Như vậy, hóa kỹthuật bao gồm các phương pháp sản xuất, qui trình công nghệ, những biến đổihóa học trong quá trình sản xuất.. Chương 2: Qui trình sản xuất thép Chương 3: N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
HÓA KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI :
QUY TRÌNH SẢN XUẤT THÉP
Người thực hiện : Nguyễn Thị Quyên MSSV: 10334251Lớp: ĐHPT6LT
Người hướng dẫn : TS Đặng Kim Triết
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
HÓA KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI :
QUY TRÌNH SẢN XUẤT THÉP
Người thực hiện : Nguyễn Thị Quyên MSSV: 10334251Lớp: ĐHPT6LT
Người hướng dẫn : TS Đặng Kim Triết
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Các loại thép 4
1.2.1 Thép cacbon 4
1.2.2 Thép hợp kim 4
CHƯƠNG 2 : QUI TRÌNH SẢN XUẤT THÉP 6
2.1 Nguyên liệu 7
2.1.1 Quặng sắt 7
2.1.2.Than cốc 8
2.1.2 Chất trợ dung 8
2.2 Chuẩn bị của nguyên liệu nạp vào lò cao 8
2.3 Sản xuất kim loại gang lỏng 10
2.4 Sản xuất thép thô 12
2.5 Luyện thép thứ cấp 14
2.6 Các quá trình hóa lí trong luyện thép 15
2.7 Các phương pháp tạo hình 16
2.7.1 Đúc kim loại 16
2.7.2 Gia công biến dạng kim loại 18
2.7.2.1 Cán kim loại 19
2.7.2.2 Kéo kim loại 19
2.7.2.3 Ép chảy kim loại 20
2.7.2.4 Rèn kim loại 20
2.7.2 Dập kim loại 21
2.8 Hàn kim loại 22
2.9 Luyện kim bột 23
CHƯƠNG 3 : TRAO ĐỔI VÀ NHẬN XÉT 25
Tài liệu tham khảo 27
Trang 4Danh mục hình 28 Câu hỏi trắc nghiệm tham khảo 29
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tiểu luận này, ngoài sự cố gắng của mình, emxin biết ơn Thầy Đặng Kim Triết, là giáo viên hướng dẫn bộ môn hóa
kỹ thuật, đã giúp em có nhiều kiến thức trong bộ môn này
Chúng em cũng xin gởi lời cám ơn đến các bậc giáo sư tiến sĩ vànhững tác giả đã soạn thảo ra những tài liệu hay bổ ích đã cung cấpthêm kiến thức cho chúng em
Và cũng xin gởi lời cám ơn đến tất cả các bạn đã tham gia đónggóp ý kiến cho bài tiểu luận này
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Hóa kỹ thuật là môn khoa học về kỹ thuật và quy trình sản xuất các loạinguyên liệu và sản phẩm kỹ thuật cao trong ngành hóa học Như vậy, hóa kỹthuật bao gồm các phương pháp sản xuất, qui trình công nghệ, những biến đổihóa học trong quá trình sản xuất
Với đề tài QUI TRÌNH SẢN XUẤT THÉP mà em chọn biên tập, là mộtphần trong “ Kỹ thuật sản xuất một số kim loại”, đã được nêu trong môn họcHóa kỹ thuật
Đề tài này được phẩn ra 3 phần chính:
Chương 1: Tổng quan về nghành sản xuất thép
Chương 2: Qui trình sản xuất thép
Chương 3: Nhận xét và trao đổi
Mặc dù có nhiều có gắng để thực hiện đề tài này nhưng trước thế giới kiếnthức luôn được cập nhập của nhân loại trong bộ môn hóa kỹ thuật, chắc chắnsinh viên chúng em không trách khỏi sai sót
Xin chân thành cảm ơn những lời động viên, góp ý của các bạn và cácThầy Cô
Xin Cám ơn
Trang 7CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN
Về ngành sản xuất thép
Trang 81.1 Giới thiệu.[1]
Thép do có tính chất đa năng và khả năng tái chế, là vật liệu cơ bản cho sựphát triển bền vững trong xã hội công nghiệp hiện đại Nó thu hút dải rộngngười dùng trong hầu hết các thị phần công nghiệp quan trọng, như sản xuấtthiết bị và máy, xây dựng cầu, xây dựng nhà khung thép, năng lượng và kỹ thuậtmôi trường, giao thông và công nghiệp bao gói, và những phần nêu trên chỉchiếm một phần nhỏ trong ứng dụng của thép
Cấp độ sản xuất thép và ứng dụng thép của một quốc gia hay vùng miềnphụ thuộc vào phát triển con người và phát triển kinh tế- kỹ thuật của quốc gia.Trong giai đoạn từ 1900 đến 2005, sản lượng thép thô tăng từ 40 triệu tấn tớitrên 1.1 tỉ tấn Nước Đức xếp hạng thứ 6 và hàng năm sản xuất khoảng 44.7triệu tấn trong năm 2005, trong khi đó nền kinh tế EU đứng thứ 2 thế giới về sảnlượng thép thô cho đến năm 2002 Trung Quốc chiếm vị trí số 1 năm 2003, Thépvẫn là, và sẽ tiếp tục là số một của thế kỉ này với hiệu năng/giá tốt nhất
Hiện nay, trên thế giới, thép được sản xuất bằng hai công nghệ chính :
- Công nghệ lò cao - lò chuyển thổi ô xy - đúc liên tục
- Công nghệ lò điện hồ quang - đúc liên tục
Ngoài hai công nghệ chính nêu trên, có hai công nghệ mới phát triển là
- Hoàn nguyên nấu chảy - luyện thép lò chuyển – đúc liên tục
- Hoàn nguyên trực tiếp - luyện thép lò điện – đúc liên tục
Tuy nhiên, hai công nghệ mới này mới triển khai ở một số nước như ẤnĐộ, Iran, Venezuela … Sản lượng của các công nghệ này còn rất nhỏ, chỉ chiếmkhoảng 5% tổng sản lượng thép của thế giới (năm 2005 tổng sản lượng sắt hoànnguyên nấu chảy và hoàn nguyên trực tiếp đạt 55,4 triệu tấn)
Ngành công nghiệp thép Việt Nam được bắt đầu từ năm 1959 bằng việcxây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, nay là Công ty gang thép Thái Nguyên,
do Cộng hoà nhân dân Trung Hoa giúp đỡ với công suất thiết kế 100.000tấn/năm Tiếp đó, nhà máy Luyện cán thép Gia Sàng cũng được khởi công xâydựng vào năm 1972 với sự giúp đỡ của CHDC Đức có công suất thiết kế 50.000tấn/năm Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Công ty Thép Miền nam đã
Trang 9tiếp quản các cơ sở luyện kim nhỏ của chế độ cũ để lại với tổng công suấtkhoảng 80.000 tấn/năm Từ năm 1992 trở lại đây, ngành thép Việt Nam đã đượctrang bị một loạt lò thùng tinh luyện và máy đúc liên tục đã làm cho chất lượng
và năng suất thép thỏi được cải thiện rõ rệt Từ năm 1994, một loạt các nhà máyliên doanh với nước ngoài được xây dựng và đi vào sản xuất Sau đó nhiều nhàmáy của các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh ra đời Ngành côngnghiệp thép Việt Nam đã có thể sản xuất được thép tròn dài, thép hình nhỏ, thépống hàn và bắt đầu sản xuất thép tấm cán nguội
Các nhà máy sản xuất thép của nước ta hiện nay tập trung chủ yếu ở MiềnBắc và Miền Nam Ở Miền Bắc trên các tỉnh Thái Nguyên, Hải Phòng, HưngYên, Bắc Ninh Ở Miền Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu Trong tương lai, một số nhà máy luyện kim liên hợp sẽ được xâydựng ở Miền Trung như nhà máy luyện kim liên hợp 4,5 triệu tấn/năm ở HàTĩnh và Dung Quất, Quảng Ngãi
Trong những năm gần đây ngành thép Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởngcao, trên 18%/năm Năm 2006 Việt nam đã sản xuất được 4.743.000 tấn thépbao gồm thép thanh, thép dây, thép hình nhỏ, thép tấm lá cán nguội, thép ốnghàn và thép tấm mạ các loại, đáp ứng được gần 66% nhu cầu thép của đất nước.Sản lượng phôi thép năm 2006 đạt khoảng 1.100.000 tấn, đáp ứng được 33,4%nhu cầu phôi của cả nước Sản lượng phôi thép của nước ta, theo số liệu củaHiệp hội thép Việt nam, trong những năm gần đây được nêu trong hình 1
Hình 1 Sản lượng thép phôi của Việt nam
Trang 10Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghiệp thép Việt Nam vẫn đangmất cân đối giữa các khâu luyện gang, luyện thép và cán thép Ở Việt nam, phầnlớn thép được sản xuất bằng công nghệ lò điện hồ quang – đúc liên tục Ngànhsản xuất thép của Việt nam bắt đầu bằng 2 lò mactanh 50 tấn/mẻ tại Công tygang thép Thái Nguyên và 2 lò BOF 5 tấn/mẻ tại nhà máy Luyện cán thép GiaSàng Sau một số năm vận hành, Công ty đã chuyển sang lò điện hồ quang Hiệntại, ngành thép Việt nam sử dụng 100% công nghệ lò điện Điều này xuất phát
từ điều kiện thiếu gang lỏng của nước ta Gần đây nhiều nhà máy sản xuất phôithép đã được xây dựng và đi vào hoạt động như Hoà Phát, Đình Vũ, Lương Tài,Vạn Lợi …
Các lò điện sản xuất thép của Việt nam hiện rất nhỏ, trừ nhà máy thép Phú
Mỹ được trang bị lò điện hồ quang kiểu DANARC 70 tấn/mẻ mới được đưa vàovận hành Các lò điện này đã áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật như phun ô xy vàthan vào tạo xỉ bọt, dùng biến thế siêu cao công suất, sử dụng các loại vật liệuchịu lửa siêu bền, ra thép đáy lệch tâm …
Trong thời gian tới, ngành thép sẽ có những lò chuyển thổi ô xy 25 T, 50
T và đặc biệt khi xây dựng các nhà máy luyện kim liên hợp sẽ có lò chuyển thổi
ô xy 200 T
1.2 Các loại thép.[2]
Thép gồm hai nhóm lớn: thép cacbon và thép hợp kim
1.2.1 Thép cacbon
Chỉ chứa những tạp chất thông thường mà quá trình luyện để lại trong thép với tổng lượng thấp, không quá 2% Tính chất của thép cacbon do hàm lượng cacbon quyết định Về mặt công dụng được phân loại như sau:
- Thép kết cấu: (thép xây dựng và chế tạo máy) chứa từ 0.1% đến 0.7% C
- Thép dụng cụ: chứa hơn 0.7% C, rất cứng, dùng làm dao tiện, dao bao, mũi khoan, lưỡi dao cạo, dụng cụ mổ xẻ…
1.2.2 Thép hợp kim
Trang 11Là thép trong khi luyện được pha thêm những nguyên tố kim loại đặc biệt gọi là nguyên tố kết hợp như Si, Mn, Cr, Ni, Mo, W… để nâng cao rõ rệt các cơ tính và các tính chất khác nhau như không rỉ, chịu nóng, chịu axit…
Trang 12CHƯƠNG 2 :
Qui trình sản xuất thép
Trang 13Ngoài ra trong quặng sắt còn chứa hợp chất với hàm lượng rất nhỏ của một
số nguyên tố khác như lưu huỳnh, phôtpho, kẽm, asen…
Lưu huỳnh trong quặng sắt thường gặp ở dạng Ca3(PO4)3
Phôtpho cũng rất có hại cho chất lượng của thép, làm thép bị ăn mòn ởnhiệt độ thường
Các nguyên tố kim loại khác( như Cu, Ti, Cr, Mn, V) làm thay đổi tính chất
cơ lí của thép
Các quặng sắt có ý nghĩa để làm nguyên liệu luyện gang, thép gồm có:
Quặng sắt từ: Trong quặng này sắt ở dạng oxit sắt từ Fe3O4 Đây làquặng giàu sắt Quặng sắt từ giàu chứa từ 50 – 70% sắt Nó có từtính rất mạnh
Quặng sắt đỏ (hay gọi là hematit): Trong quặng này sắt ở dạng oxitsắt (III) không ngậm nước (Fe2O3) Hàm lượng sắt trong hematit 51 –66%; hàm lượng S và P trong quặng không lớn
Quặng sắt nâu Trong quặng này sắt ở dạng oxit sắt (III) ngậm nước(m Fe2O3.nH2O) Trong quặng này sắt nâu thường chứa photpho.Quặng nâu dễ bị khử hơn quặng sắt từ và quặng sắt đỏ
Hàm lượng Fe trong quặng sắt nâu dao động trong khoảng 37 – 55%
Quặng cacbonat (hay còn gọi là xederit) : trong quặng này, sắt chủyếu ở dạng FeCO3 Hàm lượng sắt thấp chỉ dao động trong khoảng
30 – 40% Loại quặng này ít được sử dụng
Ngoài các quặng sắt, người ta còn sử dụng các loại xỉ chứa nhiều các hợpchất sắt
Trang 14 Quặng mangan: loại quặng này mangan thường ở dạng MnO2,
Mn2O3, MnCO3
Quặng trước khi đưa vào lò luyện gang phải qua một số quá trinh gia côngnhư đập nghiền đến cỡ hạt từ 30 đến 80mm, sau đó qua quá trình thêu kết để vậtliệu được trở nên xốp do thoát bớt hơi nước, CO2 và một phần hợp chất của lưuhuỳnh bị cháy làm cho vật liệu có tính chất hóa lí thuận lợi cho quá trình chuyểnquặng thành gang
2.1.2 Than cốc ( hay than antraxit, than gỗ)
Có kích thước hạt thường lớn hơn quặng, đưa vào lò đồng thời với quặng,hoặc đưa vào riêng lẻ những vẫn từ miệng lò, nhiệm vụ chính của than là:
- Cháy để cung cấp nhiệt, để tiến hành các phản ứng như oxi hóa và đểlàm nóng chảy các chất
- Khử oxy của các oxit trong quặng chủ yếu là của sắt oxit
- Một phần C hòa tan vào sắt, tạo thành hợp kim gọi là gang
2.2.3 Chất trợ dung
Ngoài các oxit kim loại, quặng sắt còn chứa bẩn quặng là SiO2, Al2O3,CaO…Các bẩn quặng riêng lẻ có nhiệt độ nóng chảy rất cao(SiO2: 1625oC,
Al2O3: 2050 oC, CaO: 2370 oC) Trong lò cao, nhiệt độ cao nhất ở mắt gió là
1800 oC, thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của các hợp chất trên, cho nên cần đưavào lò các chất có khả năng làm giảm nhiệt độ nóng chảy của các oxit trên, chấtđó gọi là chất trợ dung Khi đưa chất trợ dung vào theo tỉ lệ nào đó nhiệt độ sẽgiảm xuống Ví dụ hỗn hợp gồm 47.3% SiO2 + 18.6% Al2O3 + 31.1% CaO, bắtđầu nóng chảy ở 1299 oC và đến 1400 oC thì chảy lỏng Nếu đưa vào tỉ lệ Cao/SiO2 thích hợp có thể khử được S có trong than và quặng
2.2 Chuẩn bị của nguyên liệu nạp vào lò cao.[4]
Một khía cạnh quan trọng của quá trình lò cao là sự chuẩn bị nguyên liệunạp, để đảm bảo dòng khí chạy quá cột liệu Quặng sắt được nạp ở dạng cục,thêu kết và vê viên Quặng cục là quặng khoáng tự nhiên được đập và sàng theomột kích thước nhất định trước khi chúng được sử dụng Tuy nhiên, từ kết quảcủa quá trình chuẩn bị và làm giàu cho khoáng quặng sắt để làm tăng hàm lượng
Trang 15sắt, quặng hạt mịn sẽ tích lúy lũy tăng dần và chúng phải qua xử lý tạo cục Qúatrình này được thực hiện bằng thêu kết hoặc vê viên.
Quá trình vê viên bao gồm sự tạo thành của quặng mịn và quặng cô cókích thước dưới 1mm thành quặng viên có đường kính 10 đến 15mm Để làmđược thế, hỗn hợp quặng được tạo ẩm và thêm các phụ gia kết dính Quặng viên
“ tươi” sau đó được tạo thành chong chóng quay hoặc đĩa quay Quặng viên tươiđược làm khô và đóng rắn ở nhiệt độ trên 1000 oC Qúa trình này được thực hiệntrong lò đứng hoặc lò quay hoặc lò chuyển động
Thêu kết ( tạo cục) được thực hiện các sàn thêu kết ( nhà máy thêu kết), ởđó các sàn với kích thước rộng hơn 4m và dài hơn 100m where Quá trình thêukết gồm có nạp hỗn hợp quặng mịn (quặng cám) với vụ coke, trợ dung, từ cáchồi liệu nhà máy và quặng hồi liệu cám từ ghi liệu tuần hoàn hoặc sàn thêu kết,
và đốt cháy hàm lượng vụn coke trên bề mặt ngọn lửa khí bởi 1 lò đốt mồi.Luồng khí hoặc không khí bị hút từ mặt đỉnh xuống đáy qua hỗn hợp liệu Ngọnlửa trước như thế sẽ chạy qua hết lớp liệu dày khoảng 500mm trong suốt chiềudài sàn thêu kết và tạo cục cho hỗn hợp thành cục quặng thô Nhà máy thêu kếtđược đặt gần lò cao trên hệ thống nhà máy sản xuất thép Nhà máy vê viên vàthêu kết có thể sản xuất 6 triệu tấn quặng viên và thêu kết trong 1 năm Tất cảcác chất mang quặng đều có chứa oxy, chúng phải được khử bỏ qua quá trìnhhoàn nguyên trong quá trình lò cao Để thực hiện điều đó, cacbon được sử dụng
Chất cacbon quan trọng nhất là coke lò cao, mà ngày nay được sản xuấttrong các nhà máy coke hóa hiện đại, môi trường thân thiện Qúa trình coke hóa( coking) là quá trình nung nhiệt than trong buồng coke yếm khí, trong quá trìnhtăng nhiệt độ nung các chất bốc như khí lò coke, H2S VÀ NH3 được thải ra và táichế cho các mục đích sử dụng khác
Trang 16Hình 2 : Mô hình nguyên liệu được đưa vào lò.
Hình 2 Mô hình các công đoạn sản xuất thép
2.3 Sản xuất kim loại (gang) lỏng.[5]
Khí nóng hay khi thổi có nhiệt độ khoảng 1200 oC được thổi qua hệ thốngdẫn vào phần dưới của lò cao để tạo khí hoàn nguyên Cacbon trong coke vùngnày sẽ hóa khi do bị oxy hóa và tạo khí hoàn nguyên (CO), quá trình cháy tạonhiệt ở đây lên đến 2200 oC Khí tạo thành chạy lên trên, liên kết với Oxy, hayhoàn nguyên quặng Khí chạy lên trên sẽ nung nóng nguyên liệu Một phần nhỏcacbon tan vào gang, làm chảy nhiệt độ chảy lỏng của kim loại lỏng Cácnguyên tố lẫn trong nguyên liệu nạp tạo thành xỉ lỏng và xỉ được tập hợp ở vùngdưới lò cao (đáy) và tháo ra ở vùng dưới lò với nhiệt độ khoảng 1500 oC qua lỗtháo Kim loại lỏng và xỉ được tách bằng hệ thống dẫn lót gạch chịu lửa và dẫnđến lò chứa kim loại lỏng và lò chứa xỉ lỏng tương ứng Để tối ưu hóa quá trình
và giảm chi phí sản xuất, chất mang cacbon như than, dầu hoặc các chất thảinhựa dẻo được phun vào làm chất thay thế coke qua hệ thống tuyển Hoạt độngcủa lò cao không có coke là không thể được Coke được duy trì trong làm chấttạo cấu trúc cứng trong các vùng của lò cao khi quặng biến mềm hoặc chảy lỏng,
Trang 17nhờ đó nó đảm bảo khí chạy thông suốt và coke làm nhiệm vụ tạo cấu trúc nâng
đỡ cột liệu rắn
Các quá trình được phát triển, mặc dù hòan nguyên quặng không sử dụngcoke Chúng được gom nhóm theo thuật ngữ “ hoàn nguyên trực tiếp” và “ hoànnguyên nóng chảy”
Hoàn nguyên trực tiếp không tạo ra kim loại lỏng, nó hoạt động ở nhiệt độthấp hơn so với quá trình lò cao, Chỉ có oxy được tách khỏi quặng, và các phần
tử đất chảy trong quặng vẫn được duy trì trong các sản phẩm hoàn nguyên.Trong hầu hết quá trình hoàn nguyên trực tiếp khí hoàn nguyên được sản sinhbằng cách chuyển hóa khí thành H2 và CO Sản phẩm hoàn nguyên được nạptrực tiếp vào lò điện hồ quang
Quá trình hoàn nguyên nóng chảy hoạt động qua hai giai đoạn Đầu tiêntất cả quặng được hoàn nguyên thành sắt xốp, và sau đó được chuyển thành kimlỏng, tương tự quá trình lò cao, các nhiên liệu là vào than và Oxy
Phương pháp hoàn nguyên nóng chảy, chỉ có công nghệ corex được sửdụng trong công nghiệp
Vì nhiều lí do về hiệu quả chi phí, cả hai quá trình bị ràng buộc theo cácvùng nhất định và cấu hình nhà máy cho thấy còn lâu nữa chúng ta mới có sảnlượng như lò cao
Lò cao sản lượng lớn (đáy có đường kính khoảng 15m, dung tích khoảng
6000 m3) sản xuất khoảng 12000 tấn kim loại một ngày hoặc 4 triệu tấn năm.Nghĩa là để lò cao hoạt động được như vậy, cần có lượng vật liệu trung bình mỗingày là 19200 tấn quặng sắt, 4000 tấn quặng coke, 1750 tấn than bột, 11 triệu m3
khí thổi được nung nóng đến nhiệt độ 1200oC Và lượng xỉ tích lũy mỗi ngàykhoảng 3300 tấn, chúng được sử dụng làm vật liệu xây dựng trong công nghiệp
xi măng và xây dựng đường xá, như vậy khoảng 17 triệu m3 khí, sau khi đượclàm sạch, được sử dụng nhờ nhiệt năng của nó
Thời gian hoạt động( đời lò), nghĩa là thời gian trong suốt thời hoạt độngcho đến khi lớp lót chịu lửa được thay thế hoàn toàn, ngày nay vào khoảng 15 –
20 năm
Trang 182.4 Sản xuất thép thô.[6]
Kim loại lỏng có chứa hàm lượng lớn các chất như C, Si, S và P Chúng
sẽ được khử trong quá trình luyện thép lò thổi Oxy để luyện thép thô
Từ kim loại lỏng thành thép thô Các tạp chất được Oxy hóa trong lòchuyển oxy thổi đỉnh, ống thổi Oxy được làm nguội bằng nước Một lượng nhấtđịnh thép phế, chiếm 25 % tổng lượng liệu nạp, được thêm vào làm phụ gia làmnguội, do quá trình Oxy hóa sinh ra lượng nhiệt rất lớn
Lò chuyển có thể chứa đến 400 tấn thép thô Ngoài kim loại lỏng và thépphế, đá vôi được sử dụng với mục đích tạo xỉ và cùng các chất hợp kim hóa.Qúa trình thổi luyện kéo dài khoảng 20 phút Ngày nay bên cạnh việc thổi Oxynguyên chất ở đỉnh, người ta sử dụng công nghệ thổi khí trơ hoặc Oxy ở đáy đểtăng cường khuấy trộn cường hóa quá trình
Thép phế - lưu trình lò điện hồ quang
Sự gia tăng tầm quan trọng của lưu trình được chú trọng để tái sử dụngthép phế là vì lí do sử dụng tối ưu nguyên liệu thô và bảo vệ môi trường Tái chếthép là vì nó đem lại tính thực tế về khía cạnh kinh tế Việc sử dụng các thiết bịnấu chảy lò điện hồ quang là vì hồ quang chuyển năng lượng điện thành nhiệtnăng có hiệu suất cao và mật độ năng lượng lớn
Dòng điện không thể đơn giản lấy từ các hệ thống công cộng Bằng việc
sử dụng máy biến thế, để chuyển dòng điện có điện thế cao thành dòng điện cóthế thấp (600 đến 1000V) dòng cao (55 đến 78kA) Tham số quan trọng nhất của
1 lò hồ quang là năng lượng riêng của biến thế theo quan hệ với 1 tấn liệu nạp,theo đó giá trị tương ứng đã đạt được lên đến 1000kVA Điện cực Graphit dẫndòng điện và tạo hồ quang cho liệu kim loại
Các phần tử cấu trúc chính của lò hồ quang là vỏ lò với hệ thống tháo ởđáy lệch tâm và cửa thao tác, vòm di chuyển cùng các điện cực, và cơ cấunghiêng lò Vỏ lò có lớp gạch chịu lửa
Trọng lượng mẻ thép lò hồ quang ngày nay có thể lên đến 200 tấn, với sảnlượng hàng năm khoảng 1,5 triệu tấn