Nghiên cứu tình hình cụ thể các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam, tiếp giáp với Trung Quốc, luận án đã xây dựng khung khổ lý luận, phân tích nội dung phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới với hai bộ phận cấu thành cơ bản là (1) Phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và dân cư tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới và (2) Phát triển giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới. Luận án đã xây dựng 3 nhóm chỉ tiêu đánh giá sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới là (1) Các chỉ tiêu phản ánh không gian lãnh thổ về kinh tế; (2) Các chỉ tiêu phản ánh xã hội tại khu kinh tế cửa khẩu và (3) Các chỉ tiêu về phát triển kinh tế tại khu kinh tế cửa khẩu.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc,
xuất xứ rõ ràng Những kết quả trình bày trong luận án chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Đặng Xuân Phong
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 11
1.1 KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 11
1.1.1 Quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu biên giới và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 11
1.1.2 Tính quy luật, điều kiện hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 24
1.1.3 Vai trò khu kinh tế cửa khẩu biên giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 36
1.2 NỘI DUNG, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI 42
1.2.1 Nội dung phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 42
1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 51
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 52 1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 60
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 60
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 64
1.3.3 Kinh nghiệm của Lào 69
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 72
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU
BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 78
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 78
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam 78
2.1.2 Quá trình hình thành các khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam 83 2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 88
2.2.1 Tình hình phát triển không gian lãnh thổ về kinh tế và dân cư tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới 88
2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới 96
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 102
2.3.1 Những thành tựu đạt được 103
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 113
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 121
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 139
3.1 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 139
3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với phát triển các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc những năm tới 139
3.1.2 Quan điểm phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam 149
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 157
Trang 43.2.1 Phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và xã hội các khu kinh tế cửa khẩu biên giới 157 3.2.2 Phát triển các hoạt động kinh tế tại các khu kinh tế cửa khẩu biên giới 157
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỦA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 167
3.3.1 Hoàn thiện công tác quy hoạch không gian lãnh thổ kinh tế -xã hội các khu kinh tế cửa khẩu 167 3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện chính sách xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tại các khu kinh tế cửa khẩu 172 3.3.3 Tạo bước đột phá về xây dựng và nâng cấp chất lượng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế tại các khu kinh tế cửa khẩu 175 3.3.4 Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu 177 3.3.5 Nâng cao tính chủ động, đẩy mạnh cải tiến ứng dụng tiến bộ công nghệ và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 180 3.3.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển các khu kinh tế cửa khẩu theo hướng bền vững 184 3.3.7 Tăng cường củng cố an ninh quốc phòng ở các khu kinh tế cửa khẩu 185 3.3.8 Thực hiện phân công, phân cấp và phối hợp trong quản lý nhà nước đối với các khu kinh tế cửa khẩu 187
KẾT LUẬN 188 CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 190 TÀI LIỆU THAM KHẢO 191
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ACFTA: khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
2 BQL: ban quản lý
3 BOT: xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
4 BT: xây dựng - chuyển giao
5 BTO: xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
6 CNH: công nghiệp hoá
7 DN: doanh nghiệp
8 ĐTH: đô thị hoá
9 ĐTNN: đầu tư nước ngoài
10 EU: cộng đồng châu Âu
11 FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 GDP: tổng sản phẩm quốc nội
13 GMS: tiểu vùng sông Mê Công
14 GS: giáo sư
15 HĐH: hiện đại hoá
16 ICD: cảng nội địa đất liền (cảng cạn)
17 KCN: khu công nghiệp
18 KCX: khu chế xuất
19 KH&CN: khoa học và công nghệ
20 KKT: khu kinh tế
21 KKTCK: khu kinh tế cửa khẩu
22 KKTCKBG: khu kinh tế cửa khẩu biên giới
23 KTCK: kinh tế cửa khẩu
24 KTQT: kinh tế quốc tế
25 LLSX: lực lượng sản xuất
Trang 626 MHD: chỉ số phát triển con người
27 NDT: nhân dân tệ
28 NS: ngân sách
29 NSNN: ngân sách nhà nước
30 NXB: nhà xuất bản
31 ODA: nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
32 PPP: đầu tư công – tư
Trang 7II HÌNH
Hình 2.1: Kim ngạch XNK tại các KKTCK biên giới Việt - Trung 97 Hình 2.2: Tình hình đóng góp cho NSNN của các KKTCK biên giới 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh quốc tế hiện nay cho thấy rằng hoà bình, hợp tác và phát triển
là xu thế chung Toàn cầu hóa, khu vực hoá và đa dạng hoá về kinh tế đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình hợp tác về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước, song cũng không ít khó khăn, thách thức Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia sẽ phải tự làm cho nền kinh tế của mình dần thích nghi với xu thế chung
đó, trong đó phát triển KTCK ở các vùng biên giới có vai trò rất quan trọng
Tiến trình mở cửa và hội nhập theo phương châm "đa dạng hóa, đa
phương hóa" các quan hệ giao lưu kinh tế, đã được Đảng và Nhà nước ta
khẳng định như là một trong những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn tới Trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, với đường biên giới trải dài bao gồm nhiều cửa khẩu thông thương với các nước láng giềng, việc tìm ra cơ chế, chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế qua các cửa khẩu biên giới là việc làm hết sức cần thiết, nhằm mục đích mở cửa nền kinh tế ra nhiều hướng, theo nhiều tầng nấc khác nhau
Việt Nam hiện có trên 40 cửa khẩu quốc tế, quốc gia đường bộ và đường sắt trên địa bàn 25 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia; trong đó có 25 KKTCK trên địa bàn 19 tỉnh biên giới được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập
Các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện có 22 cửa khẩu quốc tế và quốc gia trên địa bàn 9 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc và Lào; trong
đó có 12 KKTCK được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập
Trang 9Riêng tiếp giáp với Trung Quốc, Việt Nam có 7 tỉnh (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên) với 18 cửa khẩu quốc tế, quốc gia và 1.463 km đường biên giới, hiện đã có 8 KKTCK được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập
Từ khi mở cửa biên giới, các KKTCK này đã trở thành vùng kinh tế động lực đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng; đặc biệt là hệ thống các cửa khẩu quốc tế tiếp giáp với Trung Quốc Trong khoảng 20 năm trở lại đây, Trung Quốc đạt nhiều thành tựu lớn về phát triển kinh tế, là một thị trường rộng lớn, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng cũng tăng lên rất nhanh Nước ta đã
có quan hệ truyền thống lâu đời với Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh phía Tây Nam tiếp giáp với Việt Nam Các tỉnh này đang trong thời kỳ bùng nổ phát triển,
có nhu cầu tiêu dùng lớn, thị hiếu không cao, khoảng cách địa lý không xa nên chúng ta có nhiều điều kiện để mở rộng quan hệ kinh tế, đặc biệt là hoạt động thương mại
Tuy vậy, việc phát triển các KKTCK ở Việt Nam nói chung và các KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam nói riêng trong những năm qua vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, đặc biệt những vấn đề đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay khi mà nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, khai thác triệt để tiềm năng, lợi thế của các KKTCK,
thì việc lựa chọn Đề tài "Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là hết sức cần thiết trong
giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thứ nhất, các nghiên cứu ở nước ngoài: Nghiên cứu về phát triển các
KKT, KKTCK nói chung, KKTCK biên giới Việt - Trung được nhiều tác giả
Trang 10nước ngoài quan tâm, nhất là các nhà kinh tế học Trung Quốc Có thể nêu lên một số công trình đã công bố của các tác giả sau đây:
Tác giả Mã Tuệ Quỳnh trong bài “Tăng cường vai trò lan tỏa của
thương mại biên giới, thúc đẩy bước phát triển mới trong quan hệ kinh tế Trung – Việt” đã đề cập đến thực trạng phát triển kinh tế thương mại biên giới
của tỉnh Quảng Tây sau hơn 15 năm, kể từ khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ năm 1991; thực trạng phát triển KTCK của tỉnh Quảng Tây; những vấn đề tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế thương mại biên giới và đối sách áp dụng để phát huy ưu thế thương mại biên giới, mở rộng quan hệ giao lưu thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam Mặc dù tài liệu mới chỉ đề cập chủ yếu đến phát triển thương mại biên giới của tỉnh Quảng Tây, song cũng đã giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình tham khảo để phân tích đánh giá vai trò của các cửa khẩu biên giới trong quá trình phát triển các KKTCK cũng như tạo sự gắn kết, lan tỏa giữa các vùng, miền khác nhau
để phát triển thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam
Tác giả Lưu Kiến Văn “Từng bước thúc đẩy khu hợp tác kinh tế xuyên
quốc gia Trung - Việt Trường hợp khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia Đông Hưng – Móng Cái” Đã phân tích quá trình và đề xuất các giải pháp phát triển
khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh mới
Ngoài ra còn nhiều bài viết đã đăng tải trong các kỷ yếu hội thảo, hội
nghị của hai nước như: “Phương pháp nghiên cứu chính sách cho các đặc
khu hợp tác kinh tế Trung - Việt”, báo cáo Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban chỉ
đạo hợp tác xuyên biên giới Trung - Việt, Cơ quan phát triển Liên hợp quốc,
tổ chức tại Côn Minh tháng 6 năm 2008 Tài liệu đã nêu bật được ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng các đặc khu hợp tác kinh tế Trung – Việt; đề xuất tư duy tổng thể cho việc xây dựng các đặc khu hợp tác kinh tế Trung –
Trang 11Việt; đưa ra những trở ngại chủ yếu của việc xây dựng đặc khu hợp tác kinh
tế Trung – Việt; kiến nghị một số chính sách mang tính chiến lược đối với các đặc khu hợp tác kinh tế…Song đây cũng chỉ là tài liệu mang tính tham khảo
vì mới nghiên cứu, đưa ra những vấn đề chung nhất về các đặc khu hợp tác
kinh tế; “Báo cáo nghiên cứu khả thi khu hợp tác kinh tế Lào Cai, Việt Nam -
Hồng Hà, Trung Quốc” và “Nghiên cứu chiến lược khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Trung – Việt” của Viện nghiên cứu hợp tác kinh tế mậu dịch quốc tế
- Bộ Thương mại Trung Quốc, báo cáo tại hội nghị Côn Minh tháng 2 năm
2009 Tài liệu đã phân tích sự cần thiết phải xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới, nêu ý nghĩa và vai trò của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới; xác định nội hàm và chức năng của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới
và đề xuất loại hình phát triển của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới; kiến nghị về chính sách đối với khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Mặc dù tài liệu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khu hợp tác kinh tế ở khu vực biên giới song đây chính là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển các KKTCK trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy đây cũng là tài liệu quan trọng giúp tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam, liên quan đến vấn đề
này đã có khá nhiều các tổ chức và học giả nghiên cứu, nhiều công trình được công bố và có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn Có thể nêu lên một số công trình sau:
- Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung và tác động của nó tới
sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam TS Phạm Văn Linh, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội năm 2001; đã đề cập đến nhiều nội dung về phát triển các KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam, phân tích vị trí, tầm quan trọng của KKTCK trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và mở cửa kinh tế, thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của các KKTCK đến sự
Trang 12phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác dụng tích cực của các KKTCK
- Khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, NXB Thống kê, Hà Nội năm 2000; đã
đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến phát triển KKTCK; đánh giá vai trò, thực trạng phát triển thương mại tại các KKTCK; sự cần thiết phát triển thương mại tại các KKTCK; qua đó đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư thương mại vào các KKTCK Mặc dù cuốn sách mới tập trung phân tích và đề xuất phát triển lĩnh vực thương mại tại các khu kinh tế cửa khẩu, song cũng đã gợi mở cho việc phân tích đánh giá và đề xuất phát triển nhiều nội dung, lĩnh vực khác tại khu vực KTCK
- Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan
hệ thương mại khu vực biên giới Việt - Trung Đây là đề tài nghiên cứu cấp
bộ, của Bộ thương mại, hoàn thành năm 2000; đã tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng các hoạt động thương mại tại khu vực biên giới Việt – Trung, đánh giá hệ thống chính sách mậu dịch biên giới của Trung Quốc và ảnh hưởng của
nó tới môi trường thương mại khu vực biên giới Việt –Trung; trên cơ sở đó đã đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển thương mại khu vực biên giới Việt - Trung
- Phương hướng phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung trong
giai đoạn tới, trên Tạp chí Thông tin Kinh tế - Xã hội, số 1 năm 2003 Bài viết
đã xác định vị trí, vai trò của một số cửa khẩu quốc tế trên tuyến biên giới Việt - Trung và đưa ra một số ưu tiên trong định hướng phát triển KTCK trong thời gian tới
- Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà
Nội – Hải Phòng của TS Nguyễn Văn Lịch, NXB Thống kê, Hà Nội năm
2005, đã đi sâu phân tích và làm rõ những luận cứ khoa học của việc xây
Trang 13dựng hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; đánh giá thực trạng phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –
Hà Nội – Hải Phòng; phân tích tác động của hành lang kinh tế đối với việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc và đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng
- Các giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam
với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc); đề tài cấp bộ do TS
Nguyễn Văn Lịch chủ nhiệm, Hà Nội năm 2005, đã phân tích và làm rõ được vai trò của việc phát triển thương mại giữa Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đánh giá được thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung Quốc; đề xuất quan điểm, dự báo và một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung Quốc
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các kỷ yếu hội thảo như Kỷ yếu
Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –
Hà Nội – Hải Phòng” tại Lào Cai, tháng 11/2005; Kỷ yếu Hội thảo khoa học
giữa Học viện Tài chính (Việt Nam) và Học viện kinh tế tài chính Quảng Tây
(Trung Quốc) “Kinh tế biên mậu Việt Nam – Trung Quốc triển vọng và giải
pháp thúc đẩy”, tổ chức tại Hà Nội, 2006; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Các giải pháp phát triển hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh mới” tổ chức tại Lào Cai tháng 12/2007…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề lý thuyết về phát triển các KKTCK biên giới, chỉ ra vị trí, tầm quan trọng của các KKTCK, tình hình phát triển hoạt động thương mại tại các KKTCK Tuy nhiên, một loạt vấn đề mà các công trình nghiên cứu đã công bố chưa được đề cập hoặc
Trang 14được đề cập nhưng chưa có hệ thống và là nhiệm vụ mà chủ đề luận án này cần giải quyết là:
- Khái niệm về KKTCK và phát triển KKTCK; nội hàm của các khái niệm này; những nội dung của phát triển KKTCK; vị trí, tầm quan trọng của các nội dung này trong quá trình phát triển KKTCK
- Thực trạng phát triển KKTCK biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc hiện nay; thành tựu và hạn chế của phát triển KKTCK trong thời gian qua; nguyên nhân cản trở sự phát triển KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc hiện nay
- Quan điểm, phương hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KKTCK của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc những năm tới
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản về phát triển KKTCK biên giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đề xuất các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh sự phát triển KKTCK trong những năm tới
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc trong những năm tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, vì phát triển KKTCK có phạm vi rộng, trong luận án này sẽ
tập trung nghiên cứu phát triển KKTCK về không gian lãnh thổ kinh tế -xã hội và phát triển kinh tế tại các KKTCK trong đó nhấn mạnh đến các hoạt động giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ dưới tác động của hệ thống cơ chế chính sách, tổ chức quản lý tầm vĩ mô cũng như sự vận dụng của chính quyền địa phương đảm bảo cho sự phát triển KKTCK
Về không gian: Hiện nay các tỉnh Việt Nam có biên giới đất liền tiếp giáp
với Trung Quốc gồm 7 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên và Lai Châu Tại 7 tỉnh này đã có 8 KKTCK Trong phạm vi Luận án này sẽ lựa chọn 6 KKTCK đã và đang hoạt động tại 6 tỉnh để nghiên cứu Cụ thể là: KKTCK Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; KKTCK Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn; KKTCK Lào Cai, tỉnh Lào Cai; KKTCK Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; KKTCK Thành Thủy, tỉnh Hà Giang; và KKTCK Ma Lù Thàng, tỉnh Lai Châu
Về thời gian: Luận án nghiên cứu phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp
giáp với Trung Quốc từ khi nhà nước ta mở cửa biên giới đến nay, số liệu chủ yếu từ năm 2006 đến 2010; đưa ra quan điểm, định hướng phát triển các KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc giai đoạn đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận án là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hóa khoa học; đồng thời dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực kinh tế để xem xét các vấn đề của đề tài
Luận án sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát thu thập thông tin tài liệu
sơ cấp trên cơ sở phỏng vấn 301 cán bộ quản lý nhà nước cấp trung ương, cấp tỉnh và các doanh nghiệp tại các KKTCK
Trang 16Luận án tiến hành điều tra thu thập số liệu báo cáo từ các Ban quản lý KKTCK và tài liệu thống kê của các địa phương có liên quan Luận án còn kế thừa các công trình, bài viết và sử dụng các tài liệu thứ cấp, các báo cáo của các địa phương có liên quan về phát triển hoạt động kinh tế tại các KKTCK
Luận án sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia các nhà quản lý nhà nước các cấp và các doanh nghiệp tại các KKTCK
6 Những đóng góp khoa học của luận án
Đóng góp quan trọng nhất của luận án là đề xuất ý tưởng phát triển KKTCK không chỉ dừng lại ở phát triển thương mại xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh mà phải xây dựng các KKTCK thành các đô thị vùng biên giới để vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, tổ chức giao lưu thương mại, phát triển du lịch, xúc tiến và thúc đẩy đầu tư, từng bước phát triển công nghiệp tại các tỉnh biên giới, vừa phát triển xã hội tại các vùng biên, đưa các cửa khẩu biên giới thành các tụ điểm dân cư đô thị, thành các vùng động lực của khu vực biên giới để củng cố quốc phòng, bảo vệ biên cương, lãnh thổ của đất nước
Một số đóng góp cụ thể:
Thứ nhất, đã hệ thống hoá có bổ sung và phân biệt rõ các khái niệm về
KKTCK và sự phát triển các KKTCK
Thứ hai, khái quát được kinh nghiệm phát triển KKTCK của một số nước
trên thế giới để khuyến nghị vận dụng cho phát triển KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc
Thứ ba, đánh giá thực trạng phát triển KKTCK Việt Nam tiếp giáp với
Trung Quốc hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển KKTCK này
Thứ tư, đề xuất quan điểm, phương hướng phát triển các KKTCK biên
giới Việt nam tiếp giáp với Trung Quốc theo hướng trở thành các đô thị biên giới để vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa phát triển xã hội vừa đảm bảo củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh biên giới
Trang 17Thứ năm, khuyến nghị được hệ thống một số giải pháp chủ yếu nhằm
tiếp tục đẩy mạnh phát triển KKTCK biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo phát huy hiệu quả về kinh tế, góp phần ổn định về chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh trên các tuyến biên giới
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
có liên quan, nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển khu kinh
tế cửa khẩu biên giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc
Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển khu
kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam
Trang 18
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.1 Quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu biên giới và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
1.1.1.1 Quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Thuật ngữ KKTCK được dùng ở Việt Nam một số năm gần đây, khi quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Trung Quốc đã có bước phát triển mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức kinh tế phù hợp nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nước thông qua cửa khẩu biên giới Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về KKTCK:
Một là, trong những năm đổi mới vừa qua trong sách báo ở nước ta xuất hiện nhiều thuật ngữ có liên quan đến KKTCK Có thể nêu lên một số
khái niệm có liên quan với KKTCK như:
- Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi
trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập
- Khu kinh tế tự do là một loại hình của khu kinh tế Trong khi khu kinh
tế tự do là tên gọi phổ biến thì một số nước lại có các tên gọi khác nhau như đặc khu kinh tế (hay khu kinh tế đặc biệt), khu kinh tế mở, khu thương mại tự
Trang 19do, hay thậm chí đơn giản chỉ là khu kinh tế, khu tự do Mặc dù tên gọi có thể khác nhau song về thực chất thì đây là một khu vực không gian kinh tế được thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nghiên cứu khoa học bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt (ưu đãi về thuế quan, đầu tư, cơ sở hạ tầng…) Trong khu kinh tế tự do có thể có nhiều khu chức năng như khu vực phi thuế quan (khu bảo thuế), khu thương mại, khu thương mại – công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các tiểu khu du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí
- Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên của Chính phủ hay địa phương do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập
- Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới xác định, không có cư dân sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc biệt của Chính phủ do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập
- Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu – triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập
- Khu phi thuế quan là khu vực địa lý có ranh giới xác định trong phạm
vi một quốc gia, được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hàng rào cứng,
có cổng và cửa ra vào bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của cơ quan Hải
Trang 20quan và các cơ quan chức năng có liên quan, có cơ quan Hải quan giám sát, kiểm tra hàng hóa và phương tiện ra vào khu
- Khu hợp tác kinh tế biên giới (khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới): là
mô hình khu kinh tế cửa khẩu đặc biệt, liên kết hai quốc gia, tạo ra vùng lãnh thổ đặc thù, hai bên có thể thỏa thuận bằng một Hiệp ước, theo đó chỉ ra vùng lãnh thổ hợp lý, có hàng rào, không có dân cư sinh sống
- Khu giao lưu kinh tế biên giới trong phạm vi hẹp nó bao gồm các hoạt
động trao đổi hàng hoá, trao đổi thương mại giữa các cư dân hay các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn các địa phương biên giới, thường là nơi có các cửa khẩu biên giới Tuy nhiên trên thực tế, các hình thức giao lưu kinh tế này có thể thực hiện ở các cặp chợ biên giới, các điểm buôn bán nhỏ dọc tuyến biên giới hoặc đường mòn biên giới với một khối lượng hàng hoá
và giá trị được xác định theo quy định của nhà nước hoặc chính quyền địa phương nơi có cửa khẩu, chợ, điểm buôn bán hoặc đường mòn biên giới Giao lưu kinh tế biên giới là hình thức giao lưu kinh tế phổ biến ở tất cả các khu vực dân cư biên giới giữa các quốc gia có đường biên giới trong điều kiện hoà bình Tuy nhiên quy mô, mức độ trao đổi hàng hoá, thương mại diễn ra rất khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực biên giới trong cả nước Điều này phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau, như : trình độ phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, chính sách biên mậu, các tiềm năng thế mạnh tại chỗ, sự ổn định về an ninh chính trị Do đó xuất hiện một nội dung rộng hơn, bao quát hơn, hay nói cách khác, giao lưu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng là tất cả các hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên giới chung Như vậy, nội dung của giao lưu kinh tế biên giới theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần là trao đổi, buôn bán hàng hoá thông thường, mà nó bao
Trang 21hàm cả hoạt động hợp tác về khoa học và công nghệ, đầu tư, xuất nhập khẩu, phát triển hạ tầng, du lịch qua biên giới
- Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa ra,
vào qua biên giới đất liền
- Khu vực xung quanh biên giới bao gồm những địa bàn nằm trên tuyến
hành lang, vành đai hoặc bị ảnh hưởng bởi tuyến hành lang, vành đai:
+ Hành lang kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập một hoặc nhiều tuyến giao thông kết hợp với những chính sách kinh tế nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó Hành lang kinh tế thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tế giữa những vùng kém phát triển hơn và thường là vùng sâu, vùng xa với những vùng phát triển hơn và thường là vùng Duyên Hải
+ Vành đai kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập một hoặc nhiều trục giao thông ven biển kết hợp với những chính sách kinh tế nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó Vành đai kinh tế thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tế giữa những vùng phát triển ven biển, tạo một khu vực kinh tế năng động, có sức thúc đẩy phát triển kinh tế của cả vùng hoặc quốc gia
Hai là, khái niệm khu kinh tế cửa khẩu biên giới: Cùng với quá trình mở
cửa hội nhập kinh tế quốc tế, theo đó là sự gia tăng các hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch qua cửa khẩu giữa nước ta với các nước có chung biên giới Thuật ngữ KKTCK biên giới được dùng ngày càng nhiều trong các văn kiện của cơ quan quản lý Nhà nước, xuất hiện nhiều trên các sách, báo và các cuộc hội thảo trong thời gian gần đây Đã có một số nghiên cứu có tính chất chuyên
Trang 22đề như hoạt động thương mại ở KKTCK biên giới, thu hút đầu tư, hay là phát triển các dịch vụ trong KKTCK biên giới… Xung quanh các nghiên cứu về KKTCK biên giới, có thực tế là cùng đối tượng nghiên cứu nhưng do mục đích nghiên cứu mỗi chuyên đề không giống nhau, do đó có những cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu khác nhau Chính vì lẽ đó mà tồn tại những quan niệm không đồng nhất với nhau về KKTCK biên giới Ở đây, mới đề cập đến những quan niệm chưa phải là những khái niệm khoa học và cũng phải nhấn mạnh rằng đó là những quan niệm không đồng nhất nhưng không phải là quan niệm đối lập nhau Nhận thức về KKTCK biên giới còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng tựu chung lại hiện nay tồn tại hai nhóm quan niệm từ hai cách tiếp cận xem xét KKTCK đó là:
Thứ nhất: Từ góc độ quản lý nhà nước về kinh tế đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đề án quy hoạch phát triển KKTCK Việt Nam đến năm 2020 cho rằng: KKTCK là loại hình khu kinh tế, lấy giao lưu kinh tế qua cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính) làm nòng cốt, có ranh giới xác định, được thành lập bởi cấp có thẩm quyền, có cơ chế hoạt động riêng, mô hình quản lý riêng và có quan hệ chặt chẽ với khu vực xung quanh và nội địa phía sau [6]
Thứ hai: Từ góc độ nghiên cứu khoa học, đề xuất các biện pháp, giải pháp và kiến nghị với Chính phủ, các cấp chính quyền nhằm phát triển các KKTCK ở nước ta Ý kiến này cho rằng: KKTCK là một không gian kinh tế, gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện dựa trên cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ở đó nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội Mục đích thành lập KKTCK là ưu tiên phát triển thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ du lịch và công nghiệp [67]
Trang 23Quan niệm về KKTCK còn có sự khác biệt ở điểm này, điểm khác Song về nhận thức đối với KKTCK, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì đều thống nhất ở nội dung cơ bản Có thể xem đây là những hạt nhân hợp lý
để phát triển trong khái niệm KKTCK đó là:
- KKTCK, xác định một không gian kinh tế, tại địa điểm là các cửa khẩu biên giới diễn ra các hoạt động kinh tế có quan hệ với quốc gia có cùng chung biên giới và nội địa phía sau Như vậy, từ góc độ địa kinh tế KKTCK được xem như là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế và là động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại
- Đặc trưng hoạt động kinh tế của KKTCK chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: thương mại, xuất nhập khẩu, các loại hình dịch vụ (du lịch, tài chính ngân hàng…), đầu tư, xây dựng, gia công chế biến Đó là sự khác biệt với các khu kinh tế khác như KCN, KCX, khu công nghệ cao…
- Được các cấp có thẩm quyền thành lập và Nhà nước quản lý KKTCK bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể, trong những giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đối với mỗi đối tác nhất định Rõ ràng, KKTCK hình thành và đi vào hoạt động không phải là tự phát mà được
tổ chức quản lý bằng cơ chế, chính sách riêng Vì vậy, chất lượng hiệu quả hoạt động của KKTCK phụ thuộc rất nhiều vào trình độ năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước
Những nội dung trên, có thể nhận dạng, định hình được KKTCK, phân biệt KKTCK với các loại khu kinh tế khác giúp cho các cơ quan hoạch định chính sách có các cơ chế, chính sách thích hợp Tuy nhiên những quan niệm
đó không thể được coi là khái niệm khoa học Như chúng ta biết, một khái niệm hình thành là kết quả của quá trình trừu tượng khoa học Về nhận thức, khái niệm phải phản ánh được mặt bản chất, mối liên hệ bên trong có tính phổ
Trang 24quát và nó thể hiện được những đặc điểm đặc trưng những thuộc tính riêng có của sự vật đó, để nhận biết nó là cái gì và phân biệt nó với cái khác Hay nói cách khác đó là nội hàm của khái niệm
Ở đây đang xét đến nội hàm khái niệm KKTCK trong khuôn khổ của
đề tài nghiên cứu
- Trước hết, KKTCK là một phạm trù kinh tế nó phản ánh mặt nào đó của quan hệ sản xuất, đó là quan hệ tổ chức – quản lý Trong đó Nhà nước là chủ thể đại diện cho lợi ích của quốc gia tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế, đối tượng quản lý là quan hệ kinh tế đối ngoại Cần chỉ ra rằng, quan
hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế quốc tế không phải đồng nhất Quan
hệ kinh tế đối ngoại là bộ phận của quan hệ kinh tế quốc tế, đó là toàn bộ các quan hệ kinh tế, quan hệ thương mại, đầu tư, hợp tác sản xuất, chuyển giao khoa học, công nghệ… của nước ta với các nước khác và các tổ chức kinh tế quốc tế khác Còn quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ kinh tế giữa hai nước hoặc nhiều nước với nhau Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, các quốc gia không phân biệt trình độ phát triển, thể chế chính trị, ngày càng phụ thuộc vào nhau, thì các quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế quốc tế có mối liên hệ đan xen với nhau Như vậy, KKTCK là một hình thức tổ chức kinh tế thực hiện các quan hệ kinh tế đối ngoại trong điều kiện phát triển của LLSX quốc tế và nền kinh tế thị trường thế giới hiện đại Khái niệm KKTCK cũng như các KCN, KCX, KCN cao… đều thuộc phạm trù khu kinh tế, phản ánh quan hệ tổ chức quản lý đều là hình thức tổ chức kinh tế Nếu như KCN là hình thức tổ chức thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì KKTCK là hình thức thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta với các nước có cùng chung biên giới Trên ý nghĩa đó mà xét, thì quan niệm cho rằng: “KKTCK là loại hình của khu kinh tế” (thuộc nhóm ý kiến thức nhất),
Trang 25đã đến gần với khái niệm KKTCK nhưng chưa chỉ rõ nó phản ánh những quan hệ kinh tế nào
- Thứ hai, KKTCK là tổ chức kinh tế hoạt động trong một không gian kinh tế - xã hội tại các vùng cửa khẩu biên giới, xác định về phạm vi ranh giới
cụ thể Đó là không gian kinh tế mở, được xét trên hai phương diện: một mặt,
mở cửa giao lưu kinh tế, khoa học – kỹ thuật, đầu tư kinh doanh với quốc gia
có cùng chung biên giới; mặt khác, mở cửa tăng cường liên kết kinh tế với các ngành, các vùng, các miền của cả nước Như vậy, KKTCK xét về địa kinh tế, vừa có ảnh hưởng lan tỏa vừa có sự hội tụ của một trung tâm, đầu mối kinh tế Đồng thời, việc xây dựng phát triển các KKTCK ở nước ta hiện nay không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có tác động tích cực đến các mặt của đời sống chính trị - xã hội; giữ vững an ninh nơi biên giới và bảo vệ chủ quyền quốc gia Sự phát triển KKTCK gắn liền với quá trình đô thị hóa và hình thành các khu đô thị ở vùng cửa khẩu biên giới Xu hướng phát triển các khu kinh tế hiện đại trên thế giới hiện nay theo mô hình thành phố - trung tâm kinh tế; vừa tổ chức các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, dịch vụ vừa
tổ chức đời sống xã hội của bộ phận dân cư sinh sống trong các khu kinh tế nói chung và KKTCK nói riêng Ý kiến thứ hai cho rằng: “KKTCK có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống”, đó chỉ là những quy định của cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập KKTCK phù hợp với điều kiện cụ thể về thời gian, phạm vi, tính chất hoạt động của KKTCK Song về cơ bản KKTCK là không gian tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội
- Thứ ba, các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong các KKTCK lấy giao lưu kinh tế với các quốc gia có cùng chung biên giới làm nòng cốt: như
là thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh, các loại hình dịch vụ Có thể coi đây là đặc trưng cơ bản của KKTCK, phân biệt KKTCK với các KCN, KCX, khu công nghệ cao Do tính đặc thù của các hoạt động kinh tế, đòi hỏi
Trang 26phải có cơ chế, chính sách quản lý riêng cho các KKTCK Chúng tôi đồng tình chia sẻ với các tác giả, các cơ quan nghiên cứu quan niệm này về KKTCK Nhà nước quản lý các KKTCK bằng chiến lược, định hướng phát triển các KKTCK được thể hiện ở quy hoạch, kế hoạch của các cấp, các ngành và địa phương có cửa khẩu Trên cơ sở đó ban hành cơ chế, chính sách phù hợp với hoạt động kinh tế đặc thù của KKTCK Cơ chế hoạt động của KKTCK phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam đồng thời phù hợp với các thông lệ của luật pháp quốc tế và các cam kết quốc tế về thuế quan, tự do thương mại, xuất nhập khẩu… Các chính sách kinh tế được xem như là công cụ quản lý của Nhà nước Bằng các chính sách XNX, chính sách thuế, chính sách thu hút đầu tư… để bảo vệ sản xuất trong nước, khuyến khích sản xuất mặt hàng này, hạn chế mặt hàng khác, điều tiết phân phối lại, tăng thu cho ngân sách Nhà nước Tổ chức thực hiện các chính sách đó thông qua hoạt động của bộ máy phối hợp hoạt động của các bộ phận chức năng: quản lý thị trường với thuế vụ và hải quan Đồng thời tổ chức thanh tra, kiểm tra các hoạt động kinh tế tại KKTCK trong việc chấp hành các quy định của ngành, địa phương và pháp luật của Nhà nước
- Thứ tư, KKTCK với tư cách là hình thức tổ chức kinh tế, được Nhà nước lập ra nhằm mục đích nhất định Ngay từ khi lập đề án xây dựng KKTCK đã xác định rõ mục đích cụ thể hoạt động của KKTCK là gì, phương hướng, mục đích phát triển của nó như thế nào, sẽ là khiếm khuyết, thiếu hoàn chỉnh nếu trong khái niệm KKTCK không thể hiện rõ mục đích hoạt động của KKTCK Bởi vì, một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế là phải xác định đúng đắn, mục đích đạt được của hoạt động kinh tế đó trong cả quá trình hoặc từng giai đoạn nhất định Các biện pháp, chính sách kinh tế cụ thể nhằm đạt được các mục đích đã xác định Mục đích cơ bản, lâu dài hoạt động của KKTCK là thực hiện một cách có hiệu quả quan hệ kinh tế đối
Trang 27ngoại và phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương có các cửa khẩu biên giới Như chúng ta đã biết, chủ trương của Đảng ta trong hoạt động kinh
tế đối ngoại là: chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại Thực hiện các chủ trương trên hay nối liền các chủ trương thành hiện thực được tổ chức tự giác, thông qua hoạt động của KKTCK Đồng thời ở nước ta cửa khẩu biên giới ở những nơi xa các trung tâm kinh tế, văn hóa, kinh tế kém phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Mục đích xây dựng các KKTCK nhằm phát triển kinh tế
- xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, bảo vệ môi trường và bảo vệ chủ quyền quốc gia
Qua những phân tích trên về nội hàm khái niệm KKTCK, dựa trên sự
kế thừa phát triển những quan niệm của một số nhà nghiên cứu Tổng hợp lại theo quan điểm của tác giả về KKTCK như sau:
KKTCK biên giới là hình thức tổ chức kinh tế, phản ánh các quan hệ tổ chức – quản lý Đó là không gian kinh tế - xã hội gắn liền với cửa khẩu biên giới, trong đó diễn ra các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh và các loại hình dịch vụ được thực hiện bằng các cơ chế, chính sách riêng, nhằm nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại và phát triển bền vững khu vực cửa khẩu biên giới
Cách hiểu này nêu rõ hai vấn đề cốt lõi của KKTCK biên giới:
1) KKTCK biên giới là một không gian lãnh thổ về kinh tế, đồng thời cũng là không gian lãnh thổ về dân cư;
2) KKTCK lấy hoạt động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới làm hoạt động chính
Trang 28Ba là, phân biệt giữa KKTCK với các KKT khác: qua phân tích, có
thể nhận thấy các khái niệm về KKT tự do, KCN, KCX, khu công nghệ cao, khu thương mại – công nghiệp, khu phi thuế quan, khu hợp tác kinh tế biên giới, khu giao lưu kinh tế biên giới, cửa khẩu, khu vực quanh biên giới, KKTCK đều là các loại hình của KKT, chúng có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế, song về nội hàm thì đây là một khu vực không gian kinh tế với những chính sách ưu đãi riêng biệt nhằm khai thác các lợi thế so sánh, phát huy và kích thích phát triển kinh tế trên địa bàn, địa phương hoặc khu vực Có thể nêu khái quát những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa KKTCK với các loại hình KKT khác như sau:
- Giống nhau là ở chỗ, chúng được thành lập trên cơ sở quyết định của cấp có thẩm quyền với một số cơ chế, chính sách ưu đãi; có một không gian kinh tế hoặc một vị trí xác định; đều nhằm mục đích là thúc đẩy kinh tế của địa phương, vùng hoặc cả nước phát triển
- Khác nhau là ở chỗ, để thành lập KKTCK biên giới trước hết phải gắn với vị trí cửa khẩu; mục đích của KKTCK là ưu tiên phát triển thương mại, dịch vụ và công nghiệp; trong đó quan trọng nhất là hoạt động thương mại, dịch vụ Hoạt động KTCK chủ yếu là giao thương hàng hóa và du lịch qua cửa khẩu đất liền giữa hai nước (có thể đến cả nước thứ ba); thông qua phát triển kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng vùng biên giới Sự phát triển của KKTCK chịu sự tác động mạnh mẽ của khu vực kinh tế, chính sách biên mậu của các nước láng giềng có chung đường biên giới
1.1.1.2 Quan niệm về phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Trang 29Phần trên đã phân tích làm rõ nội hàm khái niệm KKTCK Bằng sự trừu tượng, KKTCK được xem xét trong trạng thái “tĩnh” mới có thể nhận biết được mặt bản chất, những thuộc tính vốn có quy định “nó là nó” để phân biệt KKTCK với các loại hình của KKT khác Nếu như khái niệm KKTCK là
gì, thì phát triển KKTCK là khái niệm phản ánh sự vận động biến đổi của nó diễn ra như thế nào Cho nên phát triển KKTCK được xem xét trong trạng thái “động”
Phát triển KKTCK là khái niệm phức tạp và còn khá mới mẻ, trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy, hầu như chưa từng có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Vận dụng phương pháp của kinh tế - chính trị Mácxít và những nguyên lý của kinh tế học phát triển, để xem xét sự phát triển KKTCK ở các khía cạnh sau đây:
Phát triển KKTCK, trước tiên đó là quá trình kinh tế được nhận thức tự giác, tổ chức không gian kinh tế thực hiện hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc gia có cùng chung biên giới Chúng ta biết, bất cứ quá trình kinh tế nào diễn ra đều chịu sự chi phối của các quy luật khách quan Song tính khách quan của quy luật không đồng nghĩa với tự phát và khách quan không có nghĩa là không có sự tham gia của con người Đặc điểm hoạt động của quy luật kinh tế thông qua hoạt động của con người và con người là thực thể có ý thức, nhận thức vận dụng tự giác, tổ chức hoạt động kinh tế phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế không được nhận thức vận dụng tự giác, thì quá trình kinh tế vẫn diễn ra nhưng mang tính tự phát như: “bàn tay vô hình” của A.Smith hay C.Mác cho rằng đó là “lực lượng đằng sau người sản xuất” F.Anghen còn gọi đó là “bà chủ quỷ quái”, nhưng khi đã hiểu được bản chất của nó, thì có thể biến nó thành “cô đầy tớ trung thành, ngoan ngoãn”
Do vậy, về nhận thức nếu cho rằng phát triển KKTCK là khách quan hay chủ quan, hoặc là thế này hoặc là thế kia ở hai thái cực đối lập nhau thì
Trang 30đều là phiến diện Theo cách hiểu như đã phân tích ở trên, phát triển KKTCK không còn là khái niệm trừu tượng nữa mà là quá trình kinh tế diễn ra trong hiện thực Đó là quá trình nâng cao trình độ, mức độ và chất lượng hoạt động KKTCK dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định về cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
xã hội, năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước, đường lối kinh tế đối ngoại, quan hệ với đối tác… Phát triển KKTCK là quá trình từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, đây là quá trình biến đổi
về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất hoạt động của KKTCK Điều đó có nghĩa là, không thể áp đặt một hình thức tổ chức quản lý khi chưa đủ những điều kiện cần thiết
- Phát triển KKTCK là sự mở rộng không gian kinh tế, tăng trưởng thương mại, kim ngạch XNK, tăng quy mô vốn đầu tư, tăng doanh thu các hoạt động dịch vụ: du lịch, tài chính ngân hàng, thương mại… Sự tăng lên
về quy mô, tốc độ, sản lượng đó gắn liền với chuyển dịch hoàn thiện cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế kinh tế Như vậy, hiểu phát triển KKTCK không chỉ đơn thuần tăng thêm về lượng của các bộ phận, các yếu tố Tuy nhiên phát triển KKTCK, trước hết phải là tăng trưởng thương mại, các dịch vụ, quy mô đầu tư, nếu không có tăng trưởng các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì không có phát triển Song không phải tất cả mọi sự tăng thêm về quy mô, tốc độ, sản lượng đều là phát triển, mà phát triển KKTCK
có nội hàm rộng hơn tăng trưởng các yếu tố hoạt động kinh tế Thực chất sự tăng thêm quy mô, tốc độ, sản lượng là quá trình tích lũy về lượng dẫn đến thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành tức là thay đổi cấu trúc (cơ cấu kinh tế) Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Phát triển KKTCK được thực hiện trong thể chế kinh tế nhất định Ở nước ta hiện nay, đang trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo đó, hoạt động kinh tế của các KKTCK vừa tuân theo
Trang 31nguyên tắc thị trường vừa chịu sự quản lý của Nhà nước Đảm bảo cho các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại cạnh tranh bình đẳng tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và những thông lệ quốc tế
- KKTCK là hình thức tổ chức thực hiện các quan hệ kinh tế đối ngoại Mục đích phát triển KKTCK là nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển không gian kinh
tế - xã hội bền vững khu vực của cửa khẩu biên giới, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo về chủ quyền quốc gia
Như vậy, phát triển KKTCK đó là quá trình nâng cao trình độ, mức độ,
chất lượng hoạt động của KKTCK dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định
Đó là sự mở rộng không gian kinh tế - xã hội, tăng trưởng thương mại, tăng thêm kim ngạch XNK, tăng doanh thu các loại dịch vụ… gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và phát triển bền vững khu vực cửa khẩu biên giới
Khái niệm phát triển KKTCK biên giới như trên làm rõ hai vấn đề: 1) Nội dung phát triển KKTCK là phát triển không gian lãnh thổ về kinh tế, không gian lãnh thổ về xã hội (dân cư) và hoạt động trung tâm là giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới
2) Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của KKTCK liên quan đến cơ chế, chính sách, tổ chức, quản lý phù hợp với vùng biên giới
1.1.2 Tính quy luật, điều kiện hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
1.1.2.1 Tính quy luật hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Trang 32Thứ nhất, trình độ phát triển càng cao của lực lượng sản xuất, nhu cầu trao đổi ngày càng mở rộng làm xuất hiện những hình thức tổ chức, trao đổi hoạt động kinh tế mới giữa biên giới các quốc gia
Khi lực lượng sản xuất phát triển làm cho các mối quan hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia Từ chỗ trao đổi tự nhiên trên cơ sở các sản vật sẵn có, thông qua các thời đại khác nhau, ngày nay cùng với xu thế phát triển chung thì sự trao đổi, buôn bán đó đã trở thành các hoạt động thương mại ở nhiều quy mô, tầng nấc khác nhau, từ trao đổi địa phương đến quy mô quốc gia, từ phạm vi nội bộ quốc gia đến giữa các quốc gia lân cận và xuyên quốc gia
Qúa trình trao đổi hoạt động kinh tế giữa các nước có cùng biên giới cũng thay đổi, phát triển, kể cả nội dung, quy mô và hình thức tổ chức, từ thấp tới cao
Về nội dung trao đổi, đầu tiên là trao đổi sản phẩm hàng hóa giữa biên giới các nước Song trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao, việc trao đổi không dừng lại ở trao đổi hàng hóa, mà còn trao đổi hoạt động dịch vụ, không chỉ hợp tác trao đổi thương mại (theo nghĩa hẹp) mà còn hợp tác sản xuất Quy mô dung lượng hàng hóa dịch vụ và sản xuất ngày càng lớn, phát triển
Để đáp ứng nhu cầu về trao đổi hợp tác kinh tế biên giới ngày càng tăng, hình thức tổ chức hoạt động trao đổi vì thế ngày càng phát triển, từ chỗ trao đổi tự phát, sang trao đổi có tổ chức, từ chỗ trao đổi qua các điểm (chợ) biên giới rải rác trên dọc đường biên đến chỗ hình thành các tụ điểm qua cửa khẩu và phát triển thành KKTCK biên giới
Tóm lại, sự hình thành và phát triển KKTCK biên giới là quá trình có tính quy luật Nó do yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội hóa sản xuất, của hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế
Trang 33Tính quy luật trên đây cũng giải thích cho sự hình thành các KKTCK biên giới Việt Nam Là một quốc gia có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với
ba nước: Trung Quốc, Lào và Campuchia, việc trao đổi, buôn bán hàng hóa của cư dân biên giới cũng như quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam với các nước này đã diễn ra từ rất lâu Ban đầu việc trao đổi, buôn bán, quan
hệ đó chủ yếu diễn ra theo hình thức tự phát
Sử sách ghi lại việc trao đổi hàng hóa biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc qua đường biên giới đã diễn ra từ rất sớm Sách “Cựu đường thư” của Trung Quốc ghi lại việc kinh lược sứ An Nam là Lý Trác năm 845 sai người đưa muối lên Lâm Tây (Hà Giang ngày nay) đổi lấy trâu, ngựa của người ô man (Vân Nam hiện nay), mỗi con trả một đấu muối Thời Lý đã xuất hiện những trung tâm buôn bán biên giới lớn gọi là “Bắc dịch trường” để nhân dân và lái buôn hai nước đem hàng hóa đến trao đổi và chính quyền hai nựớc cũng có khi phái sứ giả đến mua các hàng hóa cần thiết Theo Hoàng Xuân Hãn trong cuốn khảo cứu “Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao, kinh tế thời Lý”, có 4 bác dịch trường lớn trên biên giới là: Trại Vĩnh Bình (Khu vực Bằng Tường – Lạng Sơn ngày nay); Trại Hoàng Sơn trên đất Trung Quốc về phía Đông Bắc Cao Bằng, nơi tụ tập các lái buôn từ xa đến như Vân Nam, Quý Châu…; Sách Nam Giang thuộc trại Cổ Vạn, Trung Quốc, giáp Châu Tô Mậu (Hải Ninh) của Việt Nam; Bác dịch trường lớn nhất là Khâm Châu, người Việt
Nam đến đây theo đường thủy để trao đổi hàng hóa
Sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi đời Tống (quyển 5) có chép về trao đổi Trung - Việt tại trại Vĩnh Bình thời đó như sau: “người Giao chỉ đến Vĩnh Bình đều đi đường bộ, những hàng hóa họ đem đến bán đều quý, nhỏ, nhẹ, chỉ có muối là nặng nhưng có thể đổi lấy vải sản xuất ở huyện Vũ Duyên, Ưng Châu”
Trang 34Thời Trần, sử cũng ghi lại việc Hoàng Phi của Trần Anh Tông là Nguyệt Ảnh (sau được thờ là bà chúa muối) là người trực tiếp nắm quyền trao đổi muối tại biên giới qua đường Lào Cai với khu vực Đại Lý (nay là Vân Nam)
Thời Nhà Minh, theo tác giả Trần Văn Giáp trong cuốn lịch sử Trung Quốc, phía Trung Quốc đã lập ra các “quân điền” để khai khẩn các khu vực biên giới Việt - Trung bằng quân đội, đồng thời với việc lập các thương điền” tại khu vực này để chiêu mộ lái buôn đến khi khai thác các nguồn lợi đặc biệt
và thu hút các mặt hàng thiết yếu cho khu vực Tây Nam – Trung Quốc, triệt
để khai thác các hàng hóa từ phía Việt Nam như một nguồn cung ứng tại chỗ quan trọng
Sử sách đã chỉ rõ, các triều đại Trung Quốc đã tạo ra được một hệ thống buôn bán biên giới đa mục tiêu ngay trên đất Việt Nam Đó là hệ thống các đô thị đủ cỡ mà cư dân hầu hết là thương nhân người Hoa nắm giữ hoạt động của các chợ buôn bán, phát luồng phân phối Đó là các đô thị Móng Cái (Hải Ninh - Quảng Ninh), Đồng Đăng (Lạng Sơn), Lào Cai (Lào Cai), Phó Bảng (Đồng Văn – Hà Giang) mà cho tới nay vẫn là các khu vực cửa khẩu giao thương xung yếu trên dải biên giới Việt – Trung
Ngày nay, dưới tác động của sự phát triển kinh tế thị trường, của hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu trao đổi hoạt động kinh tế, thương mại, du lịch qua biên giới càng phát triển, không những giữa biên giới Việt Nam với Trung Quốc mà còn với hai nước cận kề sát cánh là Lào và Campuchia Mỗi quốc gia đều có những đặc điểm và lợi thế riêng: Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, kinh tế với Việt Nam, là thị trường tiềm năng và chiến lược không những của Việt Nam mà còn cả nhiều nước khác trên thế giới; Lào và Campuchia tuy là nước nhỏ song lại có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và
Trang 35đảm bảo quốc phòng an ninh của Việt Nam và nhiều nước khác Cả 4 quốc gia này đều nằm trong khu vực tiểu vùng sông MêKông mở rộng, đang có nhiều mô hình, chương trình hợp tác phát triển chung như mô hình các khu kinh tế nằm ở khu vực sát biên giới; các dự án về giao thông trên tuyến hành lang Đông – Tây trên cơ sở dòng chảy tự nhiên của dòng sông MêKông, các
dự án thuộc hai hành lang, một vành đai (hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; hành lang Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội - Hải Phòng; vành đai kinh tế vịnh Bắc bộ) Đến nay, tại khu vực biên giới nước ta với Trung Quốc, Lào và Camphuchia đã hình thành lên 26 KKTCK [6]
Thứ hai, hội nhập kinh tế - xu hướng tất yếu của thời đại làm tăng nhu
cầu trao đổi hoạt động kinh tế giữa các nước
Thời gian qua, thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn cầu Song hành với thực tế đó là các công ty xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính to lớn và khả năng công nghệ dồi dào đang ngày càng gia tăng hoạt động Những yếu tố đó, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổ chức lại thị trường trên toàn thế giới Nói một cách khác, hai yếu tố này thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, toàn diện
Quá trình và kết quả toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự xung đột về lợi ích giữa các nước, các nhóm nước, đồng thời là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự thế giới mới hợp lý hơn, công bằng hơn Mặc dù vậy, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn tiến về phía trước, như một tất yếu khách quan, bởi động lực bên trong nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà lực
Trang 36lượng sản xuất lại không ngừng phát triển và càng ngày càng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn
Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ dịch chuyển tự do từ nước này sang nước khác, nên sự phân công lao động ngày càng sâu sắc, diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu Từ thực tế này, đặt ra vấn đề về đối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thế thời đại, hoặc tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, hoặc đứng ngoài tiến trình đó Tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, song cơ hội cũng rất nhiều Không tham gia vào tiến trình đó, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ Điều quan trọng hơn nữa, quốc gia nào không tham gia tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì quốc gia
đó sẽ không có địa vị, tư cách bình đẳng trong việc bàn thảo và xây dựng các định chế quốc tế, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình
Nhận thức được tình hình đó, nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả các nước trước đây vẫn thực hiện “bế quan, tỏa cảng” đã tiến hành cải cách, đổi mới kinh tế, mở cửa với bên ngoài, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng Nhờ đó, kinh tế các nước này đã có những bước phát triển vượt bậc, tốc
độ tăng trưởng liên tục tăng cao, mà điển hình là Trung Quốc và Ấn Độ – hai quốc gia đang nổi lên thành những trung tâm kinh tế lớn cùng với Mỹ, EU và Nhật Bản Do vậy, cần phải khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế, xu thế tất yếu của thời đại ngày nay làm tăng nhu cầu trao đổi hoạt động kinh tế giữa các nước trên thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế lôi cuốn hầu hết các quốc gia
và vùng lãnh thổ vào nền kinh tế thế giới dựa trên cơ sở phân công, hợp tác
Trang 37quốc tế Đó là quá trình phản ánh trình độ xã hội hóa cao của LLSX đã vượt khỏi phạm vi ngành, lĩnh vực sản xuất hay một quốc gia, nay đã mang tính quốc tế Hình thành các mối liên hệ kinh tế đa dạng, đan xen, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế Tóm lại, sự hình thành và phát triển KKTCK biên giới là quá trình kinh tế mang tính khách quan, xuất phát từ yêu cầu của quá trình xã hội hóa sản xuất,
từ hợp tác kinh tế, trên cơ sở phát huy thế mạnh tận dụng các cơ hội phát triển của mỗi quốc gia
1.1.2.2 Điều kiện hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Có thể khái quát những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của KKTCK như sau:
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật và kinh tế - xã hội ở khu vực
biên giới phải phát triển đến trình độ nhất định
KKTCK là khu kinh tế được xác định trong phạm vi nhất định, có thể xem đó là không gian kinh tế mở Khác với các khu công nghiệp, khu chế xuất, vị trí của KKTCK ở các cửa khẩu trên đường biên giới với các nước và phạm vi của KKTCK không có ranh giới rõ ràng, trong hàng rào và ngoài hàng rào như khu công nghiệp, khu chế xuất
Vị trí địa lý của các cửa khẩu ở xa các trung tâm kinh tế, kinh tế kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp canh tác truyền thống, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn Do đó, để hình thành các KKTCK phải quan tâm tới phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đường giao thông Chúng ta biết rằng, quá trình hình thành các KKTCK là do nhu cầu phát triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia, trước hết là nhu cầu về trao đổi hàng hóa ngày càng tăng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, các hoạt động kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh về quy mô, tốc độ, cơ cấu
Trang 38chủng loại hàng hóa Lúc đầu là những thương vụ riêng lẻ, quy mô nhỏ, được thực hiện “trọn gói” ở tất cả các khâu từ tìm hiểu thị trường, khai thác mặt hàng, vận chuyển bảo quản, giao dịch, thanh toán… Khi các hoạt động thương mại khu vực cửa khẩu gia tăng mạnh, kéo theo hàng loạt dịch vụ, hỗ trợ phục vụ cho việc buôn bán như: dịch vụ tư vấn pháp luật, tư vấn thị trường, dịch vụ quảng cáo, vận chuyển kho bãi, dịch vụ ngân hàng – tài chính…Tất cả các loại hình dịch vụ đa dạng này trở thành đối tượng kinh doanh có tính chuyên nghiệp cao Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cạnh tranh với nhau nâng cao chất lượng dịch vụ và cung cấp dịch vụ ngày càng hoàn hảo hơn KTCK phát triển đòi hỏi phải xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội tương ứng Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, bến bãi, kho tàng với các phương tiện vận tải bảo quản hiện đại, công suất lớn Hệ thống mạng thông tin với các đường truyền đáp ứng yêu cầu thông tin chính xác, kịp thời, bảo mật an toàn cho doanh nghiệp về tình hình thông tin, giá cả, giao dịch, hợp đồng với đối tác… Như vậy, hệ thống kết cấu hạ tầng, kinh tế đồng bộ được xem là tiền đề vật chất cho sự phát triển của KKTCK Nó nối kết các vùng kinh tế trọng điểm, kinh tế động lực, kinh tế trong nước với nước ngoài hình thành các hành lang kinh tế Đồng thời với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, kinh tế diễn ra quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội Các khu dân cư, đô thị mới mọc lên đáp ứng nhu cầu đời sống về ăn, ở, khám chữa bệnh, học hành, giải trí của các tầng lớp dân cư trong KKTCK
Quá trình xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế – xã hội có sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Một cơ cấu kinh tế của KKTCK được hình thành vận động, đó là cấu trúc kinh tế tổng hợp theo ngành, thành phần kinh tế và khu vực kinh tế Tính quy luật chuyển dịch cơ
Trang 39cấu kinh tế của KKTCK là các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh các ngành sản xuất vật chất ngày càng giảm Trong ngành dịch vụ cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng các ngành dịch vụ ngân hàng – tài chính và dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ phục vụ sinh hoạt ngày càng tăng, dịch vụ phục vụ hoạt động thương mại ngày càng giảm Tóm lại: Sự hình thành, phát triển KKTCK làm xuất hiện những ngành nghề mới và cơ cấu kinh
tế đặc thù Quá trình xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội tạo tiền
đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa và hiệu quả
Như vậy, để xây dựng KKTCK, phải xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mà trước hết là hệ thống đường giao thông Tất nhiên, cũng cần thấy rằng, hệ thống
cơ sở hạ tầng cũng được hoàn thiện dần theo đà phát triển của KKTCK Hoạt động kinh tế tại KKTCK càng tăng, nhu cầu về cơ sở hạ tầng phục vụ KKTCK càng cao, đòi hỏi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội càng hoàn thiện hơn
Thứ hai, sự phát triển hoạt động thương mại ở khu vực cửa khẩu biên
giới ngày càng tập trung quy mô lớn tất yếu dẫn đến việc phân công, chuyên môn hóa và hình thành KKTCK
Như chúng ta đã biết sản xuất hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế mà các quan hệ kinh tế được thực hiện dưới hình thức quan hệ hàng hóa – tiền tệ, nó
là loại hình kinh tế có tính lịch sử, tồn tại gắn liền với với một số phương thức sản xuất Sự phát triển của sản xuất hàng hóa có thể chia thành các giai đoạn:
Giai đoạn đầu ở trình độ thấp gọi là sản xuất hàng hóa giản đơn
Giai đoạn sản xuất hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi mà các quan
hệ hàng hóa – tiền tệ trở thành phổ biến và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa đã phát huy đầy đủ tác dụng của nó, gọi là kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hóa giản đơn tồn tại trong nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất phân tán quy mô nhỏ dựa trên lao động thủ công, việc sản xuất ra sản
Trang 40phẩm để trao đổi nhằm mục đích giá trị sử dụng khác Quan hệ hàng hóa – tiền tệ chưa trở thành hình thái thống trị phổ biến và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa tác động ở phạm vi hẹp và mức độ còn hạn chế
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa giản đơn các hoạt động buôn bán qua biên giới diễn ra một các tự phát, ngẫu nhiên, lẻ tẻ, quy mô nhỏ Việc trao đổi mua bán hàng hóa diễn ra phổ biến ở các chợ vùng biên Hàng hóa là nông sản phẩm và các sản phẩm tiêu dùng cho cá nhân, đó là những sản phẩm ngoài phần sản phẩm cần thiết được trao đổi tại chỗ Người sản xuất đồng thời là người thực hiện trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của mình Điều đó có nghĩa là sản xuất hàng hóa giản đơn chưa có sự phân công lao động giữa các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, giữa sản xuất và lưu thong; chưa có sự chuyên môn hóa giữa hoạt động thương mại và hoạt động sản xuất
Rõ ràng, ở trình độ của sản xuất hàng hóa giản đơn, được xem xét từ góc độ phát triển kinh tế thì sự hình thành KKTCK chưa trở thành “tất yếu” kinh tế
Song sự phát triển kinh tế là một quá trình từ thấp đến cao, là sự biến đổi cấu trúc kinh tế tuân theo các quy luật kinh tế khách quan và hình thức kinh tế của giai đoạn trước là tiền đề, là điều kiện cho hình thức kinh tế của giai đoạn sau Dưới tác động các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Trước hết là quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động Cạnh tranh đẩy mạnh quá trình tích lũy, tích tụ tập trung vốn và tích tụ tập trung sản xuất Sản xuất quy mô lớn ra đời dựa trên nền công nghiệp đã tạo ra bước phát triển mới về chất của lực lượng sản xuất Sản xuất phát triển ngày càng tập trung dựa trên cơ sở ứng dụng thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật tất yếu dẫn đến quá trình phân công lại lao động xã