Tháng 1 năm 1957 xí nghiệp X30 - Tiền thân của Công ty giầy Thượng Đình ngày nay ra đời, có nhiệm vụ sản xuất mũ cứng và giầy vải cung cấp cho bộ đội thay thế các loại mũ đan bằng tre lồ
Trang 1CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG MARKETING MIX CỦA CÔNG TY GIÀY THƯỢNG ĐÌNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
I Tổng quan về Công ty giầy Thượng Đình
Công ty giầy Thượng Đình được thành lập vào những năm đầu thủ đô mới giành được độc lập vào tháng một năm 1957 Ngay từ giai đoạn mới thành lập đến nay Công ty giầy Thượng Đình đã cùng nhân dân thủ đô nói riêng và miền Bắc nói chung đã góp sức vào xây dựng đất nước Cho đến nay trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn và thách thức sóng gió thăng trầm Công ty giầy Thượng Đình trưởng thành, phát triển và bước tới tương lai
Giới thiệu sơ lược về Công ty
- Tên Công ty: Công ty giầy Thượng Đình -Tên giao dịch quốc tế: ZINAVI
- Địa chỉ: Số 277/Km 8 - Đường Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
- Các mặt hàng xuất khẩu chính; Giầy vải, giầy thể thao, các loại dép xăng đan để xuất khẩu và phục vụ thị trường nội địa
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Giai đoạn 1957 - 1960 (trưởng thành từ quân đội những chặng đường đầu tiên)
Tháng 1 năm 1957 xí nghiệp X30 - Tiền thân của Công ty giầy Thượng Đình ngày nay ra đời, có nhiệm vụ sản xuất mũ cứng và giầy vải cung cấp cho bộ đội thay thế các loại mũ đan bằng tre lồng vaỉ lưới nguy trang và dép lốp cao su
Trang 2Giai đoạn 1961 -1972 (sống lao động, chiến đấu vì miền Nam ruột thịt)
Tháng 6 -1965 xí nghiệp X30 đã tiếp nhận thêm một đơn vị công tư hợp doanh là Liên xưởng thiết kế giầy vải và đổi tên thành nhà máy cao su Thuỵ Khuê Đến năm 1970 nhà máy cao su Thuỵ Khuê đã xát nhập thêm xí nghiệp giầy vải Hà Nội cũ (gồm 2 cơ sở Văn Thương - Chí Hằng) và đổi thành: xí nghiệp giầy vải Hà Nội
Giai đoạn 1973 -1989 (tự khẳng định)
Từ cái gốc X30 đến thời điểm này đã nẩy sinh nhiều xí nghiệp, đơn vị mới
+ Tháng 6 năm 1978: xí nghiệp giầy vải Hà Nội hợp nhất với xí nghiệp giầy vải Thượng Đình và lấy tên: Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình
+ Tháng 4 năm 1989 theo yêu cầu của phát triển ngành giầy, xí nghiệp đã tách cơ sở 152 Thuỵ Khuê để thành lập xí nghiệp giầy Thuỵ Khuê 1700 cán bộ công nhân viên còn lại tiếp tục cùng xí nghiệp giầy vải Thượng Đình
Giai đoạn 1990 đến 1997 (thị trường và đổi mới) Ngày 8 tháng 7 năm 1993 xí nghiệp giầy vải Thượng Đình đã chính thức đổi tên thành Công ty giầy Thượng Đình theo giầy phép số 2753 của UBND Thành Phố Hà Nội
Giai đoạn 1997 đến nay (tự tin bước vào thiên niên kỷ mới )
Cơ chế quản lý kinh doanh theo chế độ tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ nhiều nhược điểm: sản xuất bị đình trệ, thị trường tiêu thụ biến động, đời sống CB - CNV gặp nhiều khó khăn
Với tinh thần đoàn kết, cần cù, chịu khó và tính năng động sáng tạo của toàn thể CB - CNB Công ty giầy Thượng Đình đã lựa chọn con đường
đi đúng để tồn tại và phát triển đó là Hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi
Trang 3Từ đây, sản phẩm của Công ty liên tục được cải tiến về mẫu mã, chất lượng và chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước
Đây là một chặng đường thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cải tổ vdà đổi mới theo Nghị quyết trung ương XI của Đảng, đây cúng chính là bệ phóng vững chắc cho việc cất cánh của Công ty trong thời kỳ tiếp theo:
Thời kỳ tự tin bước vào thiên niên kỷ mới
Tóm lại: Công ty giầy Thượng Đình trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn, Công ty đã đạt được nhiều thành tựu, đóng góp một phần vào ngân sách nhà nước và tăng thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu
2 Mục đích hoạt động,
Công ty giầy Thượng Đình là một doanh nghiệp nhà nước với sản phẩm chủ yếu là giầy vải Mục đích chủ yếu của Công ty là có lãi nên lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của Công ty
Để đáp ứng với tình hình mới, Công ty đã tiến hành đổi mới trang thiết bị, tăng quy mô sản phẩm để đảm bảo công ăn việc làm cho công nhân, góp phần tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước
3 Nhiệm vụ của Công ty
Để thích ứng với cơ chế thị trường, Công ty đã đề ra các nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Dựa vào năng lực thực tế của Công ty, kết quả nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, xây dựng và thực hiện totó các kế hoạch Nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tự bù đắp chi phí, trang trải vốn và hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước trên cơ sở tận dụng năng lực sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật đổi mới sản phẩm
+ Nghiên cứu luật pháp: Các thông lệ kinh doanh quốc tế, tình hình thị trường thế giới về các loại giầy, đặc biệt là giầy vải, giầy thể thao
Trang 4Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và đưa ra phương án kinh doanh của mình
+ Mở rộng sản xuất với các cơ sở kinh doanh thuộc phần kinh tế, tăng cường hợp tác với liên doanh nước ngoài
+ Thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, tổ chức tốt đời sống cán bộ công nhân viên
+ Thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế nhà nước giao cho cụ thể là:
- Nộp ngân sách nhà nước
- Đảm bảo việc làm và thu nhập
4 Phạm vi hoạt động
Công ty chịu sự quản lý trực tiếp của Sở công nghiệp Hà Nội, được phép xuất khẩu sản phẩm chủ yếu là các loại giầy vải giầy thể thao, dép xăngđan phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, ngoài ra Công ty còn tham gia sản xuất các loại sản phẩm bảo hộ lao động như: Quần áo, túi, găng tay Công ty có quyền sản xuất các loại sản phẩm cao su khác
5 Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty
Công ty giầy Thượng Đình là đơn vị hoạch toán kinh doanh độc lập
và có tư cách pháp nhân Căn cứ vào đặc điểm tính phức tạp của kỹ thuật, quy mô sản xuất lớn Công ty đã xây dựng phương thức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng Bên cạnh đó có trợ lý giám đốc và bộ phận QRM (đại diện lãnh đạo về chất lượng) hỗ trợ giúp việc cho giám đốc trong quá trình
ra quyết định Hệ thống phòng ban của Công ty có chức năng riêng nhưng đều có nhiệm vụ tham gia tham mưu cho giám đốc, theo dõi kiểm tra và có hướng dẫn thực hiện các quyết định của giám đốc theo chức năng của mình Các phân xưởng trực tiếp tham gia sản xuất Mối quan hệ giữa các phòng ban, phân xưởng là mối quan hệ ngan cấp Công ty giầy Thượng Đình thực hiện mô hình quản lý theo hai cấp như sau”
Cấp 1 bao gồm + Ban giám đốc Đứng đầu là giám đốc và sau đó là 4 phó giám đốc
Trang 5Hệ thống phòng ban: Hệ thống phòng ban bố trí để tham mưu chủ đạo sản xuất bao gồm
+ Phòng kinh doanh xuất khẩu (P KD - XNK)
+ Phòng kế toán - tài chính (P KD - TC)
+ Phòng chế thử mẫu + Phòng hành chính - Tổ chức (P HC - TC)
+ Phòng kế hoạch - vật tư (P KH - VTP) + Phòng thống kê - gia công
+ Phòng tiêu thụ Cấp 2 bao gồm:
Các phân xưởng đứng đầu là các quản đốc phân xưởng Bộ phận này trực tiếp chỉ đạo công nhân sản xuất Hiện nay Công ty có các phân xưởng sau:
+ Phân xưởng cắt + Phân xưởng may A + Phân xưởng may B + Phân xưởng cán + Phân xưởng gò + Phân xưởng bôi tráng + Xưởng cơ năng
Ngoài ra Công ty còn có một số phòng ban khác làm công tác chính trị tư tưởng như phòng đảng uỷ, phòng hành chính tổng hợp, phòng bảo vệ, ban vệ sinh lao động
II Vị trí hoạt động xuất khẩu trong công ty
Hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động quan trọng nhất cực kỳ quan trọng của công ty vì nó có một vai trò to lớn quyết định đến sự phát triển của công ty Trong chiến lược công ty đã xác định được thị trường chính của công ty là thị trường xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu chiếm một
Trang 6tỷ lệ khỏ cao trong tổng doanh thu Trong giai đoạn 1998 – 2002 trung bỡnh
là 70%, một con số rất lớn
Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu khỏ cao năm 1998 chiếm 69,6% năm
1999 chiếm 84,3%, năm 2000 chiếm 56,1% và năm 2001 chiếm 53,7%, năm
2002 chiếm 56,52%
0 20 40 60 80 100 120
tỷ đồng
Biểu 1
doanh thu doanh thu xuất khẩu
Kim ngạch suất khẩu cao, tỷ trọng xuất khẩu cao Doanh thu xuất khẩu năm 1998 đạt 6,36 triệu USD, năm 1999 là 6,2 triệu USD, năm 2000
cú thấp hơn đạt 4,32 triệu USD và năm 2001 là 4,6 triệu USD, năm 2002 là 4,324 triệu USD điều đú cho thấy hoạt động xuất khẩu của cụng ty hiện nay
là hoạt động chủ yếu của cụng ty nú cú vị trớ quan trọng nhất, cơ bản nhất
Để cụng ty cú thể ổn định và phỏt triển thỡ khụng thể thiếu được hoạt động xuất khẩu Cụng ty đó xem hoạt động xuất khẩu như là hoạt động mũi nhọn, hoạt động chủ lực nhằm phỏt triển cụng ty thành một cụng ty đầu ngành của ngành giầy dộp
Kết quả hoạt động kinh doanh của cụng ty trong cỏc năm qua (1998 - 2002)
Trang 7Đặc điểm của ngành giầy dép là vốn đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng nhiều lao động Công nghiệp giầy dép là ngành sản xuất gắn với nhu cầu tiêu dùng của xã hội Vì vậy nó có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là ngành thu hút nhiều lao động xã hội, cung cấp sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, tạo nguồn hàng xuất khẩu Trong những năm gần đây, ngành giầy dép Việt Nam đã có hướng đi đúng đắn, tận dụng được lợi thế của mình nhằm sản xuất và xuất khẩu giầy dép ra thị trường nước ngoài
Trong bối cảnh đó công ty giầy Thượng Đình đã mạnh dạn đầu tư công nghiệp, khảo sát, nghiên cứu thị trường xuất khẩu Trải qua những khó khăn thử thách công ty đã đạt được những kết quả đáng kể
Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
(1998 - 2002)
Các chỉ
tiêu
ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002 2002/199
9
Giá trị
sản xuất
công
nghiệp
1000
đ
68.182.13
8
83.367.57
7
79.051.20
7
101.662.63
1
110.066.26
2
1,325
Doanh
thu
Tỷ đồng
127,9 103 107,5 120 118 1,12 Kim
ngạch
xuất khẩu
Triệ
u USD
6,36 6.2 4,31 4.6 4.324 0.7
Lợi nhuận Tỷ
đồng
1,3 1,1 1,5 1,6 1,8 1,64 Nộp ngân
sách
Tỷ đồng
1,7 2,31 1,547 1,7 1,76 0,76
Tổng sản
phẩm
xuất khẩu
1000 đôi 3.890 1.755 4.296 3.820 4,276 0,89 Xuất
khẩu
1000 đôi
2060 1970 1220 1776 1733 0,88 Nội địa 1000
đôi
1892 2965 3075 1334 2543 0,857 Thu nhập
bình quân
1000 đôi
740 750 760 780 810 1,08 đầu tư Tỷ
đồng
2,43 4,1 2,55 10 0,96 0,234
Tỷ suất
lợi
nhuận/vố
n đầu tư
Triệ
u đồng
0,074 0,104 0,15 0,18 0,17 1,16
Trang 8Nguồn: Báo cáo phòng kế toán công ty giầy Thượng Đình
Nhìn vào bản báo cáo kết quả hoạt động trên ta thấy tốc độ phát triển không ngừng của công ty qua các năm năm 2002 so với năm 1999, doanh thu tăng 1.12, lợi nhuận tăng 1,64 lần, đầu tư tăng 1,234 lần vốn tăng 2,43 lần
Qua bảng trên ta thấy nổi một số quan điểm quan trọng
Doanh thu cao nhất là của năm 1998 là 127 tỷ đồng Năm 1999 và cắc năm tiếp theo do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thay đổi
đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty Nhưng ta dễ thấy doanh thu xuất khẩu đều chiếm trên 50% trung bình >60% (giai đoạn 1998 – 2002) Trong khi đó sản lượng xuất khẩu trong giai đoạn (1997 - 2001) đều dưới 50%, chỉ có năm 1998 là cao nhất đạt 52,7% Điều đó đã chứng tỏ chiến lược kinh doanh của công ty là hướng về xuất khẩu Doanh thu đã chứng tỏ chiến lược kinh doanh của công ty là hướng về xuất khẩu Doanh thu xuất khẩu là nguồn thu quan trọng của công ty, do vậy một sự biến động nhỏ của thị trường thế giới cũng có ảnh hưởng đáng kể tới tổng doanh thu của công ty
Trong những năm vừa qua công ty giầy Thượng Đình đã đạt được những kết quả khả quan ngoài những kết quả ở trên công ty còn đạt được những kết quả khác
1 Tình hình thị trường giầy da thế giới:
Sự phát triển kinh tế hiện nay đang có xu thế toàn cầu hóa những hoạt động kinh tế, ngành giầy cũng không nằm ngoài phạm vi này, nó bắt đầu với việc chuyển dịch quá trình sản xuầt giầy từ các nước công nghiệp phát triển (Đức, Pháp, Italy, Anh và Mỹ ) đến các nước đang phát triển tại Châu á (Pakisan, Hàn Quốc, Ân Độ, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc ) và sau
Trang 9đó là các quốc gia tại khu vực Đông nam Châu á (Inđônêxia, Philipin, Thái Lan, Việt Nam ) xa hơn nữa là các quốc gia tại khu vực Trung Á
Góp mặt vào xu thế toàn cầu hóa trên phải kể tới sự góp mặt của các hãng giầy nổi tiếng thế giới, mà các sản phẩm của họ đã thực sự ăn sâu vào
ý thức tiêu dùng của người tiêu dùng ( Hãng NIKE, ADIDAS, TEX, BATA ) các hãng trên đã thống trị một cách nổi bật trên thị trường giầy thế giới, họ đã thực sự đứng ra sắp xếp về nhu cầu giầy trên thị trường Ngoài ra các hãng trên đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch công nghệ sản xuất giầy trên thế giới
Theo số liệu thống kê của hiệp hội giầy Châu á năm 2000 thì sản lượng giầy trên toàn thế giới trong một vài năm gần đây có xu hướng giảm,
có lúc dưới 10 tỷ đôi
Cụ thể như sau:
Mức độ giảm sút sản lượng giầy thế giới
Tên nước Mức độ giảm sút Các nước SNG và Đông
Các nước Tây Âu 4 lần
Đài Loan 1,5 lần
Song các nhà kinh tế thế giới dự đoán từ cuối năm 2000, đầu năm
2001 tình hình sẽ sáng sủa trở lại, theo điều tra của Liên đoàn Công nghiệp Châu Âu cho biết