* Truyền tải tín hiệu Audio: Tín hiệu audio đƣợc điều chế để truyền tải với một sóng mang theo cách sao cho các biên tần sóng audio không chồng lấp lên biên tần trên của tín hiệu video đ
Trang 1PHẦN I GIỚI THIỆU VỀ TRUYỀN HÌNH
CHƯƠNG I:
CÁC NGUYÊN TẮC VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH
1.1.TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ CAMERA:
Vô tuyến truyền hình là gì ? Tạm dịch là “ television” là từ ghép của “tele” tiếng Hy Lạp có nghĩa là “ xa” và “vision” tiếng LaTin có nghĩa là “thấy” Vô tuyến truyền hình có thể được định nghĩa như một hệ thống cho phép ta thấy được vật tĩnh
hay động ở một nơi xa nào đó nhờ vào năng lượng điện
Kỹ thuật truyền hình bao gồm 3 công đoạn chính : Kỹ thuật truyền hình bao gồm 3 công đoạn chính :
Hình cảnh
1.Đầu đọc 2 Đầu chép 3 Đường truyền
TỔNG QUAN VỀ CAMERA: Nhiệm vụ của camera là đổi ánh sáng của cảnh thành ra dòng điện tín hiệu hình hay video Video sau đó được ghi vào băng , dĩa hay truyền phát , phân tán đi khắp nơi Đặc điểm hoạt động : + Sử dụng camera trước hết là sử dụng ống kính , mang cả tính kỹ thuật ( màu sắc , ánh sáng , độ nhạy , độ nét ) lẫn tính nghệ thuật (cự ly thu hình , góc cạnh )
Trang 2
+ Camera là nơi đầu tiên xác lập các thông số cho việc truyền hình , mà người ta gọi là “tiêu chuẩn “ ,”hệ” , hay “dạng thức truyền hình “ (TV Standard ,
TV system , TV format )
+ Sau khi ra khỏi camera , video đi xuyên qua nhiều nơi , nhiều chỗ chỉ
có thể xấu dần đi chứ không thể nào tốt hơn lên được Nói khác đi chất lượng kỹ thuật hình đã được quyết định đầu tiên ngay tại camera
+ Camera hiển nhiên cũng là một máy điện tử với bộ nguồn , các mạch điện và điều chỉnh v v Giống như mọi máy điện tử khác , ngày nay đều có sự tham dự hoàn toàn hoặc một phần kỹ thuật số Một vi xử lý được trang bị để điều phối hoạt động của toàn máy , ghi nhớ các trạng thái đã điều chỉnh , báo lỗi khi có trở ngại v v Một màn hình tìm cảnh (view finder ) gắn ngay trên camera , giúp
có thể lập tức kiểm tra hình thu được
Sơ đồ khối của camera:
Một khi một bức ảnh hoàn chỉnh được đổi sang một tín hiệu điện, nó được thay đổi xuất hiện trên màn ảnh có độ sáng tương đương với độ sáng trung bình của toàn bộ bức ảnh Phương pháp tái tạo này là phương pháp quét lần lượt điểm Theo phương pháp này, hình ảnh được chia nhỏ thành các phần tử ảnh và chúng được chuyển thành dòng điện từ trái sang phải màn ảnh
Trang 31.2 TÍN HIỆU VIDEO:
Ánh sáng thu từ camera được chuyển sang dạng tín hiệu điện có biên độ tương ứng với độ chói Tín hiệu này sau khi ghép với tín hiệu đồng bộ, tín hiệu xóa tạo nên tín hiệu video
Các dòng quét ngang được chuyển đổi thành tín hiệu điện Biên độ của tín hiệu lớn ứng với các vùng sáng và nhỏ ứng với các vùng tối của hình ảnh Khi không có tín hiệu nào được tạo ra ở giữa các dòng quét ngang, một tín hiệu đồng bộ ngang để chỉ sự bắt đầu của quét ngang được cộng vào để xác định ranh- biên của mỗi dòng quét Thời gian không có tín hiệu ở giữa mỗi dòng quét ngang được gọi là thời gian xóa ngang Trong khoảng thời gian này, tia electron của CRT quay về cạnh trái của màn ảnh (chùm tia tắt trong suốt thời gian xóa)
Thời gian từ lúc hoàn tất sự quét của một ảnh đến lúc bắt đầu sự quét ảnh kế tiếp gọi là thời gian xóa dọc Một tín hiệu đồng bộ dọc được cộng vào trong suốt thời gian để chỉ sự bắt đầu của một ảnh Các tín hiệu đồng bộ ngang và dọc cho phép việc quét cùng nhau hoàn toàn ở hai bên phát và thu Quá trình này gọi là sự đồng bộ
1.3 SÓNG VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH:
Sóng vô tuyến truyền hình là tổng hợp của sóng video và sóng audio Để tránh sự can nhiễu giữa hai tín hiệu này, người ta điều chế biên độ đối với tín hiệu video và điều chế tần số đối với tín hiệu Audio
Để truyền tải tín hiệu video dưới dạng sóng điện, tần số của sóng mang cần phải gấp hơn 10 lần tần số lớn nhất của tín hiệu video Vì lý do này, người ta dùng các sóng mang có tần số thuộc dải VHF hay UHF
Tín hiệu video điều chế biên độ với một sóng mang Nếu điều chế sao cho biên độ của tín hiệu đã điều chế là cực đại ứng với tín hiệu đồng bộ, và cực tiểu ứng với biên độ lớn của tín hiệu video thì quá trình điều chế này gọi là điều chế âm
Tín hiệu đã điều chế có biên độ của các tần số tín hiệu ở trên và dưới tần số sóng mang như ở hình 1 Nói cách khác , dãy tần số của tín hiệu đã điều chế lớn gấp hai lần dãy tần số của tín hiệu video (gọi là các biên tần)
Trang 4* Truyền tải tín hiệu Audio:
Tín hiệu audio đƣợc điều chế để truyền tải với một sóng mang theo cách sao cho các biên tần sóng audio không chồng lấp lên biên tần trên của tín hiệu video đã điều chế (Hình 1.2)
Tín hiệu audio đƣợc điều chế tần số với một sóng mang có tần số tuỳ thuộc vào hệ truyền hình
PC:sóng mang hình
CC:sóng mang màu
SC:sóng mang tiếng
Trang 5Có hai loại màu trong thực tế: màu của nguồn phát ánh sáng như mặt trời, bóng đèn và màu của ánh sáng phản xạ từ một vật thể ví dụ như bức tranh hay ly bẩn Nhưng thông thường và ở trong luận văn này, khi nói đến màu là đề cập đến màu của vật thể
1.5 CÁC THUẬT NGỮ TRONG TRUYỀN HÌNH MÀU:
Người ta nghiên cứu thấy rằng bất kỳ màu nào cũng có ba thuộc tính đã nêu trên là sắc màu , độ bão hoà ,độ sáng(độ chói) Các thuộc tính này chỉ định thông tin
về màu Độ bão hoà chỉ mức độ hay cường độ của màu Độ chói chỉ độ sáng hay mức độ sáng của màu trong hình ảnh đen – trắng
Trắng: ánh sáng trắng xem là hỗn hợp của đỏ, lam và lục theo một tỉ lệ xác
định Một ánh sáng trắng chiếu qua lăng kính có thể cho nhiều màu như các màu ở
K Đó
là màu trắng hơi lam (bluish), giống như ánh sáng ban ngày
Sắc màu: màu tự thân nó là sắc màu, lá cây màu lục có sắc màu lục; tảo đỏ
có sắc màu màu đỏ, v.v Ta có thể nhận ra được màu của bất kì vật thể nào nhờ sắc màu của nó Mắt người cảm nhận sắc màu khác nhau là do các bước sóng của áng sáng khác nhau sẽ tạo ra cảm giác về sắc màu khác nhau
Độ bão hòa: Các màu bão hòa thì rất chói, mạnh (intense) Các màu tái hay
yếu có độ bão hòa ít Độ bão hòa xác định mức độ của màu bị làm nhạt đi bởi màu
Trang 6trắng Ví dụ như :màu đỏ rực rỡ là màu bão hòa Khi màu đỏ này bị làm nhạt bởi màu trắng sẽ tạo ra màu hồng (pink): đó chính là màu đỏ chưa bão hòa Các màu bão hòa không có màu trắng
Chrominance: thuật ngữ dùng cho tổ hợp cả sắc màu và độ bão hòa Ơ
Tivi màu, tín hiệu 3,58MHz hay 4,43MHz là tín hiệu chrominance Nói cách khác, chrominance bao gồm tất cả thông tin màu ngoại trừ độ sáng Tín hiệu chrominance còn gọi là tín hiệu chroma hay tín hiệu C Ta có thể tóm tắt như sau :
- Tín hiệu C: gồm cả các tần số biên trên và dưới sóng mang phụ màu
Ví dụ : nếu fsc=3,58MHz thì dải tần số này chủ yếu từ 3,08 đến 4,08 MHz
- Tín hiệu video R- G- B: gồm các tần số dải nền từ 0- 0,5MHz
- Tín hiệu hiệu màu R- Y, B- Y và G- Y: gồm các tần số dải nền từ 0- 0,5MHz
Độ chói (luminance): độ chói xác định mức độ cường độ của ánh sáng Ơ
hình ảnh trắng- đen, các phần sáng hơn có độ chói lớn hơn là ở các vùng tối Các màu khác nhau có mức độ chói khác nhau Ơ Tivi màu, thông tin chói ở tín hiệu chói: Y Tín hiệu này chứa tin tức về độ sáng của ảnh
Sự tương hợp: Tivi màu tương hợp với Tivi trắng- đen do dùng các tiêu
chuẩn quét giống nhau và tín hiệu chói cho phép các máy thu đơn sắc có thể tái tạo lại hình ảnh đen -trắng từ tín hiệu phát hình màu Hơn nữa, các máy thu hình màu
có thể thu tín hiệu đơn sắc và tạo ra hình ảnh đen- trắng
Sóng mang phụ màu: ở Tivi màu, tin tức màu điều chế với tín hiệu sóng
mang phụ màu 3.58MHz hoặc 4,43MHz (làm tròn) Và các tín hiệu có tần số này gọi là sóng mang phụ màu
Trang 7Dựa vào (hình 1.5) ,ta thấy rằng, mắt người cảm nhận ánh sáng có bước sóng 555 nm và lân cận có độ sáng nhiều nhất Trong ba màu cơ bản, màu lục là màu sáng nhất (0,59), kế đến là đỏ (0,3) và lam là màu tối nhất (0,1)
Để thu được tính hiệu chói tỉ lệ với độ nhạy cảm của mắt người, người ta tạo ra camera sao cho tín hiệu ra có thành phần chói là:
Như đã đề cập, trong truyền hình màu quảng bá, tín hiệu chói được truyền đi để tương hợp với hệ truyền hình đen- trắng đã tồn tại trước đó và hiện còn đang sử dụng
Như vậy, ta có thể liệt kê các tín hiệu thành phần trong tín hiệu truyền hình
- Tín hiệu chói: phản ánh thông tin về độ chói của hình ảnh có dải tần từ 0÷ 4MHz (ECC) hay 0÷ 6M ( ORT)
- Tín hiệu màu: các tin tức về màu sắc của hình ảnh
- Tín hiệu xóa: dùng để xóa các đường hồi dọc và đường hồi ngang
- Tín hiệu đồng bộ: dùng để đồng bộ việc quét dọc và việc quét ngang Tín hiệu đồng bộ là phần của tín hiệu video nhưng chúng xảy ra ở thời gian xóa, khi không có tín hiệu hình ảnh
- Tín hiệu audio: phản ảnh thông tin về âm thanh
- Ngoài ra còn các tin tức khác trong thời gian xóa dọc và các tín hiệu khác
Trang 81.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN DẪN TÍN HIỆU TRONG
b/ truyền trực tiếp từ nơi phát đến nơi thu :
Phương thức này áp dụng cho những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng Antenna phát có thể nhìn thấy Antenna thu
c/ Truyền sóng qua đài chuyển tiếp :
phương thức này được dùng ở những nơi xa đài phát có địa hinh phức tạp đồi núi che lấp , Antenna phát không thể nhìn thấy Antenna thu
d/Truyền qua vệ tinh :
phương thức này dùng ở những nơi đài phát qua xa đài thu , công suất đài phát có hạn Antenna phát không nhìn thấy Antenna thu Qua vệ tinh đặt cách xa mặt đất
Antenna thu Antenna phát
Truyền trực tiếp
Vệ tinh
Trang 9f(hz) = 1/T (s) Sóng có tần số hàng nghình hec trở lên được gọi là sóng vô tuyến
Bước sóng bằng đường mà sóng truyền đi được trong một chu kỳ sóng :
f ) (
*T m V
Trang 10CHƯƠNG 2:
CÁC DẠNG THỨC VIDEO TƯƠNG TỰ
2.1/ TÍN HIỆU ĐEN LĨE (BLACK BURST):
Tín hiệu Đen Lĩe là gì?
Tín hiệu Đen lĩe (Black Burst =BB) cĩ thể cĩ được video ra từ camera, sau khi đĩng kín nắp ống kính lại Như vậy, BB là video khơng chứa bất kỳ tin tức (thay đổi) nào của cảnh.Nĩi khác đi, BB là video mang tất cả thuộc tính bất biến của hình, chẳng hạn một hình cĩ bao nhiêu dịng? Một giây cĩ bao nhiêu dịng?
Khung sáng trên tồn màn ảnh khi ấy sẽ tối đen, tương ứng với mức nền, hay mức đen nhất của video(Pedestal, Ymin) tức chỉ hơi sáng lên một chút so với tắt hẳn Khi mở nắp ống kính ra ánh sáng của cảnh tràn vào bia, lập tức các chỗ tối đen sáng lên bởi các chi tiết của cảnh, tương ứng với mức nền của video được thay bởi các điện áp thuộc cảnh như chĩi, sắc, trừ màu…BB như vậy là “cái sườn” cố định, chung cho tất cả các tin tức thay đổi thuộc cảnh bám vào Nĩi khác đi, mọi loại video tương tự (RGB, Y, u, v, C, PAL, NTSC …)đều bám trên “cái sườn” BB chung
BURST
Đồng bộ ngang
BLACK=mức nền Ymin Mức xóa 0V
BLACK-BURST
OUT (BB)
OUT (VIDEO ) Đóng nắp
VIDEO Ymin
Mức xóa 0V
Đồng bộ ngang
Mở nắp
Trang 11“Burst” hay “Lĩe” (màu) là chỉ tin tức cĩ ở truyền hình màu Ở TV đen trắng khơng cĩ “Burst” mà chỉ cĩ “Sync” tức xung đồng bộ tổng hợp (Composite Sync), hay “Sync-Black” vì đĩ là Sync + mức nền Ymin.TV màu cần phải cĩ “Burst” để tạo màu, nên “Sync” luơn đi chung với “Burst” để cĩ “Sync-Burst”
Trong các chương truyền hình , người ta rất cần cĩ những lúc trên màn ảnh khơng cĩ hình.Do “Black” thường được thay bằng màn ảnh “Blue” Video của màn ảnh “Blue” là tín hiệu BB với mức nền Ymin được thay bằng sĩng mang màu (chrominance) xanh lơ
Cũng như BB, nguồn gốc của Sync, Sync-Black, Sync-Burst, Blue… đều
khơng phải từ cảnh, mà từ xung đồng bộ tổng hợp (Composite Sync), của bộ tạo xung đồng bộ(Sync Generator), hay bộ tạo Sync-lĩe(Sync Burst
Generator).Chẳng hạn tín hiệu BB được camera tạo ra bắt đầu từ bộ tạo Sync lĩe trong hay bên ngồi máy.Tín hiệu Blue được bộ chuyển mạch và kỹ xảo
video(Video Switcher,Video Effect) tạo ra, cũng từ bộ tạo Sync Lĩe bên trong hay
bên ngồi máy
2.2/ TÍN HIỆU MÀU THÀNH PHẦN Y, R-Y, R-Y (COMPONENT VIDEO
Y, R-Y, B-Y):
Tín hiệu chĩi hay tín hiệu hình đen trắng Y: Sau khi cĩ được tín hiệu màu gốc RGB tín hiệu hay tín hiệu đen trắng Y được ma trận X suy ra theo phương trình :
CAMERA
video OUT (Black Burst)
Đóng kín
nắp ống kính
S.B.GEN
Composite SYNC
1 2 3 4 5 6 7 8
S.B.GEN VIDEO SWITCHER & EFFECT
BLUE
VIDEO out SW.8 BLUE
VIDEO IN
….
CAM 1
CAM 2 CAM 3
Hình2.2 :Nguồn gốc BB, Blue… đều bắt đầu từ bộ tạo xung đồng bộ
Trang 12Các hệ số 0.3 ,0.59, 0.11 có được do thực nghiệm Cảm giác màu trắng của mắt người do tham gia cùng lúc của ánh sáng đỏ 30%, ánh sáng lá cây 59%
W
11 30 41 59 70 89
Trang 13Kết quả, dạng sóng Y của bảng sọc màu như hình trên Với cảnh màu bất kỳ,
Y lên xuống từ mức trắng nhất Y max= 0.7V = 100%IRE, đến mức đen nhất Ymin
= 0.5%IRE theo kiến nghị của chuẩn 525/6
Ta có nhận xét với cùng cường độ sáng của bảng chuẩn sọc mùa, màu trắng
W có độ chói cảm giác sáng tối chủ quan của mắt người cao nhất kể là 100% kế đến
độ chói của màu vàng I = 89% và thấp nhất độ chói màu lơ B = 11% Kết quả này ứng dụng thường xuyên trong việc phối chí màu sắc ở mọi nơi (studio, sân khấu, thời trang đồ họa…) Chẳng hạn viết trên giấy trắng 100% phải dùng mực đen 0% hoặc mựa xanh lơ 11% chứ không ai viết mực vàng 89% trên giấy trắng 100%
- Tín hiệu trừ màu R-Y và B-Y: Sau khi tách riêng tin tức đen trắng Y, hai tin tức còn lại, tức hai điện áp trừ màu R-Y và B-Y, nói lên tính chất màu sắc của hình Nói khác đi, cứ mỗi màu bất kỳ, được xác định bởi một trị điện áp của R-Y và một trị số điện áp của B-Y
Đem Y= 0.3R + 0.59G + 0.11B thay thế vào R-Y và B-Y ta có:
Phương trình (1) và (2) có thể suy ra R-Y, B-Y ngay từ RGB
Tương tự tín hiệu chói, tín hiệu trừ màu cũng có sáu tin tức ; trong đó ngoài Black Burst, tin tức thứ sáu nói lên độ đậm nhạt hay độ bão hòa của màu Thật vậy,
R phản ánh cường độ sáng của riêng màu đỏ Y phản ánh lượng sáng tổng cộng Như vậy nếu R-Y càng lớn,thành phần R càng có nhiều hay màu đỏ càng đậm, càng bão hòa cao Tương tự cho B-Y.Vậy khi màu bão hòa (đậm) tối đa, R-Y và B-Y có các giới hạn nào
G=-59 C=-70
B=89 M=59 C=30 W=0
Y=-89 G=-59 R=-30
BLKG 0V SYNC -40%
BLKG 0V SYNC -40%
Y
Trang 14Chú ý các biên độ trên hình phản ánh trị số tối đa, vì màu trên các sọc màu đều bão hòa tối đa Trong thiên nhiên, độ bão hòa màu thường kém, vì luôn bị ít nhiều ánh sáng trắng lẫn vào Theo đó thành phần Y (trong R-Y và B-Y) cao lên, làm R-Y
và B-Y thấp xuống Cảnh càng gần màu trắng hay ánh sáng trắng lẫn vào càng nhiều, độ bão hoà càng kém , biên độ R-Y, B-Y tương ứng càng nhỏ và ngược lại
Ở cảnh trắng (ánh sáng trắng lẫn vào hoàn toàn, hay độ bão hòa =0), R-Y và B-Y cũng =0, hay không còn nữa
Hình cũng cho ta thấy quãng biến thiên của R-Y là 70% và của B-Y là B-Y là 89% Vẫn bằng cách tính tương tự, ta có thể vẽ dạng sóng của điện áp trừ màu G-Y với quãng biến thiên 41% Tuy nhiên, G-Y không cần có mặt trong tín hiệu màu thành phần, vì chỉ cần có R-Y và B-Y thôi, đầu thu có thể suy ra G-Y như sau:
Y = 0.3R +0.59G+0.11B
Y = 0.3(R-Y) +0.59(G-Y) + 0.11(B-Y) + Y G-Y = -1/0.59[0.3(R-Y) + 0.11(B-Y)]
G-Y =-51.8%(R-Y) - 18.6%(B-Y)
2.3/ TÍN HIỆU MÀU CHÓI_SẮC Y*C:
Tín hiệu màu chói sắc, chói (luminance) hay Y, vẫn là Y của tín hiệu thành phần,với sáu tin tức, như vừa nói trên Riêng hai điện áp trừ màu R-Y và B-Y, (hay u,v), nhập chung với nhau để thành một điện áp gọi là tín hiệu sắc, hay sóng mang màu, ký hiệu C (Chrominance C) Tín hiệu màu chói sắc như vậy, đơn giản chỉ còn hai điện áp (Y và C), thuận lợi để ghi lên một số loại băng từ SVHS (Super Video Home System), nên còn gọi là S.Video
2.4/ TÍN HIỆU MÀU TỔNG HỢP:
- Các tin tức trong tín hiệu hình màu tổng hợp
Trong tín hiệu hình màu tổng hợp, hay video tổng hợp (composite video), toàn bộ các tin tức của hình (Y, C, BB …)đều “gói gém” trong một điện áp tín hiệu duy nhất Thực tế đây là kết quả cộng nhập chung tín hiệu sắc C với tín hiệu chói Y Do
có ba loại tín hiệu sắc NTSC, PAL, SECAM, nên cũng có có 3 loại video tổng hợp
là NTSC, PAL và SECAM
Trang 15Như vậy video tổng hợp NTSC chứa tất cả 8 tin tức, gồm 5 tin tức bất biến của BB + tin tức chói Y + 2 tin tức của màu V, o Tương tự video tổng hợp PAL cũng có 8
màu).Riêng video tổng hợp SECAM có 9 tin tức (5 của BB+1 của chói Y + 2 của sắc là fmR, fmB + 1 nhận dạng dọc), trong đó lóe màu cũng là tin tức(1 dòng foR,
1 dòng foB)
Video tổng hợp của bảng chuẩn sọc màu PAL và NTSC:
- Video tổng hợp của bảng chuẩn sọc màu, “video sọc màu”, hay vắn tắt “sọc màu”(color bar), là video có biên độ tối đa, tương ứng với màu của các sọc đã bão hòa và có cường độ sáng tối đa Ơ một đường truyền nào đó, nếu video sọc màu không bị méo, nén hay dãn…, sau đó mọi sự cũng ổn với các video của cảnh bất kỳ Chính vì vậy, video sọc màu là tín hiệu thử được sử dụng nhiều nhất, như ghi thử các băng từ, phát thử ở đầu chương trình truyền hình, truyền và nhận thử các đường liên lạc video…
- Video sọc màu 100%(Tín hiệu màu 100%): Đem tín hiệu
chói Y của bảng chuẩn sọc màu, cộng chung với tín hiệu sắc C(V,), C(V, ) cũng bảng chuẩn sọc màu, ta có video tổng hợp sọc màu 100%, hay vắn tắt sọc màu 100% Gọi là 100% vì bảng sọc màu đại diện cho các màu có cường độ sáng tối đa (100%), có độ bão hòa tối đa (100%), nên các mức trên hình cũng thể hiện các trị tối đa Ta có nhận xét trong video tổng hợp màu 100%, mức cao tối đa có thể lên đến +0.933V (133%), mức thấp tối thiểu -0.233V (-33%)
+
Hình 2 6 : Video Tổng hợp = Y + C
Composite Video ( PAL - NTSC - SECAM ) Luminance Y
Chrominance C
( PAL - NTSC - SECAM )
Trang 16Video sọc màu 75%(tín hiệu màu 75%) :
- Hầu hết các thiềt bị đường hình, đặc biệt các máy phát (transmitter), thường thiết
kế hoạt động với tín hiệu chỉ 1V đỉnh đỉnh ( từ mức Sync-0.300V đến mức Ymax +0.700V, hay từ –40% đến +100% IRE) Mức Sync lúc nào cũng bất biến = -0.300V Tín hiệu sọc màu 100%có bất tiện, mức cao tối đa có thể vọt lên giới hạn Ymax=+0.700V (+0.826V ở màu G và +0.933V ở màu C và Y) Chính vì vậy, trừ một vài trường hợp đặc biệt cần thử, còn lại người dùng bảng chuẩn sọc màu 75%, hay “màu 75%” hơn.Ngoại trừ sọc trắng vẫn giữ nguyên mức sáng tối đa ( giữ nguyên biên độ tín hiệu màu gốc R, G, B), tương ứng với mức chói Ymax=0.700V (100%IRE); tất cả các sọc màu còn lại đều chỉ lấy 75% biên độ R, G, B.Theo đó , tất cả các mức tương ứng của video tổng hợp sọc màu 75%, ( hay sọc màu 75%), chỉ còn 75% trị số tối đa, tức cao hết cỡ +0.700V(sọc C và Y) như hình 2.7
B
R
M
G C Y
Trang 17Thuận lợi của video tổng hợp:
Video đen trắng(Y) Máy thu đen trắng(Xử lý Y)
Máy thu màu (Xử lý Y) (xử lý Y, xử lý C)
HÌNH ĐEN TRẮNG HÌNH ĐEN TRẮNG
HÌNH ĐEN TRẮNG HÌNH MÀU Video tổng hợp(Y +C)
Video đen trắng(Y) Máy thu đen trắng(Xử lý Y)
Máy thu màu (Xử lý Y) (xử lý Y, xử lý C)
HÌNH ĐEN TRẮNG HÌNH ĐEN TRẮNG
HÌNH ĐEN TRẮNG HÌNH MÀU Video tổng hợp(Y +C)
Hình 2.8: Tính tương hợp giữa truyền hình màu và truyền hình đen trắng
Thuận lợi đầu tiên của video tổng hợp là sự tương tác (compatible) giữa truyền hình màu và truyền hình đen trắng Cĩ thể nĩi, đây là lý do phải nghiên cứu ra video tổng hợp màu Vào thập niên 50, khơng thể vì khai sinh ra truyền hình màu, mà bắt hàng triệu máy thu đen trắng, (đã “ chào đời” từ trước), phải vứt đi Nhờ video tổng hợp, các máy thu đen trắng vẫn tiếp tục làm việc được, nhưng tất nhiên chỉ cĩ thể
xử lý Y (của video tổng hợp) để tạo hình đen trắng, mà khơng cĩ phần xử lý C để tạo màu Ngược lại các máy thu màu xử lý Y và xử lý C của video tổng hợp để tạo hình màu, cũng xử lý được riêng Y của video đen trắng để tạo hình đen trắng Tĩm lại, máy thu đen trắng đều hoạt động được với cả video tổng hợp (Y+C) lẫn video đen trắng (Y)
Thuận lợi nữa của video tổng hợp là tiện dụng Thật vậy, chỉ với một đường dây duy nhất, (dây video out, RF Out của các VCR chẳng hạn), đã cĩ thể truyền đầy đủ tất cả các tin tức của hình màu Chính vì vậy, gần như 100% video tại nhà(video Home), kể cả một số trong studio chuyên nghiệp, đều sử dụng video tổng hợp Do được dùng rộng rãi như thế, người ta thường nĩi “video” để chỉ “video tổng hợp”, trong lúc các loại video khác, đều gọi đủ tên như “Video thành phần”, “Video RGB”…
Hình
2 9
Trang 18Bất lợi của video tổng hợp:
1 Suy giảm chất lượng kỹ thuật hình (suy giảm độ nét):
Bên cạnh hai thuận lợi trên, Video tổng hợp lại làm suy giảm chất lượng kỹ thuật hình, dễ thấy nhất là suy giảm độ nét Theo hình 160, để máy thu đen trắng cũng nhận được video tổng hợp, dải tần video tổng hợp phải y như dải tần video đen trắng Nói khác đi, phải đem C nhập chung vào Y trong chính dải tần của Y (hình 2.9) Khu vực tần số cao của Y, (chung quanh 4.43MHZ, PAL) thường không mạnh
do giới hạn dải thông, nay lại bị sóng mang màu với biên độ có thể cao đến
trở nên lài hơn, các mũi nhọn trở nên tròn trịa… Ở các Y và C tình cờ ngược nhau,
sự cộng chung làm cả hai bị triệt tiêu Nếu trùng pha, không bị triệt tiêu, lại bị đẩy lên mức cao hoặc cực thấp, là khu vực có thể bị nén hay cắt ngọn của đường truyền Kết quả sau cùng làm nhòe các cạnh, bờ, hay giảm độ nét hình; cùng với các loại sai lạc (các méo) tương đối giữa Y và C sau mỗi lúc nhập vào, tách ra… Ấy thế mà thực tế tại các VCR, Y và C đã bị nhập vào, tách ra, nhiều lần; chưa kể một lần nhập vào bắt buộc tại máy phát và một lần tách ra bắt buộc trong máy thu
Mặt khác, vẫn (hình 2.9) cho thấy sau khi cộng chung C và Y, có một khoảng tần số chưng quanh 4.43 MHz, được dùng chung cho cả Y lẫn C Như vậy, rõ ràng Y (hình đen trắng) đã bị các tần số của C lẫn vào phá rối Ngược lại tín hiệu sắc C (màu của hình) cũng bị các tần số của Y trong khu vực 4.43MHz (thí dụ PAL) lẫn vào phá rối Dù cả PAL, NTSC, SECAM đều có những biện pháp để mắt không thể nhận các phá rối này, nhưng nhìn chung vẫn là tăng nhiễu, tăng nhấp nháy(flicker)…
Dải tần của Y Dải tần của C Dải tần của Y + C
Hình : Dải tần Video tổng hợp ( Y + C ) chính là dải tần của Y
4 43 MHz
2.10
Trang 192 Xuyên lẫn của Y vào C:
Trong thực tế, sự phá rối của Y vào C (phá rối của Y vào chất lượng màu của hình) không đáng kể, vì lên đến tần số cao cỡ 4.43MHz, biên độ Y thường không còn nhiều Do ngẫu nhiên, tần số cao của Y liên tiếp phá rối C ở mọi pha bất kỳ (mọi màu bất kỳ) nên ảnh hưởng chung vào mắt bị vô hiệu hóa Kết quả sau cùng Y chỉ khiến màu trên hình bị thêm chút nhiễu màu, nhưng khả năng quan sát về màu mắt lại rất kém cỏi
3 Xuyên lẫn của C vào Y:
Ngược lại sự phá rối của C vào Y (phá rối của C vào độ chói hình) rất đáng nói, vì mắt người rất tinh tế với sáng tối Ở cảnh màu, biên độ C thường xuyên có mặt,
thức hoạt động của Y, đỉnh dương của C đã cộng vào Y gây trên màn ảnh một chấm sáng và đỉnh âm gây một chấm tối đa; hay hình đen trắng bị C phá rối dưới dạng một “tạp” Cả NTSC, PAL, SECAM đều đã phải có các biện pháp thích hợp để vô hiệu hóa, hay sao cho mắt không nhận ra sự phá rối này
Ở các hệ cũng có thể vô hiệu hóa các dạng tạp của C và Y Nếu như NTSC dùng phương pháp xen kẽ phổ thì PAL do sóng mang màu của PAL cũng là điều biên nén vuông góc như NTSC , nên cũng có thể vô hiệu hóa dạng tạp của C và Y, bằng cách
bố trí cho các điểm chớp tắt giống như NTSC Còn SECAM là sóng điều tần (FM) không thể tìm tần số mang màu thích hợp và các chấm tối không chịu đứng yên, do tần số điều tần thay đổi, vì vậy để vô hiệu hóa tạp C và Y, SECAM phải đảo pha sóng FM từng dòng một
chung vào C ở các pha
bất kỳ xen kẽ phổ của NTSC và H 2 12 : Phương pháp
PAL
Trang 20AnalogY*C Video(pal, ntsc, secam)
Analogcomposite Video(pal, ntsc, secam)
G
B
Y
R-YB-Y
Y
C
Trang 21CHƯƠNG III NHU CẦU ĐẶT RA CHO VIỆC ĐẦU TƯ XE TRUYỀN
HÌNH LƯU ĐỘNG CẤP TỈNH-KHU VỰC
1/Định Hướng Phát Triển Của Ngành Truyền Hình
a/Vài nét chung phát triển truyền hình ở Việt Nam :
Vô tuyến truyền hình việt nam ra đời chậm so với khu vực và thế giới Miền bắc bắt đầu phát sóng năm 1970 phát thử nghiệm theo hệ OIRT với các thiết bị tự lắp và cải tạo Vào năm 1972 nhập xe truyền hình lưu động của Ba Lan và một máy phát kênh 6/300W, lắp đặt ở Hà Nội phát thử một tuần ba buổi
Từ năm 1980 đến 1991 phát chính thức hệ màu SECAM
Từ năm1991 ta chuyển sang phát truyền hình màu hệ PAL-D/K
Hiện nay đang tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể đài truyền hình Việt Nam đến năm 2010, trong đó số hoá là mục tiêu quan trọng trong thập kỷ đầu của thế kỷ
21
Vấn đề phát sóng số vào những năm gần đây được đặc biệt quan tâm và áp dụng thực hiện như : truyền hình phát sóng số mặt đất (DVB – T) , truyền hình phát sóng
số vệ tinh (DVB – S), truyền hình viba phát sóng mặt đất (MMDS) , hiện nay cũng
đã phát triển truyền hình theo kỹ thuật DTH “direct to home” còn gọi truyền hình vệ tinh trực tiếp đến nhà , cũng là truyền hình phát qua vệ tinh cho phép hộ gia đình nhận trực tiếp từ vệ tinh một cách dể dàng và phải trả tiền cho một số kênh hay Ngoài truyền hình số hệ thống truyền hình Việt Nam còn sử dụng hệ thống truyền hình qua dây dẫn, tức chương trình thu từ vệ tinh không qua anten phát để bức xạ ra không gian ,mà chuyển đến người xem thông qua đường dây ở phạm vi hẹp có hệ thống SMATV “Satellite Master Antenna Television”và ở phạm vi rộng
có hệ thống CATV (Community Antenna Television) hệ thống này cho phép khán giả xem được nhiệu chương trình qua vệ tinh hơn giải pháp qua trạm phát lại
Từ những nghiên cứu và qua so sánh Việt Nam đã chọn phương pháp truyền hình phát sóng số mặt đất theo tiêu chuẩn DVB – T
Tính ưu việt của phát sóng mặt đất : phát được nhiều chương trình riêng biệt
trên cùng một kênh , có từ 5 đến 8 chương trình hay hơn nữa ,tuỳ thuộc vào kỹ thuật
Trang 22nén tín hiệu và công nghệ của thiết bị tính hơn hẳn này (kể cả về hiệu quả kỹ thuật-chất lượng cao ,về hiệu quả kinh tế phát triển chương trình ) rất thuận tiện cho việc quy hoạch mạng phát sóng số mặt đất công suất máy phát sóng số không cần lớn như máy phát sóng tương tự (cùng một diện phủ sóng) vì mức cường độ trường cần ở điểm thu thấp hơn nhiều so với tương tự Quá trình truyền tải tín hiệu không
bị suy hao, tín hiệu thu chất lượng tốt không hề nhiễu, người ta sử dụng máy thu không cần phải điều chỉnh anten vì nó có thể tự phát và tự sửa lổi đường truyền máy thu số đặt trên các phương tiện di chuyển liên tục vẩn thu tốt , ít bị ảnh hưởng của vật chắn
b/Lộ trình chuyển đổi sang mạng phát sóng số mặt đất :
Tiếp tục duy trì phát sóng analog hiện đã có và đang đầu tư theo kế hoạch 80%
số hộ dân có máy thu số
Giai đoạn 1 (2000-2001): nghiên cứu lựa chọn tiêu chuẩn phát sóng số, ban hành tiêu chuẩn phát sóng số
Giai đoạn 2 (2002-2004) : chấm dứt đầu tư mở rộng phát sóng tương tư vào năm
2003 ban hành tiêu chuẩn phát sóng số, quy hoạch tần số phát sóng số
Giai đoạn 3 (2004-2006) : phát sóng số (song song phát sóng tương tự) tại thành phố HCM và Hà Nội
Giai đoạn 4 ( 2006-2008) : phát sóng số tại 4 điểm khác trong mạng quốc gia ,dự kiến ở Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh
Giai đoạn 5 ( 2008-2010) : phát sóng số tại 4 điểm khác nữatrong mạng quốc gia
Tiếp tục duy trì phát triển và sử dụng truyền hình theo các phương thức như sau : DVB-T , DVB-S , MMDS , SMATV , CATV , DTH
Vấn đề đặt ra trong tương lai là ngành truyền hình sẽ được mở rộng hơn và cũng
có thể được xem như là dịch vụ cung cấp theo đúng nhu cầu của người xem chương trình ngoài ra còn áp dụng trong một số lĩnh vực khác như : điện thoại, internet, dữ liệu ……vv đặc trưng là công nghệ DTU “direct to users”
c/Mục tiêu phát thanh truyền hình cấp tỉnh đến năm 2010 :
-Hiện đại hoá phát thanh truyền hình của đài tỉnh trên cơ sở “quy hoạch truyền hình Việt Nam” theo tiêu chuẩn chất lượng và công nghệ số
Trang 23-Từng bước nâng cấp chất lượng thiết bị và đổi mới thiết bị sản xuất chương trình truyền hình để hoà nhập với chất lượng tín hiệu truyền hình quốc gia
-Phấn đấu thực hiện sản xuất chương trình truyền hình ,làm tin trực tiếp nhằm nâng cao chất lượng và thời lượng chương trình
-Cải tiến công nghệ trong toàn bộ hệ thống ,từ ghi,dựng, truyền dẩn và phát sóng, để theo kịp su hướng phát triển của kỹ thuật truyền hình
-Vấn đề hàng đầu hiện nay đối với nghành truyền hình là mở rộng vùng phủ sóng , tăng chất lượng và thời lượng chương trình Truyền hình cấp tỉnh đã đảm bảo việc phủ sóng toàn tỉnh với cường độ trường theo chuẩn quốc tế CCIR hiện nay, đài phát sóng cầp tỉnh đã phủ sóng trên toàn tỉnh với cường độ trường mạnh , nhưng thời lượng chương trình còn hạn chế Vì vậy cần phải tăng cường việc sản xuất chương trình đưa các hoạt động của tỉnh và của các huyện thường xuyên lên sóng truyền hình Do đó cần phải thiết kế xe truyền hình lưu động và thiết bị sản xuất chương trình cho đài cấp tỉnh
d/Vài nét tiêu biểu của đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh :
Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (HTV) là đài do nhà nước quản lý trực thuộc uỷ ban nhân dân TPHCM ,bắt đầu phát sóng từ ngày 1/5/1975 HTV phủ sóng
ở TPHCM và các tỉnh lân cận, HTV hiện phát sóng trên hai kênh : kênh 7 và kênh 9 (kỹ thuật tương tự – Analog).ngoài ra HTV còn phát sóng bốn kênh : HTV1, HTV2, HTV3, HTV4 ( kỹ thuật số- digital) kênh 7 là kênh thông tin ,giải trí, quảng cáo Kênh 9 là kênh tập trung các chương trình khoa giáo HTV1 là kênh thông tin công cộng HTV2 là kênh thể thao HTV3 là kênh thiếu nhi HTV4 là kênh khoa học giáo dục HTV có hãng phim truyền hình(TFS) chuyên sản xuất chương trình phim truyện và phim tài liệu Trung tâm dịch vụ truyền hình (TSC) là đầu mối liên hệ dịch vụ và quảng cáo Trung tâm sản xuất chương trình (PPC) trung tâm truyền hình cáp (HTVC) mang đến cho khán giả các chương trình trong nước và nước ngoài với chất lượng ổn định , các chương trình phục vụ người xem gồm có tin tức khoa học ,giáo dục, chuyên đề, thể dục thể thao, phim truyện, ca nhạc sân khấu , giải trí với công nghệ hiện đại đang từng bước chuyển sang công nghệ kỹ thuật số
và một nguồn nhân lực giỏi, HTV là một trong hai đài truyền hình lớn của việt nam
Trang 242/Vai Trò Của Đài Truyền Hình
Đài truyền hình là cơ quan ngôn luận của đảng bộ chính quyền và nhân dân, đồng thời cũng là diển đàn của quần chúng nhân dân lao động, đảm bảo tuyên truyền phổ biến sâu rộng mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, phản ánh kịp thời các mặt hoạt động chính trị ,kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá khoa học xã hội của cấp tỉnh
Đảm bảo chất lượng thông tin trên nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị văn hoá xã hội, đảm bảo thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác theo nhịp độ phát triển của tỉnh, khu vực
Giữ vững phát huy vai trò, là công cụ đắc lực của đảng, chính quyền và nhân dân tỉnh trên mặt trận văn hoá tư tưởng và phát triển kinh tế xã hội
Tăng thời lượng chương trình phát sóng, đảm bảo nội dung ngày càng phong phú, hấp dẫn, không ngừng đáp ứng, thảo mãn nhu cầu thông tin, góp phần nâng cao dân trí
Mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đều mang nét đặc thù tiêu biểu của một tỉnh, đang trên đà phát triển Vấn đề phục vụ thông tin đại chúng cho một tỉnh là phải đảm bảo cho nhân dân tiếp thu được đầy đủ chủ trương đường lối của đảng, nhà nước thành hiện thực, thành phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân Đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân với chinh quyền và đảng
Truyền hình trong tương lai thực sự là một phương tiện cực kỳ hữu ích cho đời sống con người trong giải trí và công việc , với sự phát triển khoa học công nghệ truyền hình công nghệ cao sẽ trở thành thực sự trong tương lai không xa
Ngoài ra phát thanh truyền hình đã áp dụng nhu cầu của toàn thể nhân loại trong việc cập nhật thông tin ,thời sự thể thao, thời tiết, học tập và phần lớn các dịch vụ
âm thanh, hình ảnh
Ngày nay truyền hình cũng được xem như là dịch vụ cung cấp chương trình theo yêu cầu của người sử dụng và thông tin quảng cáo bằng công nghệ truyền hình cáp (DVB-C) , truyền hình có tính tiền đến nhà theo yêu cầu thông qua vệ tin (DTH = direct to home)
Trang 25Phát thanh truyền hình đóng góp rất quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội khi nó là phương tiện thông tin kinh tế, văn hoá, khoa học Làm nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thân của nhân dân
3/ Sự Cần Thiết Đầu Tư Xe Truyền Hình Lưu Động
Truyền hình là phương tiện thông tin đại chúng có hiệu quả cao, là công cụ tuyên truyền rất sắc bén của đảng và nhà nước trong mặt trận văn hoá tư tưởng với khả năng truyền nhanh trong không gian rộng lớn và có sức truyền cảm mạnh Truyền hình thực hiện nhiệm vụ chính trị là làm công cụ tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước sâu rộng trong nhân dân truyền hình còn đóng góp phần rất quan trọng vào việc phát triển kinh tế – văn hoá – khoa học, làm nâng cao dân trí đời sống văn hoá tin thần của nhân dân Vì vậy trong thời gian qua đảng và nhà nước đả quan tâm sâu sắc và dành một sự đầu tư thích đáng để phát triển truyền hình Việt Nam cả về kỹ thuật, công nghệ và nhân lực
Mặt khác : trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ như hiện nay trên thế giới đang ở giai đoạn phát triển cao Công nghệ truyền hình đang ở giai đoạn chuyển từ công nghệ tương tự sang công nghệ số Với kỹ thuật số và kỹ thuật nén tín hiệu (Video and Audio comprestion) ta có thể sử dụng kênh sóng có hiệu quả cao , truyền nhiều đường Video và Audio trên một kênh sóng, lưu trữ Video và Audio nhiều hơn trong bộ nhớ Truyền hình có độ phân giải cao HDTV/ATV đang dần thay thế truyền hình thông thường và định hướng phát triển kỹ thuật của nghành truyền hình trong các năm tới, áp dụng các công nghệ hiện đại (công nghệ số, tin học….vv) để giúp công tác làm tin, làm chương trình nhanh gọn kịp thời nâng cao chất lượng âm thanh hình ảnh và nghệ thuật của chương trình đạt đến tiêu chuẩn quốc tế
Chương trình phát thanh truyền hình và lập trình thời lượng phát sóng được thực hiện và điều khiển bằng máy vi tính, như là hệ thống Master control Audiomation system hãng Vistek Electronic, Anh quốc nó có thể cho phép xác định chương trình phát thanh truyền hình trước hàng tháng rất chính xác
Trang 26Những phát triển của công nghệ phát thanh truyền hình trên thế giới đã có tác động sâu sắc đến ngành truyền hình nước ta, làm cho công nghệ truyền hình nước ta
nhu cầu cấp bách đó là : việc đầu tư “Xe truyền hình lưu động ” nhằm phục vụ
cho công tác làm tin và chương trình truyền hình
Trước xu hướng xã hội hóa báo chí nói chung và ngành truyền hình trong cả nước nói riêng Ban Giám Đốc Đài Truyền Hình TP Hồ Chí Minh đã mạnh dạn đầu
tư và từng bước hoàn thiện hệ thống phim trường di động để đáp ứng được nhu cầu phản ánh một cách kịp thời, trực tiếp và sinh động nhất trong mọi hoạt động thời sự, văn hóa xã hội giáo dục, thể dục thể thao … Với chủ trương hết sức hợp lý, năm
1995 phòng lưu động đã được thành lập, trong thời gian đầu còn nhiều khó khăn thử thách đến nay phòng có 6 chiếc xe đi thu hình do chính các kỹ thuật viên của phòng lắp ráp
Nhìn chung cả nước thì chỉ có một số ít các Đài truyền hình đầu tư xe thu hình lưu động như :TH VĨNH LONG có 1 xe, TH VŨNG TÀU có 1 xe, TH BÌNH DƯƠNG có 2 xe , TH BẾN TRE có 1 xe…
Trang 274/Vai trò của Dự An Đầu Tư “Xe Truyền Hình Lưu Động” :
- Nâng cao tính linh hoạt trong việc thu hình các chương trình ngoại cảnh :
Có những chương trình không thể đưa vào phim trường được ví dụ như: các live show ca nhạc, buổi trình diễn thời trang, các cuộc thi đấu thể thao, mitting trước đông đảo quần chúng, hoặc một cuộc duyệt binh lớn, v.v… Nếu chỉ cử một vài cameramen đi thu hình sau đó về dựng lại và phát sóng thì phải mất ít nhất mấy ngày Điều này sẽ làm mất đi yếu tố thời sự, mất đi tính quan trọng nóng bỏng của sự kiện
- Nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động truyền hình:
- Truyền hình cũng là một thể loại báo chí, do đó tính chất kịp thời là rất quan trọng làm sao để tin tức, những sự kiện nóng bỏng có thể truyền đi nhanh nhất đến với mọi người đang quan tâm
- Tiết kiệm chi phí một cách đáng kể
Đối với các chương trình phải dàn dựng trong phim trường thì chi phí dàn dựng rất tốn kém, thêm vào đó mỗi cảnh chỉ được sử dụng một lần Ngược lại khi
sử dụng xe màu thì sẽ tiết kiệm đáng kể các chi phí trên Hơn nữa với đội ngũ biên tập, đạo diễn, kỹ thuật viên camera lành nghề thì khi sự kiện kết thúc cũng đồng thời có luôn một cuốn băng chương trình hoàn chỉnh chuẩn bị phát sóng
Trang 28PHẦN II TÌM HIỂU KẾT CẤU THIẾT BỊ KỸ THUẬT CỦA 1
XE TRUYỀN HÌNH LƯU ĐỘNG
1.Vai trò chức năng của một xe truyền hình lưu động:
Xe truyền hình lưu động như là một trung tâm truyền hình thu nhỏ với đầy đủ các thiết bị thu nhập thông tin (camera , micro….), hệ thống xử lý tín hiệu (Video mixer, Audio mixer, thiết bị cấy chữ…) , lưu trữ (VTR,…) và trung tâm sản xuất chương trình chịu trách nhiệm về chất lượng kỹ thuật bao gồm hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, các thiết bị kỹ thuật đảm bảo cho việc sản xuất chương trình tốt Hệ thống hoàn toàn có thể đáp ứng bất kỳ nhu cầu chương trình nào truyền hình trực tiếp hay ghi hình xử lý hậu kỳ sau đó … Toàn bộ hệ thống được thiết kế sắp đặt trên một xe chuyên dụng với hệ thống điện lạnh hoàn chỉnh cho phép đội làm việc có thể hoạt động dài ngày và di chuyển thường xuyên trên những chặng đường dài
Xe truyền hình lưu động sản xuất chương trình phối hợp với tất cả biên tập chương trình, kỹ thuật viên âm thanh, camera man,Video man và đạo diễn … qua
hệ thống Intercom nhằm quản lý và khai thác hệ thống hiệu quả nhất
Xe truyền hình lưu động nhằm để nâng cao khả năng ( thời lượng, chất lượng
và tốc độ ) làm tin, sản xuất các chương trình trực tiếp, lưu động; tăng thời lượng và chất lượng chương trình truyền hình
Hệ thống thiết bị đồng bộ mang tính mở, đáp ứng được nhu cầu trước mắt là
để sản xuất chương trình quy mô từ nhỏ đến trung bình và có thể mở rộng nâng cấp
để thực hiện các chương trình lớn khi cần thiết
Hệ thống thiết bị mang tính tương ứng thích nghi với các thiết bị kỹ thuật tương tự hiện có, và khả năng thay thế cho nhau được
Trang 29b/ kết cấu thùng xe chuyên dụng :
Xe truyền hình có kết cấu thùng xe đặc chủng phục vụ cho công tác truyền hình Do đó được thực hiện trên cơ sở tổng hợp các yêu cầu thực tế sử dụng , khả năng mở rộng nâng cấp trong tương lai và đặc thù thực hiện các chương trình vừa
và nhỏ Trên thùng xe có các phần sau :
- Phòng công tác cách âm, cách nhiệt và chống cháy
- Hệ thống cửa và thang ra vào cho từng khoang làm việc
- Hệ thống đèn chiếu sáng 220VAC có giảm sáng
- Hệ thống đèn chiếu sáng 12/24VDC
- Hệ thống điều hoà nhiệt độ và ống dẫn hơi lạnh đến từng khoang làm việc
- Hệ thống tủ, giá đở thiết bị và các khay trượt để máy theo đúng tiêu chuẩn
- Hệ thống bàn làm việc để các thiết bị điều khiển Video/Audio và ghế ngồi cho đội làm việc
- Hệ thống điện động lực 220VAC với biến thế cách ly 220/220SAC, máy phát điện và cầu dao đảo điện
- Hệ thống rãnh đi dây tín hiệu để kết nối hệ tổng giữa các khoang làm việc
- Patch panel thực hiện giao tiếp với tín hiệu in out Audio/Video
- Các khoang đựng thiết bị trong thùng xe
- Máy phát điện 220VAC/10KVA
- Khoang để máy phát điện, máy điều hoà cách âm để chống rung
- Hệ thống thả khói và nhiệt của máy phát điện và máy điều hoà nhiệt độ
- Hệ thống chân chống cố định cân bằng xe lúc làm việc
- Hệ thống phân phối điện 220VAC đến các khoan làm việc với đồng hồ chỉ báo và cầu dao tự động
- Hệ thống ổn định(220VAC) đủ công suất cung cấp cho hệ thống lạnh, hệ thống thiết bị điện tử
Kết cấu xe thùng chuyên dụng này được sản xuất tai Việt Nam đạt chất lượng quốc tế vối giá thành rẻ hơn rất nhiều lần
Trang 302 Các khối chính của xe truyền hình lưu động
Trong xe truyền hình lưu động các khối chức năng sau đây khơng thể thiếu trong việc thiết kế kỹ thuật và phối hợp các khối này sao cho đạt hiệu quả cao
BỘ PHẬN THĂNG BẰNG
MÁY BIẾN THẾ
BỘ PHẬN THĂNG BẰNG
KỆ ĐIỀU KHIỂN AUDIO KỆ ĐIỀU
KHIỂN VIDEO
RACK CẮM THIẾT BỊ
KHOAN ĐỰNG CAMRERA
BẢNG PHÂN CHIA NĂNG LƯỢNG THIẾT KẾ BÊN TRONG XE MÀU
HỆ THỐNG ĐƯỜNG DÂY
Hình 3.1: Vài nét chính của xe truyền hình lưu động
Trang 31Sơ đồ khối chức năng của xe truyền hình lưu động:
Hình 3.2 : Sơ đồ khối truyền dẩn xe truyền hình lưu động
a Chức năng các khối của xe truyền hình lưu động:
Trong xe truyền hình lưu động các khối chức năng sau đây không thể thiếu trong việc thiết kế kỹ thuật và phối hợp đồng nhất các khối này sao cho hiệu quả.Khối 1.1 Camera:
Trong toàn bộ kỹ thuật truyền hình, camera thực hiện công đoạn đầu tiên là khối rất quan trọng tạo nên một số các nguồn tín hiệu hình ảnh Nhiệm vụ của camera là đổi ánh sáng của cảnh thành ra dòng điện tìn hiệu hình hay tín nhiệu video.Video sau đó được ghi vào băng, đĩa…hay truyền phát phân tán đi khắp nơi Camera để thu hình lưu động hay thu hình ngoài trời Loại camera này có đẳng cấp chất lương tương đương với các studio camera Cấu tạo gồm hai phần camera
và CCU, nhưng CCU nằm ttong phòng máy của xe truyền hình lưu động Đặc điểm
Đài Truyền Hình
Đường truyền viba
Cảnh
Xe truyền hình lưu động Đường truyền vệ tinh
Vi tính
Trang 32đã có sẵn một số khả năng tự động nhất định, ống kính thường dài để có thể thu hình cự ly xa, thật xa
b Nhiệm vụ của các camera xe truyền hình lưu động:
Thường sử dụng 3 camera, các camera được bố trí theo các hướng thích hợp
để tạo góc quay đẹp nhất Ngoài ra, khi cần có thể sử dụng 4 camera hoặc nhiều hơn, điều này phụ thuộc đạo diển truyền hình và từng loại xe truyền hình lưu động
mà ta ứng dụng Việc thiết lập nhiều camera như trên cần có sự tham của một số điều hành viên, do vậy nhu cầu liên lạc tất yếu phải hổ trợ bằng các thiết bị liên lạc
âm thanh thiết lập trong tất cả các camera và trạm cơ sở
Các hình ảnh do các camera ghi được sẽ được truyền về khối điều khiển video
để xử lý như chọn hình từ góc quay nào để ghi vào băng hay phối hợp các kỹ xảo rồi mới ghi vào băng
Ngoài ra còn có thể truyền tín hiệu audio từ camera lên khối điều khiển và ngược lại từ khối điều khiển ra camera để tiện việc liên lạc giửa khối điều khiển và người quay Điều này giúp cho đạo diễn dể dàng tìm được góc quay đẹp nhất
c Khối đồng bộ và bổ trợ:
Khối đồng bộ có chức năng: tạo xung trong, ngoài và hòa pha quét bia (Genlock), các xung lái ngang, xung lái dọc, xung xóa ngang và xung xóa dọc là bốn xung căn bản cần thiết phải có để quét bia và tạo thành video Camera có thể chạy bằng các xung này do chính mình tạo ra hoặc chạy bằng xung từ bên ngoài được tạo ra bởi một máy tạo xung đồng bộ (Sync Generation) Trong một chương trình thu hình g nhiều camera khác nhau, để hình luôn được ăn khớp khi truyền từ camera này sang camera khác, thì điều kiện bắt buộc là pha quét các bia của tất cả các camera phải trùng nhau Có hai cách để đạt được điều này:
khác đi tất cả các camera đều chạy bằng một nguồn External Sync
hay hòa pha với xung của camera chuẩn Nói khác đi, lấy xung của camera chuẩn đưa vào các camera còn lại qua đường hòa pha (Genlock)
Trang 33o Để hình ảnh và âm thanh được đồng bộ cần phải có máy phát xung đồng bộ hình và tiếng Để các hình ảnh lẩn âm thanh truyền đi được đồng bộ với nhau cũng cần xung đồng bộ Do đó ta có máy tạo xung đồng bộ cấp cho mỗi bàn điều khiển
và máy tạo xung đồng bộ riêng cấp cho toàn bộ thiết bị để đảm bảo chất lượng của tín hiệu
Bộ sửa sai thời gian gốc TBC số (Digital Time Base Corrector): Chỉ tiêu
thời gian của một dòng quét ngang (video 601, 625/50) Trong quá trình truyền dẩn,
xử lý… thời gian này có thể bị sai đi Chẳng hạn do vận tốc chạy băng VTR không thể tuyệt đối đều hoặc do đường truyền quáxa bị tác động bởi moi trường… thời gian xuất hiện mỗi xung đồng bộ ngang không còn chính xác là 6Ĵ, mà có lúc dài hơn, lúc lại ngắn hơn Hệ quả các dòng quét trên màn ảnh cũng dài ngắn khác nhau, gây ra răn răn trên các chi tiết thẳng đứng của hình hoặc gây hiện tượng ngoẹo đầu Chính vì vậy tại các studio chuyên nghiệp video ra từ các VTR video đến sau những đường truyền dài… đều phải được sửa sai thời gian gốc bằng các bộ TBC hay đồng bô khung (Frame Synchronizer)
Trong các TBC số, video được đổi thành tín hiệu số cho từng điểm hình một Mỗi điểm hình bằng một tín hiệu số nhị phân sẽ được chép vào RAM (Random Access Memory) tại một địa chỉ nhất định Tần số xung đồng bộ (clock pulse) để đổi video thành tín hiệu số và thời gian chép chúng vào bộ nhớ sẽ thay đổi bằng chính các thông số của video hiện đang có sai thời gian gốc Sau khi chép xong người ta sẽ đọc lại chúng với xung đồng hồ và vận tốc đọc là chuẩn thời ngian theo đúng yêu cầu về thời gốc của video Việc sau cùng chỉ là đổi tín hiệu số đọc được thành video như cũ Trong thực tế việc đổi video thành tín hiệu số và từ tín hiệu số tái tạo thành video chẳng những không làm suy giảm chất lượng video mà còn giúp lọc gần như sạch nhiễu nữa
Các chức năng bổ trợ:
o Triax cable: các camera thu hình lưu động chất lượng cao như đá banh, sân khấu… thường tách rời phần ống kính tìm cảnh (gọi chung là đầu quay), với phần nguồn và điều khiển (gọi chung là CCU) Đầu quay được đặt tại hiện trường và liên lạc với CCU đặt tại phòng máy thường được truyền bằng cáp, lúc trước người ta dùng cáp nhiều sợi còn gọi là camera cáp để truyền dẩn nhiều loại tín hiệu khác
Trang 34nhau, theo cả hai chiều từ CCU đền đầu quay và ngược lại Ngày nay người ta điều chề tất cả các loại tín hiệu nói trên lên tần số cao rồi dùng cáp triax để truyền cả nguồn DC lẫn sóng cao tần từ CCU đến đầu quay và ngược lại Cáp triax nối kết khối CCU của xe lưu động với camera Ngoài ra hệ thống cáp triax có thể điều khiển từ xa thuận lợi và truyền tín hiệu video chất lượng cao
o Tai nghe (Intercome): hệ thống tai nghe được trang bị để giúp liên lạc giữa camera man với video man tại bàn điều khiển cũng như liên lạc với đạo diển và toàn thể phòng máy.Đèn báo tally (Tally Light): trong một chương trình thu hình chuyên nghiệp có nhiều camera cùng lấy hình, nhưng vào mỗi thời điểm chỉ có một camera được chọn để lên sóng (on air) và khi đèn báo tally sẽ sáng lên Đèn báo tally tắt đó
là camera trong trạng thái chờ hay (off air), theo đó người quay có thể thoải máy thực hiện các thay đổi lấy cảnh
d Khối điều khiển video và audio:
Bàn điều khiển trung tâm: dành cho đạo diễn truyền hình chọn hình ảnh
truyền từ các camera để ghi như VTR1, VTR2… chọn kỹ xảo để phối hợp, có thể liên lạc với người quay, diễn viên, khối vi tính… để điều khiển sao cho lấy hình ảnh mong muốn Tín hiệu qua bàn xử lý trung tâm có thể được hiển thị xem trước qua monitor PRW, một đường tín hiệu nữa, sau khi đã được đạo diễn chọn lựa bao gồm luôn những xử lý về kỹ xảo đồ họa vi tính, kiểu chữ… sẽ được hiển thị qua camera PGM và được đưa đến VTR2 để thu vào băng
Bàn điều khiển Video: cũng thuộc bàn diều khiển trung tâm, tín hiệu video
được đổ vào bàn điều khiển video đoể chỉnh độ sáng, chói, màu sắc của hình ảnh nhận được từ các camera để tạo ra hình ảnh cần ghi Bộ trộn video có chức năng giống như một bộ kết nối tạo đường, nhận tín hiệu từ các nguồn khác nhau và gởi tín hiệu đó đến nơi cần thiết tùy btheo yêu cầu bằng các lựa chọn Ngoài ra có một
bộ dự phòng trộn tín hiệu video (Routing Switcher)
Bàn điều khiển âm thanh (Soudcraft): điều khiển các nguồn âm thanh,
chẳng hạn liên lạc giửa các khối điều khiển, studio và các khối cần thiết, lấy và xử
lý tín hiệu âm thanh từ hiện trường để ghi băng (quay trực tiếp), tín hiệu âm thanh
từ DAT, Mini Disk, CD, VTR1… (quay playback)
Trang 35Bàn Mix audio: có nhiều ngõ vào khoảng 16 đường, có thể là đường Line
(CD, DAT, Mini Disk,VTR1… âm thanh phát lại), cũng có thể là đường Mic (Micro… âm thanh trực tiếp) tùy mục đích cần chọn sao cho hợp lý, nhưng đa số dùng đường Mix Mỗi nhạc cụ thường được bố trí một đường vào máy ghi và ca sĩ thường được bố trí ghi âm 3 đường Mỗi máy ghi có tối đa 8 đường vào Do đó, nếu
sử dụng nhiều nhạc cụ, ta có thể ghi âm nhạc cụ trước rồi tổng hợp lại thành một đường vào máy ghi khác rồi trộn tiếp các âm thanh vào nhạc cụ còn lại thành hai đường tổng hợp (Left và Right) và sau đó mới ghi giọng hát ca sĩ sau Sản phẩm thường được ghi vào băng DAT để sau đó quay playback
Kỹ thuật VTR (Video Tape Recoder): VTR1 (VTR player) chủ yếu phát lại
VTR2 (VTR recoder) chủ yếu ghi lại có thể âm thanh và hình độc lập nhau nhưng phải ghi Time Code liên tục
Màn hình hiển thị: bao gồm CAM 1, CAM 2, CAM 3, CAM 4…hiển thị
hình ảnh từ các camera tương ứng truyền từ hiện trường lên để đạo diễn dể dàng quan sát và lựa chọn VTR1 (do VTR1 phát ra), VTR2 (hiển thị hình do kỹ thuật viên VTR ghi lại), PVW (Preview: là hình ảnh chuẩn bị được ghi), PRG (Program:
là hình ảnh do đạo diễn chọn ra từ các nguồn trên), EXT (các hình ảnh từ các nguồn bên ngoài đưa qua), CG (Character Generator: chủ yếu là chủ do khối vi tính đưa qua để key vào hình ảnh)
Ngoài ra, để hình ảnh và âm thanh được đồng bộ cần có máy phát xung đồng
bộ hình và tiếng Để các hình ảnh lẫn âm thanh được truyền đi đồng bộ với nhau cũng cần xung đồng bộ Do đó ta có các máy tạo xung đồng bộ cấp cho mỗi phòng điều khiển và máy tạo xung đồng bộ riêng cấp cho toàn bộ trung tâm
Micro: Chủ yếu để sử dụng quay trực tiếp
Các micro được bố trí sao cho có thể lấy âm thanh một cách tốt nhất, sau đó được truyền về khối điều khiển cùng tín hiệu hình để xử lý và được ghi vào băng Băng ghi chuyên dụng có thể ghi âm thanh riêng, ghi hình riêng Nhưng chúng
có một điều rất đặc biệt là ghi Time Code liên tục Time Code rất quan trọng vì nó giúp ta quản lý hình ảnh trong băng một cách chặt chẽ nhất
Trang 36Bộ khuếch đại phân chia hình VDA và âm thanh ADA: có chức năng phân
chia tín hiệu từ một tín hiệu ngõ vào thành nhiều đường tín hiệu ngõ ra Ngoài chức năng phân chia thì bộ này phải đảm bảo tín hiệu không bị suy hao khi nó đi qua
Bộ hiển thị dạng sóng WFM (Waveform): dùng để hiển thị dạng sóng của
tín hiệu, nhằm mục đích kiểm tra về biên độ, pha của tín hiệu
e Điều khiển từ xa:
Để thực hiện điều khiển từ xa phải cần đến cáp camera nhiều dây, tốn kém và rất phức tạp, hoặc hệ thống đa hợp sử dụng một loại cáp nhỏ hơn (như cáp Triax) Thiết kế camera của hệ thống luôn đánh đổi giửa việc định vị các mạch ở đầu camera (TA 45 hay VCR Handle) và cung cấp các thiết bị điều khiển từ xa hoặc định vị các mạch trong thiết bị cơ sở (tại đó nó có thể điều chỉnh trực tiếp) HL 45A ngoài các thiết bị điều khiển xa BS-45, OCP-45 còn có RCP 50 (Remote Control Panel)
Với quá trình xử lý tín hiệu số, các camera HL-45A/AW là đặt tất cả các mạch
xử lý ở trên đầu camera, đồng thời cung cấp đường dẩn tín hiệu số và bus dữ liệu điều khiển giữa vị trí thao tác ở xa và ở đầu camera
f Thu âm-micro:
Âm thu tốt phụ thuộc vào các tiêu chí: sự lựa chọn micro và môi trường ghi,
kỹ thuật cầm và đặt micro lại được xem như là một nghệ thuật
g Xử lý tín hiệu:
Bộ trộn audio: Bộ mixer K1 của Soundcraff bao gồm 16 kênh ngõ vào, 4
kênh Group, 2 cổng ra chính (mỗi cổng chính chia làm hai phần trái và phải) Giao diện với người sử dụng bao gồm các panel điều khiển, một màn hình hiển thị Điều khiển của người sử dụng được hiện thông qua một panel điều khiển và màn hình nối với hệ thống để điều chỉnh cường độ (còn gọi là Headphone) và kiểm tra tín hiệu Trộn audio có liên quan đến việc kết hợp rất nhiều đầu vào từ nguồn CD, CTR, VTR, Micro thành một hoặc ra thành nhiều đầu ra Đầu ra có thể dùng bộ ADA phân chia nhiều đường để cung cấp cho nhiều bộ phận khác nhau
Bộ trộn video: Là thiết bị cho vào cả tín hiệu số và tín hiệu tương tự lên đến
16 đường qua hệ thống chuyển mạch của hệ thống để chọn tín hiệu mong muốn Bộ
Trang 37trộn bị chi phối bởi các khả năng xảy ra hiệu ứng Tuy nhiên, các đầu ra của bộ xử
lý hiệu ứng phải được kết hợp bởi quá trình trộn hoặc chèn Xử lý hiệu ứng video, các hiệu ứng video động (có thể gọi là kỹ xảo) như là pan, zoom, cửa sổ, nút quay, nghiêng, viễn cảnh và các hiệu ứng khác Các hiệu ứng này có thể đượ tạo ra theo công nghệ số
Đồ họa: Bất cứ thứ gì có thể được vẽ bằng chương trình đồ họa đều có thể
phủ, chèn, hoặc chồng vào một tín hiệu video Thực hiện chèn qua bộ tạo kỹ xảo, những khả năng này như thế là vô tận Với bộ xử lý đồ họa có khả năng xử lý mọi loại kỹ xảo đồ họa, bao gồm văn bản, vẽ, con chạy, bản đồ… Bộ xử lý đồ họa xử lý như một nguồn tín hiệu khác trong bô trộn Đầu ra của nó là một tín hiệu video số tiêu chuẩn đi qua bộ xử lý tạo kỹ xảo để kết hợp với các tín hiệu khác Một phương pháp xen kẽ khác là bộ CG có sẵn bộ phân chèn riêng của mình, còn các tín hiệu khác đi qua bộ phận CG để bổ sung đồ họa Phương pháp này ít tốn kém hơn do không cần kênh kỹ xảo phụ để chèn đồ họa, nhưng kém linh hoạt hơn Điều khiển thiết lập chèn CG khác với các phương pháp điều khiển kỹ xảo khác trong hệ thống Bởi vì đồ họa cần có sự chuẩn bị về mặt thời gian cho nên bộ xử lý đồ họa phải có
bộ phận riêng làm việc, tại đó nhân viên điều hành có kỹ năng hoặc thậm chí một nghệ sĩ có thể chuẩn bị vật liệu và kết quả được lưu trữ để cần có thể sử dụng dể dàng trong quá trình sản xuất Trong bộ dựng, những phần điều khiển phù hợp cung cấp để chọn lọc hoặc hiển thị các vật liệu đồ họa đã được lập trình sẵn từ trước
h Khối dựng và vi tính:
Khối dựng: Kiểm tra và dựng lại các chương trình trước khi cho ra thành
phẩm để phát sóng
Dựng hình online là dựng hòinh tạo nên tín hiệu có chất lượng cao
Dựng hình ofline là dựng hình tạo ra tín hiệu chất lượng thấp (dựng để lấy kết quả thôi)
Trong kỹ thuật dựng hình ta dựng hình ở chất lượng thấp rồi lấy kết quả để dựng hình ở chất lượng cao
Dựng Editting có 2 loại:
Trang 38o Dựng tuyến tính chỉ dùng trong tương tự Nối và Chèn: từ chổ nối trở về sau
phải xóa sạch, ghi lại và chèn vào
o Dựng phi tuyến: chỉ dùng trong kỹ thuật số chép vào đĩa cứng, truy suất,
chép qua VTR2
Các chương trình trước khi ra thành phẩm phải bảo đảm:
Khối vi tính (CG) : Tạo các logo, phong chữ, nền…theo yêu cầu
2 Nguyên lý hoạt động sản xuất chương trình của xe truyền hình lưu động:
Camera hoạt động được khi ta cung cấp nguồn nhờ vào bộ điều khiển CCU (BS-45) Camera thực hiện nguyên lý chuyển đổi từ quang sang tín hiệu điện
Các camera CAM 1, CAM 2, CAM 3…thu hình tại hiện trường Đầu quay được đặt tại cảnh cần thu hình và liên lạc với CCU đặt tại phòng điều khiển thường bằng cáp để truyền dẫn nhiều loại tín hiệu khác nhau, theo cả hai chiều từ CCU đến đầu quay và ngược lại Hệ thống camera được bố trí sao cho có thể thu được mọi góc cạnh của cảnh phù hợp với dụng ý nghệ thuật của đạo diển
Khi ống kính camera được mở ra, ánh sáng tràng vào các bia gồm 3IT CCD cho độ phân giải cao 620,000 pixels ở hệ PAL, lập tức các xoay chiều sẽ hình thành, thay vào mức nền của “cái sườn” Black Burst Loại xoay chiều có được ngay từ ngỏ
ra của của mặt bia là video R, video G,video B, hay tín hiệu màu gốc R, G, B Tín hiệu màu gốc R, G, B được một ma trận đổi thành tín hiệu thành phần (component video), gồm một tín hiệu chói Y (luminance) và hai tín hiệu trừ màu R-Y và B-Y (color difference R-Y, B-Y) Tín hiệu chói Y cũng chính là tín hiệu đen trắng và như vậy truyền hình bây giờ chỉ là truyền hình đen trắng Y có truyền thêm hai tin
Trang 39tức màu là R-Y và B-Y Tín hiệu được truyền giữa camera và CCU bằng cáp Triax, với sợi cáp Triax này đồng thời vừa cấp nguồn cho camera vừa truyền tín hiệu về phòng thu xe truyền hình lưu động, ngoài ra còn có một OCP (Operation Control Panel) dùng để điều khiển CCU từ xa
Sau đó tín hiệu này đưa đến phòng điều khiển thường là tín hiệu component và coposite mà ta tùy chọn sử dụng, được ghép cùng một sóng đồng bộ, sau đó đưa qua
bộ DA (Distribution Amplifier: bộ khuếch đại phân chia) dùng để phân chia và khuếch đại thành nhiều đường tín hiệu ở ngõ ra rồi đưa qua Monitor để hiển thị lên các Monitor Cam 1, Cam 2,….do các camera man quay nhiều vị trí khác nhau và tùy theo những cảnh đẹp mà đạo diển ở bàn điều khiển trung tâm sẽ chọn
VTR 1 do VTR 1 phát ra VTR 2 hiển thị hình do kỹ thuật viên VTR ghi lại cũng đưa tín hiệu màu giống như camera và được khuếch đại phân chia thành nhiều đường đưa đến Monitor kiểm tra hình ảnh và đưa vào màn hình Waveform để kiểm tra dạng sóng
Key, fill là tín hiệu của bộ tạo chữ CG (Character Generator) cũng đưa tín hiệu tương tự như trên vào bộ DA để tạo ra chữ (hoặc các backgroud hình nền) vá các hình ảnh được xử lý kỹ xảo
Sau đó các ngõ ra của Camera,VTR, và CG được nối với bàn Mixer Video, khối này sẽ xử lý các hình ảnh Một đường sẽ đưa tới Monitor PVW (Preview: hình ảnh chuẩn bị được ghi), để xem những hình ảnh trứơc khi key qua Monitor PGM (Progrm: hình ảnh do đạo diễn chọn ra từ các nguồn trên) Đường thứ hai PGM được đưa đến bộ DA để khuếch đại phân chia hình một lần nữa Từ bộ DA này sẽ đưa đến Monitor PGM để xem những hình ảnh đã hoàn chỉnh theo yêu cầu của đạo diễn, một đường nữa sẽ qua đầu ghi VTR để ghi những hình ảnh vừa quay được và một đường nữa đưa đến anten trên xe truyền hình lưu động để phát sóng
Các đường còn lại được truyền đến bàn điều khiển trung tâm (Mixer Video số)
và đồng thời những tín hiệu Camera và VTR vừa nói trên sẽ được đưa qua bộ Routing Switcher Analog ( thực chất là bộ dự phòng có chức năng tương tự như Mixer Voied) Khối này có chức năng khi có sự cố xảy ra ở khối Mixer Video số thì lúc này người đạo diễn thực hiện các thao tác cắm các đầu kết nối trên bộ Routing
Trang 40Switcher với khối DA để chương trình tiếp tục quay mà không bị gián đoạn Ngoài
ra còn có khối EXT (các hình ảnh tạo ra từ nguồn bên ngoài đưa qua, CG (chủ yếu
là chữ do vi tính đưa qua để key vào hình ảnh)
Trong lúc quay hình thì đồng thới các đường Micro và đường Line sẽ đưa vào
bộ Mixer Audio Khối này sẽ trộn tín hiệu âm thanh để đưa vào đầu ghi VTR, lúc này ta được một chương trình hoàn chỉnh có đủ cả hình và tiếng
Quy trình sản xuất một chương trình truyền hình:
1.Công việc tiền kỳ:
Các camera thu hình hình ảnh tại hiện trường và truyền về phòng điều khiển Tại đây, đạo diển sẽ chọn hình ảnh thích hợp cho kịch bản Đặt các micro ở các vị trí thích hợp để đảm bảo thu được âm thanh trung thực và rõ ràng Dựng các phòng để tạo các cảnh bố trí yêu cầu với yêu cầu của chương trình
Các tín hiệu video và audio cũng được điều khiển sao cho có chất lượng tốt nhất và phù hợp với kịch bản
2 Công việc hậu kỳ:
Chuẩn bị các kỹ xảo hoặc chạy chữ: Sử dụng các phần mềm chuyên dụng
để tạo các hiệu ứng đặc biệt (3D Studio MAX) Đồng thời tạo ra các nền cho video
và các kiểu chữ
Dựng hình: Người đảm trách phần dựng hình sẽ kết hợp với đạo diễn hoặc
biên tập sẽ duyệt lại nội dung, cắt bớt các đoạn thừa, không cần thiết để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh trước khi phát sóng hoặc ghi vào cuốn băng