơ cấu xy lanh: Xy lanh A dùng để kẹp chặt chi tiết khoan còn xy lanh B sẽ chỉ đè đầu mũi khoan xuống khi chi tiết đã kẹp chặt