Báo cáo này nhằm mục đích: 1 Tóm tắt những quan điểm đánh giá tác động của dân số đến tăng trưởng và phát triển kinh tế với những luận điểm mang tính lý thuyết cũng như các nghiên cứu th
Trang 1CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG Ở VIỆT NAM:
CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
GIANG THANH LONG Khoa Kinh tế học, ĐH Kinh tế Quốc dân
Email: longgt@neu.edu.vn
BÙI THẾ CƯỜNG Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ Email: cuongbuithe@yahoo.com
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ dự án VNM7PG0009 của Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình do Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại Đại học Kinh tế Quốc dân; Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ; Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, Vụ Bảo hiểm xã hội và Vụ Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội); Viện chiến lược và chính sách y tế (Bộ Y tế) và Viện Khoa học Tài chính (Bộ Tài chính) đã cung cấp các tài liệu tham khảo cũng như chia sẻ, tranh luận các quan điểm chính sách Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ dự án, đặc biệt là ông Đinh Công Thoan, bà Tạ Thanh Hằng, bà Trịnh Thị Khánh, ông Nguyễn Văn Tân và ông Ngô Khang Cường (Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình) và ông Bùi Đại Thụ, bà Trần Thị Vân và bà Lê Thị Phương Mai (UNFPA Hà nội), đã tạo điều kiện tốt nhất cũng như góp ý cụ thể để chúng tôi có thể cải thiện nội dung báo cáo này Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và các vấn đề xã hội, ĐH Kinh tế Quốc dân) vì những trao đổi, góp ý sâu sắc với báo cáo
Chúng tôi xin chịu trách nhiệm về mọi phân tích và quan điểm chính sách trong báo cáo Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình, Quỹ Dân số Liên hợp quốc và các tổ chức, cá nhân liên quan không chịu trách nhiệm về các quan điểm
đó Mọi góp ý xin gửi đến Giang Thanh Long qua email longgt@neu.edu.vn
Trang 3MỤC LỤC
1 Ba luận điểm về mối liên hệ dân số và tăng trưởng kinh tế 12
2 Cơ cấu dân số vàng và tăng trưởng kinh tế ở một số nước 14 III DÂN SỐ VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU TUỔI VÀ GIAI ĐOẠN CƠ CẤU
VÀNG
23
1 Đặc điểm cơ cấu tuổi của dân số Việt Nam trong thời gian qua 23
2 Dự báo dân số và giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” ở Việt Nam 25
IV CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC KHUYẾN
NGHỊ CHÍNH SÁCH
28
2 Chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực 34
Trang 4TÓM TẮT
Từ lâu, các nhà dân số học đã nỗ lực tìm hiểu tác động qua lại giữa dân số và kinh
tế Những năm gần đây, các nhà dân số học càng quan tâm đến các hiện tượng dân
số với nhiều thuật ngữ như “cửa sổ dân số”, “cơ hội dân số”, “cơ cấu dân số vàng”
và “lợi tức dân số” Báo cáo này nhằm mục đích: (1) Tóm tắt những quan điểm đánh giá tác động của dân số đến tăng trưởng và phát triển kinh tế với những luận điểm mang tính lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực chứng ở một số nước trên thế giới, (2) Phân tích tình hình biến động cơ cấu dân số theo tuổi ở Việt Nam trong thời gian qua và chỉ ra giai đoạn mà “cơ cấu dân số vàng” xuất hiện với những thời
cơ và thách thức, và (3) dựa trên kinh nghiệm và nghiên cứu thực chứng trong nước
và quốc tế, báo cáo gợi ý các nhóm chính sách quan trọng để tận dụng triệt để cơ hội dân số này cho quá trình tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam trong những thập
kỷ tới
Trang 5TÓM TẮT CHI TIẾT
Các dự báo dân số Việt Nam đều cho thấy kỷ nguyên “dân số vàng” sẽ xuất hiện ở Việt Nam trong một vài năm nữa, và đây là cơ hội “vàng” để Việt Nam hạ thấp tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Báo cáo này dựa trên các dự báo dân số đó để chỉ ra sự biến động cơ cấu tuổi của dân số theo thời gian để thấy được sự biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi ở Việt Nam trong quá khứ và tương lai Để tận dụng được cơ cấu dân số vàng, báo cáo tập trung phân tích cơ hội, thách thức và đưa ra một số kiến nghị cho bốn nhóm chính sách chủ yếu, đó là chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực; chính sách dân số và y tế; và chính sách an sinh xã hội toàn diện hướng đến dân số già trong vài thập kỷ nữa
Cơ hội, thách thức và một số khuyến nghị chính sách chủ yếu của bốn nhóm chính sách này như sau:
Chính sách giáo dục và đào tạo:
- Giảm bớt đào tạo giáo viên tiểu học và PTCS; giảm xây trường lớp tiểu học
và PTCS; tăng cường nguồn lực cho nâng cao chất lượng
Trang 6- Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao động
- Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng, hành vi và kiến thức xã hội, đặc biệt cho thiếu niên, thanh niên
- Cải thiện chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu khách quan
- Khuyến khích người cao tuổi có trình độ chuyên môn, kỹ năng, đặc biệt trong các ngành kỹ thuật, sản xuất, tiếp tục tham gia đóng góp cho việc đào tạo
Chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực:
Cơ hội:
- Lực lượng lao động lớn và trẻ
- Nếu lao động có kỹ năng, Việt Nam có thể trở thành đối tác sản xuất tốt của các nước phát triển
- Lợi tức “vàng” được phát huy tối đa khi tỷ lệ lao động có việc làm cao
- Người cao tuổi, đặc biệt là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiếp tục làm việc là nguồn nhân lực tốt
Thách thức:
- Lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu kỹ năng
- Thị trường lao động bất bình đẳng về giới
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao, số lượng lớn trong khi ruộng đất ít
- Tỷ lệ thất nghiệp (dù là tạm thời) của thanh niên rất lớn
Khuyến nghị chính sách:
- Đa dạng hóa ngành nghề ở khu vực nông thôn và thúc đẩy chất lượng của
các ngành sử dụng nhiều lao động
- Tăng cơ hội việc làm, đặc biệt là cho thanh niên
- Bình đẳng giới trên thị trường lao động
- Lập chiến lược toàn diện về phát triển nguồn nhân lực, trong đó đào tạo nghề đóng vai trò quan trọng
- Đảm bảo nguồn tài chính cho đầu tư, tăng trưởng
- Chính sách di dân đảm bảo phân bố dân số và lao động hợp lý cho các vùng, khu vực
Trang 7- Thúc đẩy xuất khẩu lao động với vai trò tạo việc làm và thu nhập có chất lượng
Chính sách dân số và y tế:
Cơ hội:
- Dân số trẻ em giảm nên có nhiều nguồn lực hơn cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; giảm tỷ lệ chết trẻ sơ sinh và trẻ em; giảm suy dinh dưỡng…
- Dù tiềm năng sinh đẻ tăng lên (vì phụ nữ 15-49 tăng cho đến 2020) nhưng với trình độ giáo dục được nâng cao và ý thức kế hoạch hóa gia đình đã phổ biến và bền vững nên chính sách dân số phù hợp sẽ thúc đẩy việc giảm tốc
độ tăng dân số và nâng cao chất lượng nhân lực
- Dân số cao tuổi tăng nhưng nếu khỏe mạnh sẽ đóng góp đáng kể cho nền kinh tế bằng cách hoạt động kinh tế và giảm thiểu chi phí y tế
- Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em còn lớn, nhất là miền núi
- Xu hướng và nguyên nhân chết thay đổi nhanh chóng
- Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của các nhóm dân số rất khác nhau
- Bạo lực gia đình, lao động trẻ em… làm giảm chất lượng dân số trẻ tuổi và dẫn đến nhiều tổn thất xã hội
- Sức khỏe vị thành niên đối mặt với các thách thức đáng báo động
- Dân số già và yếu sẽ gây ra gánh nặng lớn cho cả xã hội
Khuyến nghị chính sách:
- Chính sách kế hoạch hóa gia đình và chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải thực hiện linh hoạt, tùy thuộc điều kiện từng vùng, khu vực Tuyên truyền giá trị gia đình ít con và có chất lượng
- Chính sách di cư thúc đẩy việc phân bố dân số và phân công lao động phù hợp hơn cho từng vùng, khu vực
- Đầu tư sâu rộng hơn vào các chương trình chăm sóc bà mẹ và trẻ em
Trang 8- Đẩy mạnh giáo dục và cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản
- Thúc đẩy cộng đồng, các tổ chức tham gia việc chống lại nạn bạo hành, ngược đãi phụ nữ, trẻ em…
Chính sách an sinh xã hội toàn diện hướng về dân số già:
- Lao động cao tuổi có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy giá trị truyền thống của gia đình, dân tộc – các yếu tố “an sinh” hết sức quan trọng hiện nay
Thách thức:
- Hộ gia đình – nguồn “an sinh” chủ yếu hiện nay của người cao tuổi – có thể
bị phá vỡ cơ cấu do tác động của biến đổi kinh tế và dân số (do ít con hoặc con cái di cư…)
- Hệ thống hưu trí hiện nay sẽ đối mặt với thách thức tài chính và công bằng, một phần là do dân số già trong tương lai
- Các chương trình mục tiêu dành cho các nhóm yếu thế được thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả cao
Khuyến nghị chính sách:
- Cần cải cách hệ thống hưu trí hiện nay sang tài khoản cá nhân với bước chuyển tiếp là tài khoản cá nhân tượng trưng Đa dạng hóa các hình thức bảo hiểm để các nhóm đối tượng có khả năng tiếp cận tốt hơn
- Hệ thống trợ cấp xã hội cần hướng đến hình thức phổ cập
- Bảo vệ người cao tuổi trước các rủi ro về y tế, thu nhập… bằng các hình thức bảo hiểm đa dạng, trong đó có BHXH tự nguyện và bảo hiểm bổ sung tuổi già cần được chú trọng ngay từ bây giờ
- Chú trọng vào các chương trình trợ cấp để giảm nghèo cho trẻ em và thanh niên
Ngoài những chính sách cụ thể trên, việc nhận thức đúng vai trò của dân số trong phát triển, tạo môi trường chính sách phù hợp để các yếu tố dân số phát huy
Trang 9và thúc đẩy việc nghiên cứu chính sách dân số thiết thực, có trọng tâm là những bước cần làm đối với các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
Trang 10“Thất bại trong việc tận dụng các cơ hội dân số có thể tác động tiêu cực đến triển vọng tương lai một khi tình trạng thất nghiệp lan rộng, các quan hệ xã hội bị xói mòn và các nguồn lực bị cạn kiệt bởi dân số già hóa Biến động dân số tác động một cách cơ bản và mạnh mẽ đến
cơ cấu hộ gia đình, đến vị thế của phụ nữ và trẻ em, và đến cách thức lao động… Các nhà hoạch định chính sách phải nắm bắt được xu hướng biến động dân số và xây dựng các chính sách nhằm tận dụng những tác động tích cực của những biến động đó đến tăng trưởng kinh tế… Đánh giá và hiểu đúng các thách thức về nhân khẩu học cần phải
là một ưu tiên của chính phủ các nước…”
Bloom, D E., D Canning, and J Sevilla (2003) The Demographic Dividend A New Perspective on the Economic Consequence of Population Change: trang 82 Santa Monica, CA: RAND
Trang 11
I GIỚI THIỆU
Trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều nước đã trải qua giai đoạn bùng nổ dân số với tỷ suất sinh tăng đột biến gắn liền với tỷ suất chết giảm mạnh Trước bối cảnh đó, chính phủ các nước đã nỗ lực kiểm soát dân số khiến cho tỷ suất sinh giảm
và tốc độ tăng dân số chậm lại Hệ quả của các chính sách dân số này là quá trình chuyển đổi cơ cấu tuổi diễn ra nhanh chưa từng có với những hàm ý chính sách quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Một vấn đề quan trọng đã và đang được chính phủ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bàn luận đến trong chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình dân số nêu trên là tận dụng “cơ cấu dân số vàng” Lý do cơ bản của mối quan tâm này là “cơ cấu dân số vàng” – tình trạng dân số với tỷ lệ phụ thuộc thấp và tỷ lệ dân
số trong độ tuổi lao động cao – sẽ không kéo dài mãi mãi và “lợi tức” từ cơ cấu
“vàng” sẽ không tự đến nếu chính phủ các nước không có chính sách phù hợp Bloom và cộng sự (2003), Ross (2004), Mason và cộng sự (2008) và nhiều nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra điều này bằng các nghiên cứu thực chứng cho nhiều nước với trình độ phát triển kinh tế khác nhau
Dân số Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau cùng với những biến động lịch sử nên đã chứng kiến sự thay đổi lớn về tỷ suất sinh và tỷ suất chết Với chính sách kế hoạch hóa gia đình được tiến hành từ những năm 1960 cho đến nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm nhanh chóng từ mức 4,8 năm 1979 xuống mức 2,33 vào năm 1999 và 2,08 vào năm 2007, tức là tổng tỷ suất sinh đã đạt mức thay thế Gắn liền với quá trình này là biến động của tỷ số phụ thuộc chung giảm từ mức 98 vào năm 1979 xuống 70 vào năm 1999 và 54 vào năm 2007 (Tổng cục Thống kê, 2008) Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học với sự biến động mạnh mẽ của cơ cấu dân số theo tuổi, trong đó dân số trong độ tuổi lao động đang gia tăng nhanh và tỷ số phụ thuộc chung giảm mạnh Cũng trong giai
đoạn này, chính sách cải cách từ công cuộc Đổi mới đã chuyển Việt Nam từ một
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường với những thành tựu kinh tế và xã hội hết sức ấn tượng (Haughton và cộng sự, 1999, 2001; Glewwe và cộng sự, 2004)
Để phát huy được các thành tựu đó, chiến lược dân số phải trở thành một trong những chiến lược quan trọng hàng đầu cho giai đoạn phát triển KT-XH tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu cơ bản trở thành một nước công
Trang 12nghiệp và được xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình Trong hàng loạt câu hỏi chính sách và chiến lược có liên quan đến dân số thì một số câu hỏi hết sức quan
trọng cần phải được nghiên cứu, phân tích cụ thể như biến động cơ cấu tuổi ở Việt
Nam đang và sẽ diễn ra theo xu hướng nào; giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” diễn ra trong thời gian nào và Việt Nam phải có chiến lược, chính sách gì thích ứng để tận dụng triệt để “cơ cấu dân số vàng” của mình nhằm duy trì tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội Nhu cầu nghiên cứu vấn đề này thực sự cấp bách bởi vì, cùng với sự gia tăng của dân số trong độ tuổi lao động, dân số Việt Nam cũng sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số trong một vài năm tới với những dấu hiệu rõ rệt từ cuối những năm 1990 (Giang và Pfau, 2007; Nguyễn Thế Huệ, 2008) Không tận dụng được giai đoạn “vàng” của dân số, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi tỷ số phụ thuộc chung lại có xu hướng tăng với tác động chủ yếu từ sự gia tăng tỷ số phụ thuộc người già
Đáp ứng nhu cầu đó, báo cáo này sẽ cung cấp cơ sở và luận chứng về tác động của “cơ cấu dân số vàng” như một cơ hội dân số tốt nhất đến tăng trưởng thông qua tóm tắt các luận điểm lý thuyết và nghiên cứu thực chứng ở một số nước trên thế giới Báo cáo cũng sẽ phân tích số liệu quá khứ và một số dự báo dân số Việt Nam hiện có nhằm chỉ ra giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” và gợi ý những nhóm chính sách quan trọng để có thể tận dụng cơ hội dân số này
Báo cáo gồm có năm phần chính Trong phần II tiếp theo, chúng tôi sẽ tóm lược các luận điểm lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc đưa yếu tố dân số vào chính sách tăng trưởng kinh tế Phần III trình bày tổng quan những đặc điểm cơ cấu tuổi dân số và giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” ở Việt Nam, trong khi phần IV chỉ ra cơ hội, thách thức cũng như một số đề xuất chính sách cho giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” Trong phần V, chúng tôi sẽ trình bày một vài kết luận của báo cáo
NGHIỆM CÁC NƯỚC
Trong những năm gần đây, yêu cầu tìm hiểu và đánh giá cụ thể hơn mối quan
hệ giữa biến động dân số với tăng trưởng kinh tế ngày càng cấp thiết hơn Đặc biệt
1
Phần này dựa chủ yếu vào nghiên cứu của Bloom và cộng sự (2003)
Trang 13với các nước đang phát triển đang trải nghiệm những biến động dân số mạnh mẽ do tác động của các chính sách dân số thì nhu cầu này lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết Cho đến nay, lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm về mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế với những lý luận và bằng chứng khác nhau: (1) Lý thuyết dân số học “bi quan” với lập luận chủ yếu là tăng dân số tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; (2) Lý thuyết dân số học “lạc quan” lại cho rằng tăng dân
số có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; và (3) Lý thuyết dân số học “trung tính” cho rằng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác
Người khởi xướng lý thuyết này là Thomas Malthus thông qua cuốn sách
Thực chứng về quy luật dân số của ông viết năm 1789 Ông cho rằng, trong bối
cảnh nguồn lực bị giới hạn, nhu cầu lương thực ngày càng tăng và tiến bộ công nghệ chậm chạp sẽ làm trầm trọng hơn sức ép từ việc tăng dân số Vì thế, nhu cầu lương thực sẽ luôn thấp hơn mức cần thiết và điều này sẽ chỉ dừng lại khi mức tăng dân số bị chậm lại do tỷ lệ chết cao hơn Đặc biệt từ cuối thập niên 1940 cho đến những năm 1970, hàng loạt nghiên cứu với luận điểm “bi quan” cho rằng dân số ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì dân số tăng nhanh sẽ đe dọa đến nguồn cung lương thực và tài nguyên tự nhiên Các nhà hoạch định chính sách ủng
hộ luận điểm này đã tiến hành thực hiện hàng loạt chính sách dân số nghiêm ngặt nhằm giảm tỷ lệ sinh Họ cho rằng tốc độ tăng dân số chậm sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế vì nguồn lực sẽ được tiết kiệm và sử dụng cho mục đích thúc đẩy tăng trưởng thay vì được sử dụng cho mục đích sinh sản, cũng như góp phần giảm tải cho cơ sở hạ tầng và môi trường Một ví dụ được đưa ra là những cải tiến trong nông nghiệp ở Trung Quốc đã góp phần cải thiện đời sống, nhưng vì tăng trưởng dân số quá nhanh nên mức cải thiện đó hầu như không đáng kể
Vào đầu những năm 1980, hàng loạt nghiên cứu thực chứng đã chỉ ra những lập luận không thuyết phục của lý thuyết dân số học “bi quan”, trong đó quan trọng nhất là lý thuyết này không tính đến tầm quan trọng của công nghệ và mức tích tụ nhân lực trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nghiên cứu này – thuộc nhóm lý thuyết dân số học “lạc quan” – cho rằng tăng dân số có thể tạo ra
Trang 14một nguồn lực kinh tế quan trọng Họ lập luận rằng dân số tăng lên cũng có thể làm tăng mức tích tụ nhân lực và quốc gia có dân số lớn có thể tận dụng tính quy mô để hấp thụ các tri thức, công nghệ cần thiết cho tăng trưởng Nghiên cứu của Simon (1981) [theo trích dẫn của Bloom và cộng sự, 2003] chỉ ra rằng tăng dân số nhanh
có thể có những tác động tích cực đến phát triển kinh tế vì dân số tăng có thể tạo sức ép phải cải tiến công nghệ sản xuất – một nhân tố quan trọng của tăng trưởng dài hạn Một ví dụ khác là “Cách mạng xanh” từ những năm 1950 đã làm tăng sản lượng nông nghiệp thế giới lên gần bốn lần dù chỉ sử dụng thêm 1% đất đai, và nó
đã giải quyết được nhu cầu cho một lượng lớn dân số
Vào đầu những năm 1990, một nhóm các nhà dân số học khác lại đánh giá tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở một góc độ rộng hơn và thận trọng hơn Họ đại diện cho những người theo lý thuyết dân số học “trung tính” với quan điểm cho rằng tăng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau mà những kênh này có thể lại tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ví dụ, Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm của hàng loạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do nhân tố dân số Ba lĩnh vực quan trọng được tập trung nghiên cứu trong dòng lý thuyết này nhằm đánh giá tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế là tài nguyên tự nhiên, tiết kiệm, và phương thức đa dạng hóa nguồn lực
Từ những tóm tắt nêu trên, một điều hết sức rõ ràng là chúng ta có thể ủng hộ bất kỳ luận điểm nào trong số ba luận điểm nêu trên khi phân tích tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế nếu có thể xây dựng được các mô hình lý thuyết và thực chứng với những số liệu cần thiết để bảo vệ luận điểm của mình Tuy nhiên, điểm chung nhất có thể thấy là các lý thuyết này đánh giá tác động của tăng dân số đến tăng trưởng và phát triển kinh tế chủ yếu qua hai nhân tố chính là tốc độ tăng dân số và quy mô dân số, nhưng lại đã bỏ qua một cấu thành hết sức quan trọng là
cơ cấu tuổi của dân số Cơ cấu tuổi thể hiện sự phân bố tổng dân số theo các độ tuổi
hay nhóm tuổi khác nhau Do mỗi nhóm tuổi trong dân số có một đặc trưng khác nhau (ví dụ như lao động, tiêu dùng…) nên chúng sẽ có những tác động khác nhau
về mặt kinh tế Ví dụ, nhóm dân số trẻ cần được đầu tư nhiều cho sức khỏe và giáo
Trang 15dục để có thể tạo ra một lực lượng lao động tốt, trong khi nhóm dân số cao tuổi cần được đầu tư một hệ thống chăm sóc y tế tốt cùng với một hệ thống hưu trí và trợ cấp
xã hội bền vững Khi quy mô của các nhóm tuổi này thay đổi cũng đồng nghĩa với sức ép và cơ hội kinh tế sẽ thay đổi theo bởi chúng sẽ tác động đến mức tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người Vì lý do này mà bên cạnh việc quan tâm đến quy mô và tốc độ thay đổi dân số, các nhà hoạch định chính sách cần phải tính đến sự thay đổi cơ cấu tuổi của dân số trong các chiến lược phát triển của mình Nói
cụ thể hơn, họ phải tính toán xem khi nào dân số đạt được “cơ cấu vàng”, cơ cấu này sẽ kéo dài trong bao lâu, và phải tận dụng cơ cấu này thế nào cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội
Vậy “cơ cấu dân số vàng” là gì và các nước đã áp dụng các chiến lược, chính sách gì để tận dụng nguồn lực dân số trong bối cảnh đó? Phần tiếp theo sẽ trả lời các câu hỏi này
Khi bàn luận tác động của dân số đến phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt đối với các chương trình, chính sách xã hội dài hạn, chúng ta thường đề cập đến khả năng “gánh đỡ” của bộ phận dân số lao động đối với bộ phận dân số phụ thuộc Nói cách khác, chúng ta bàn luận về tỷ số phụ thuộc của dân số Có ba tỷ số phụ thuộc,
đó là tỷ số phụ thuộc trẻ em (được tính bằng tỷ số giữa số trẻ em với 100 người trong độ tuổi lao động); tỷ số phụ thuộc già (được tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi với 100 người trong độ tuổi lao động); và tỷ số phụ thuộc chung (được tính bằng tổng hai tỷ số phụ thuộc trên).2 Tỷ số phụ thuộc chung cho biết trung bình 100 người trong độ tuổi lao động phải “gánh đỡ” cho bao nhiêu người ngoài độ tuổi lao động Khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50 thì “gánh nặng” thấp bởi trung bình một người ngoài độ tuổi lao động được “hỗ trợ” bởi hơn hai người trong độ tuổi lao động Khi dân số đạt được tỷ số phụ thuộc chung như vậy, chúng ta coi dân số đó đang đạt “cơ cấu vàng” “Cơ cấu dân số vàng” sẽ kết thúc khi tỷ số phụ thuộc chung bắt đầu tăng trở lại và vượt ngưỡng 50 Theo Ross (2004), khi dân số trong giai
2
Lưu ý, tùy thuộc vào định nghĩa độ tuổi lao động của mỗi nước mà tỷ số phụ thuộc chung tính khác nhau
Ví dụ, hầu hết các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tính tỷ số phụ thuộc chung bằng tỷ số giữa tổng dân số dưới 16 tuổi và trên 65 tuổi với 100 người độ tuổi 16-64 tuổi Trong báo cáo này, khi đề cập đến “cơ cấu dân số vàng” của Việt Nam, chúng tôi ngụ ý rằng tỷ số phụ thuộc chung được tính bằng tỷ số giữa tổng số trẻ em (0-14) và người già (60 trở lên) với 100 người trong độ tuổi lao động (15-59)
Trang 16đoạn “cơ cấu vàng”, nguồn lực đầu tư cho nhóm dân số trẻ sẽ cần ít hơn và có thể được sử dụng vào phát triển kinh tế và phúc lợi hộ gia đình Những lợi ích kinh tế
có được từ sự thay đổi cơ cấu dân số được gọi là “lợi tức dân số” và vì thế “lợi tức dân số vàng” là mục tiêu mà chính phủ các nước phải tận dụng triệt để khi dân số đạt cơ cấu “vàng”
Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy tác động của biến động dân
số đến tăng trưởng kinh tế ở mức độ nào phụ thuộc vào cách thức biến động cơ cấu tuổi dân số cũng như một số các nhân tố môi trường, chính sách Nhìn chung, tốc độ tăng dân số cao có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng mức giảm này phụ thuộc vào điều kiện tăng trưởng và xuất phát điểm của từng nền kinh tế, từng khu vực
Hình 1 Quan hệ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, 1975-2004
Chú thích: Các đường trong các hình vẽ thể hiện quan hệ giữa tốc độ tăng GDP bình quân đầu người với tốc độ tăng dân số trong giai đoạn 1975-2004
Nguồn: Cục Tham chiếu Dân số (2007)
Hình 1 mô tả mối quan hệ giữa tăng dân số và tăng trưởng kinh tế ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi trong giai đoạn 1975-2004 Có thể thấy, tăng dân số có tác động rất khác nhau với từng khu vực và quốc gia Ví dụ, cùng với
-1 0 1 2 3 4 5 6 7 8
population Declining
Nicaragua
Dominican Republic Trinidad and Tobago
Tốc độ tăng dân số
-1 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Population Growth Rate
GDP per Capita Growth Rate
Growing population
Growing economy Declining population
Declining economy
Botswan
Lesoth Sierra
Tốc độ tăng
dân số
-1 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Population Growth Rate
GDP per Capita Growth Rate
Growing population
Growing economy Declining population
Giảm
-1 0 1 2 3 4 5 6 7 8
Growing Declining
population Declining
Trang 17tốc độ tăng dân số khoảng 1,5% trong giai đoạn 1975-2004 nhưng Trung Quốc có tốc độ tăng GDP bình quân đầu người ở mức 7,4%, trong khi Trinidad và Tobago chỉ đạt khoảng 3,5%
Hình 2 Giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” ở một số nước trên thế giới
Nguồn: Cục Tham chiếu Dân số (2007)
Hình 2 thể hiện thời gian diễn ra “cơ cấu dân số vàng” của một số nước trên thế giới Rõ ràng, mỗi nước sẽ có một giai đoạn dân số đạt “cơ cấu vàng” khác nhau với thời điểm xuất phát và kết thúc khác nhau, phụ thuộc vào biến động dân số của nước đó Biến động dân số, cụ thể là mức sinh và mức chết, tác động đến phân bố tuổi dân số và tạo ra “cơ cấu dân số vàng” – là một cơ chế tiềm tàng tác động đến thành công kinh tế Tuy vậy, điều đó sẽ chỉ xảy ra khi một nước có các thể chế xã
hội, kinh tế, chính trị cũng như các chiến lược, chính sách thích hợp cho phép hiện
thực hoá tiềm năng tích cực của quá trình dân số Điều này đã xảy ra với một số
nước trên thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khi tận dụng được
cơ hội dân số cho phát triển kinh tế kể từ những năm 1960 đến nay
Khu vực Đông Á
Quá độ dân số của khu vực Đông Á diễn ra nhanh hơn (chỉ khoảng 50 đến 75 năm) so với nhiều khu vực khác trên thế giới Phân tích của nhiều nghiên cứu chỉ ra một số nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng của khu vực này, đó là nguồn nhân lực tốt, tăng trưởng việc làm cao, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao Giai đoạn phát triển
Poland
Trang 18“thần kỳ” chứng kiến tỷ lệ chi cho giáo dục và y tế tăng lên nhanh chóng và gắn liền với chúng là sự tăng trưởng mạnh về việc làm và năng suất lao động trong các ngành dịch vụ và sản xuất, cũng như năng suất lao động của khu vực nông nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan) Kết quả đó nhờ một phần vào sự sụt giảm nhẹ của tổng tỷ suất sinh bởi vì dân số trong độ tuổi đến trường giảm nên tăng chi tiêu cho giáo dục có thể thực hiện được mà không cần phải tăng quá nhiều thuế, và bản thân các hộ gia đình có thu nhập cao hơn nên cũng có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục và y tế Kết quả là nguồn nhân lực của khu vực này được cải thiện đáng kể Một điểm nhấn khác cũng rất quan trọng là vấn đề bình đẳng giới trong y
tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực xã hội đã được quan tâm trong chính sách phát triển của các nước Đông Á, và kết quả là tỷ lệ lao động nữ ngày càng tăng và điều này giúp cải thiện được vị thế và sức khỏe sinh sản của họ Tiết kiệm và đầu tư cũng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế “thần kỳ” của khu vực này Bên cạnh các nhân tố quan trọng đó, kết luận về sự phát triển của khu vực Đông Á là các nước này đã tạo được một môi trường kinh tế và chính trị thuận lợi có khả năng khai thác tất cả các cơ hội từ lợi tức dân số Nghiên cứu định lượng của Bloom và Williamson (1998) cho thấy quá trình chuyển đổi dân số có đóng góp quan trọng vào thành tựu tăng trưởng và phát triển “thần kỳ” của khu vực này từ những năm
1960 Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 1965-1990 là 6%/năm được lý giải bằng thực tế là những người thuộc thế hệ dân số bùng nổ có tỷ lệ tham gia thị trường lao động cao đã làm giảm mạnh tỷ lệ phụ thuộc dân số và gia tăng lực lượng lao động với tốc độ trung bình năm là 2,4%
Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, nhưng cũng là nước già nhất
trên thế giới với tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) vào khoảng 20% tổng dân
số và tuổi thọ trung bình là 82,3 vào năm 2007 Tuổi trung vị của dân số Nhật Bản tăng nhanh, từ 22,3 vào năm 1950 lên 37,4 vào năm 1990 và 42,9 vào năm 2005 (United Nations, 2007) Cũng theo dữ liệu dân số này thì Nhật Bản đã kết thúc “cơ cấu dân số vàng” diễn ra trong giai đoạn 1965-2000 – giai đoạn chứng kiến sự bùng
nổ kinh tế của Nhật Bản, đặc biệt từ giữa những năm 1950 đến cuối những năm
1980 Trong giai đoạn này, đi lên từ một đống đổ nát để lại từ Chiến tranh Thế giới lần thứ II, chính phủ Nhật Bản đã thực thi hàng loạt chính sách đồng bộ nhằm tận dụng dân số của giai đoạn bùng nổ đang bước vào tuổi lao động Về kinh tế, chính
Trang 19sách công nghiệp hóa dựa trên nền tảng phát triển công nghệ được thực hiện đồng
bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác (tiền tệ, tài khóa, tỷ giá hối đoái…) nhằm thúc đẩy và hiện thực hóa tiềm năng trong nước Các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành sản xuất, được đầu tư có trọng điểm và phù hợp với nhu cầu, khả năng phát triển trong từng giai đoạn Gắn liền chính sách kinh tế là hàng loạt chính sách nhất quán và nhiều tham vọng để xây dựng một hệ thống giáo dục tốt nhằm tạo một lực lượng lao động có giáo dục và kỹ năng – bộ phận dân số mà trong những năm
1960 được gọi là “những quả trứng vàng” (Ohno, 2007) Chính sách y tế cũng được đặc biệt coi trọng với việc hướng tới chăm sóc y tế toàn dân với mạng lưới cơ sở chăm sóc y tế được xây dựng nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu mang tính đặc trưng của từng vùng, khu vực Ngay từ đầu những năm 1950 chính phủ Nhật Bản đã xây dựng chiến lược an sinh xã hội sâu rộng, đặc biệt là hưu trí và bảo trợ xã hội, nhằm đảm bảo và hỗ trợ đời sống của hàng triệu người lao động Hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng do nhà nước xây dựng và quản lý đã giải quyết được một lượng lớn nhu cầu của người Nhật Bản
Tuy nhiên, “cơ cấu dân số vàng” dần kết thúc trong bối cảnh tổng tỷ suất sinh ngày càng giảm mạnh (xuống mức 1,3 vào năm 2007) nên Nhật Bản lại đối mặt với một vấn đề dân số nghiêm trọng là tỷ số phụ thuộc già tăng nhanh chưa từng có Trong bối cảnh đó, chính phủ Nhật Bản hiện đang tìm mọi biện pháp chính sách để giảm thiểu gánh nặng từ “làn sóng chuyển đổi dân số lần thứ hai”3 này, đặc biệt là cho hệ thống hưu trí thực thanh thực chi (PAYG – Pay-As-You-Go)4 cùng với nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái và thiếu công việc đủ thời gian Nghiên cứu của Hewitt (2003) [theo trích dẫn của Fang và Dewen (2005)] cho thấy dân số già nhanh và hệ thống hưu trí không thích ứng là hai trong nhiều nguyên nhân dẫn đến đình trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản vào cuối những năm 1990 Đây cũng chính là bài học bổ ích cho các nước có dân số trẻ và đang được hưởng “cơ cấu dân
3
Làn sóng thứ nhất là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng trẻ hóa (nhiều người trong độ tuổi lao động), trong khi làn sóng thứ hai là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng già hóa (dân số cao tuổi tăng nhanh)
4
Hệ thống hưu trí PAYG dựa trên nguyên tắc tài chính là các khoản đóng góp hiện nay được dùng để chi trả cho các khoản thanh toán (hưu trí, tử tuất) của người đang được hưởng Sau đó, khi người đóng góp về hưu,
họ lại được chi trả bằng phần đóng góp của các thế hệ tương lai Trong bối cảnh dân số già hóa (nhiều người
về hưu hơn và thời gian hưởng hưu dài hơn do tuổi thọ cao hơn) với sự sụt giảm số lao động tham gia hệ thống, rõ ràng nguy cơ sụp đổ hệ thống về mặt tài chính có thể thấy rõ
Trang 20số vàng” trong việc đưa ra các chiến lược, chính sách thích ứng với một dân số già hóa và già trong tương lai gần
Một nước điển hình khác trong khu vực Đông Á là Hàn Quốc “Cơ cấu dân
số vàng” của Hàn Quốc diễn ra trong một khoảng thời gian dài hơn so với Nhật Bản Như trong Hình 2, tính toán của Cục Tham chiếu Dân số (2007) cho thấy, cơ cấu dân số vàng của Hàn Quốc diễn ra trong vòng 49 năm (1965-2014) Đây cũng chính
là giai đoạn Hàn Quốc trải nghiệm tăng trưởng kinh tế cao, đặc biệt từ đầu những năm 1960 cho đến giữa những năm 1980 Từ một nước nghèo với thu nhập bình quân đầu người 60 USD/năm vào năm 1948, Hàn Quốc vươn lên trở thành quốc gia
có nền kinh tế đứng thứ ba ở Châu Á và thứ 13 trên thế giới hiện nay Các chiến lược phát triển kinh tế 5 năm đều định hướng vào công nghiệp hóa nhanh dựa trên xuất khẩu Để làm được việc này, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra hàng loạt gói chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cho xuất khẩu như vay ngân hàng lãi suất thấp, ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất, cho phép vay vốn nước ngoài và ưu đãi thuế Bên cạnh việc thúc đẩy nội lực công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động hướng đến sự trợ giúp về kỹ thuật và tài chính cùng với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Kết quả là Hàn Quốc nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực và là một trong bốn nước công nghiệp mới (NICs) vào những năm 1980 Để thúc đẩy tăng trưởng các ngành công nghiệp chủ đạo nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, chính phủ Hàn Quốc cũng xây dựng nhiều chiến lược đầu tư có trọng điểm cho phát triển nguồn nhân lực với sự chú trọng đặc biệt vào hệ thống giáo dục và y tế Hiện nay, Hàn Quốc trở thành một trong những nước có mức chi cho giáo dục và y tế bình quân đầu người cao trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Tận dụng “cơ cấu dân số vàng” nhưng cũng chuẩn bị cho sự già hóa nhanh chóng của dân số do tổng
tỷ suất sinh ngày càng giảm và chỉ đạt ở mức 1,3 vào năm 2007, chính phủ Hàn Quốc đã và đang xây dựng chiến lược an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách hưu trí
và chăm sóc y tế cho người cao tuổi, để tránh “vết xe đổ” của các nước đi trước như Nhật Bản
Khu vực Đông Nam Á
Quá trình chuyển đổi dân số của các nước Đông Nam Á diễn ra chậm hơn so với các nước Đông Á Dữ liệu của United Nations (2007) cho thấy, các nước này
Trang 21mới bắt đầu hưởng lợi từ “cơ cấu dân số vàng” gần đây mà sớm nhất là Singapo (năm 1980) và muộn nhất là Phi-lip-pin (năm 2030) với độ dài trung bình là 30 năm (Bảng 1) Giai đoạn 1950-1990 chứng kiến mức tăng dân số rất cao ở một số nước Đông Nam Á như In-đô-nê-sia và Việt Nam Chính sách kế hoạch hóa gia đình và
sự cải thiện đáng kể của hệ thống y tế đã làm giảm cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết ở
các nước này
Bảng 1 Tỷ số phụ thuộc chung khu vực Đông Nam Á, 1950-2050
Nguồn: United Nations (2007)
Ước lượng của ADB (1997) cho thấy lợi tức dân số ở Đông Nam Á đóng góp khoảng 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng thu nhập đầu người hàng năm, trong khi kết quả tính toán của Bloom và Williamson (1998) là khoảng 1,0 điểm phần trăm
Rõ ràng, lợi tức dân số của khu vực Đông Nam Á hiện nay sẽ không lớn như lợi tức dân số của khu vực Đông Á thời kỳ 1960-1990 Một trong những nguyên nhân quan
trọng lý giải cho vấn đề này là tỷ lệ tăng dân số hoạt động kinh tế với tỷ lệ tăng dân
số không hoạt động kinh tế không khác nhau nhiều như ở khu vực Đông Á nên lợi
tức dân số của khu vực này cũng thấp hơn so với khu vực Đông Á (Bloom và cộng
sự, 2003)
Trang 22Bên cạnh các gói chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất khẩu, một điểm nhấn chính sách quan trọng chung ở các nước khu vực này trong việc lồng ghép dân số với tăng trưởng và phát triển kinh tế là chiến lược giáo dục và
y tế Việc Singapo tận dụng dấu hiệu của chuyển đổi dân số từ cuối những năm
1970 cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng mức bao phủ và chất lượng của hệ thống giáo dục là một minh chứng cụ thể, trong khi Phi-lip-pin có cùng chất lượng nguồn nhân lực xét theo mức độ giáo dục và y tế nhưng lại tăng trưởng chậm do tỷ
lệ sinh quá cao và chất lượng thể chế chưa tốt (Navaneetham, 2002) Malaysia đầu
tư xây dựng các cụm trường đào tạo nhân công chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo, với vai trò là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước này trong hơn hai thập kỷ vừa qua Thái Lan cũng thể hiện các nỗ lực xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho tăng trưởng bằng các chính sách giáo dục, y tế mạnh mẽ gắn liền với chiến lược phát triển của một số ngành sản xuất chủ lực Tuy nhiên, phân tích của Ohno (2008) cũng cho thấy hầu hết các nước đang phát triển ở Đông Nam Á, đặc biệt là các nước đầu đàn như Malaysia và Thái Lan, đang gặp nhiều khó khăn trong việc “phá vỡ trần thủy tinh”5 để tiến đến một bước phát triển kinh tế như Đài Loan hoặc Hàn Quốc Nguồn nhân lực vẫn lệ thuộc vào nước ngoài, đặc biệt là kỹ năng quản lý và sản xuất, là yếu tố cản trở lớn nhất đối với hai nước này Đây là bài học quan trọng cho Việt Nam trong việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình công nghiệp hóa nói riêng và tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung
Bên cạnh các chính sách tận dụng cơ cấu “vàng” hiện có, các nước trong khu vực này còn hoạch định các chính sách dài hạn khi cơ cấu “vàng” này không còn và không lặp lại nữa – đó là khi người lao động thuộc thời kỳ dân số bùng nổ sẽ về hưu
và tỷ lệ phụ thuộc dân số lại tăng lên nhanh chóng do sự gia tăng của tỷ lệ phụ thuộc người già Sức ép đối với hệ thống chăm sóc y tế và hưu trí cho người cao
5
Theo phân tích này, quá trình đuổi kịp thể hiện trong bốn giai đoạn: giai đoạn I là giai đoạn sản xuất đơn giản dưới sự hướng dẫn của nước ngoài (Việt Nam); giai đoạn II là giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa với việc hình thành nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ nhưng vẫn cần sự hướng dẫn của nước ngoài (Malaysia và Thái Lan); giai đoạn III là giai đoạn làm chủ công nghệ và quản lý, có khả năng sản xuất hàng hóa chất lượng cao (Đài Loan, Hàn Quốc); giai đoạn IV là giai đoạn đủ năng lực sáng chế và thiết kế sản phẩm đứng đầu thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu) Giai đoạn I chuyển lên giai đoạn II đòi hỏi tích tụ tư bản và nhân lực Giai đoạn II lên giai đoạn III cần có hấp thụ công nghệ, còn giai đoạn III lên giai đoạn IV cần có sáng tạo “Trần thủy tinh” chính là bẫy thu nhập trung bình đối với các nước ASEAN nói chung và Malaysia, Thái Lan nói riêng
Trang 23tuổi cũng là một câu hỏi chính sách quan trọng đối với các nước này, thậm chí ngay
cả khi họ đang hưởng “lợi tức dân số vàng”
CẤU VÀNG
Biến động dân số Việt Nam trong thế kỷ 20 diễn biến hết sức phức tạp do tác động của hai cuộc chiến tranh kéo dài Sau năm 1975 khi đất nước giải phóng hoàn toàn thì chính sách dân số – chính sách được thực hiện ở miền Bắc từ cuối những năm 1950 – đã được thực thi thống nhất trên toàn quốc [xem thêm Barbieri và cộng
sự (1996) mô tả chi tiết về xu hướng dân số Việt Nam trước năm 1975] Dân số Việt Nam trong ba thập kỷ vừa qua có một số đặc điểm đáng chú ý về cơ cấu tuổi như sau
Bảng 2 Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam, 1979-2007
Số người (triệu người) Tỷ lệ (% tổng dân số) Năm
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2007, 2008)
Thứ nhất, cơ cấu tuổi dân số biến động mạnh, đặc biệt là những năm gần đây
Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ trẻ em (0-14) giảm rất nhanh (từ 39% vào năm 1989 xuống 25% vào năm 2007, tương ứng với 25 triệu người xuống 22 triệu người), trong khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng nhanh (từ 53,6% năm
1989 lên 65,5% năm 2007, tương ứng 34,8 triệu người lên 55,4 triệu người) và tỷ lệ dân số cao tuổi cũng tăng không ngừng (từ 7,2% năm 1989 lên 9,5% năm 2007, tương ứng với mức tăng từ 4,6 triệu người lên 8 triệu người) Kết quả là, tỷ số phụ thuộc chung có xu hướng giảm mạnh trong thời gian gần đây, trong đó tỷ số phụ thuộc trẻ em giảm rất nhanh và tỷ số phụ thuộc người già có xu hướng tăng
Thứ hai, trong nhóm dân số trẻ em, tỷ lệ trẻ trong hai nhóm tuổi 0-4 và 5-9 giảm mạnh, trong khi nhóm tuổi 10-14 giảm chậm hơn
Trang 24Bảng 3 Cơ cấu tuổi dân số trẻ em Việt Nam, 1979-2007
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2008)
Bảng 3 cho thấy dân số ở đáy tháp dân số Việt Nam giảm mạnh trong gần 30 năm qua Cụ thể, tỷ lệ trẻ em giảm mạnh, từ 14,62% tổng dân số năm 1979 xuống 7,49% tổng dân số năm 2007 Tiếp đến, trẻ em trong độ tuổi đến trường tiểu học (5-9) cũng giảm mạnh trong cùng thời gian này, từ 14,58% tổng dân số năm 1979 xuống 7,58% dân số năm 2007 Dân số trong độ tuổi đến trường THCS (10-14) cũng có xu hướng giảm xuống nhưng chậm hơn nhiều so với hai nhóm trên, từ 13,35% tổng dân số 1979 xuống 10,18% tổng dân số năm 2007
Thứ ba, dân số trong độ tuổi lao động tăng lên một cách rõ rệt
Bảng 4 Cơ cấu tuổi dân số trong tuổi lao động ở Việt Nam, 1979-2007
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2008)
Trong khi dân số Việt Nam tăng từ 52,8 triệu người năm 1979 lên 84,3 triệu người năm 2007 thì tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số và chia theo nhóm tuổi lại không thay đổi đáng kể Nói cách khác, số tuyệt đối dân số trong tuổi lao động tăng lên mạnh Dân số trong nhóm tuổi từ 15 đến 49 tăng lên rõ rệt nhất, từ 44,27% tổng dân số năm 1979 (hay 23,37 triệu người) lên 56,38% tổng dân
số năm 2007 (hay 41,4 triệu người)
Thứ tư, cùng với sự gia tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động thì dân
số Việt Nam đã có những dấu hiệu của quá trình già hóa Tốc độ già hóa dân số lớn hơn tốc độ tăng dân số (Bảng 5)
Trang 25Bảng 5 Cơ cấu tuổi dân số cao tuổi ở Việt Nam, 1979-2004
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và tính toán của tác giả cho các năm
2004 và 2006 dựa vào số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình 2004 và 2006
Trong giai đoạn 1979-2006, dân số tăng 1,2 lần thì số lượng người cao tuổi tăng hơn hai lần (Nguyễn Đình Cử, 2007).6 Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ người cao tuổi ở độ tuổi cao (từ 80 tuổi trở lên) có xu hướng tăng lên theo thời gian Phân tích của Giang và Pfau (2007) còn cho thấy tỷ lệ nữ giới cao tuổi, đặc biệt ở độ tuổi từ
80 trở lên, lớn hơn tỷ lệ nam giới cao tuổi nên tỷ lệ nữ giới cao tuổi sống cô đơn hoặc góa lớn hơn tỷ lệ tương ứng của nam giới cao tuổi
Hình 3 mô tả dự báo dân số Việt Nam theo phương pháp tĩnh của United Nations (2007) (bên trái)7 và theo phương pháp ngẫu nhiên của Giang và Pfau (2009a) (bên phải)8 với cùng giả định về TFR dài hạn là 2,1 Một đặc điểm chung
có thể thấy từ hai dự báo này là, so với năm 2005, dân số Việt Nam sẽ có biến chuyển lớn về cơ cấu tuổi trong vài thập kỷ nữa, trong đó tỷ lệ trẻ em giảm mạnh cùng với sự tăng lên không ngừng của dân số cao tuổi
6
Theo định nghĩa của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP) thì dân số được coi là bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa khi tỷ lệ dân số cao tuổi so với tổng dân số ở mức từ 10% trở lên Do đó, dự báo dân số của United Nations (2007) cho thấy dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa trước năm 2020 Tính toán của Giang và Pfau (2009b) với số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006 (VHLSS 2006) cho thấy dân số Việt Nam đã tiến rất gần đến ngưỡng này với tỷ
lệ người cao tuổi là 9,9% vào năm 2006
7
Tổng cục Thống kê (1999) cũng cho kết quả tương tự như dự báo của United Nations (2007) và một số kết quả của dự báo này sẽ được sử dụng để phân tích ở phần sau
8
Dự báo dân số theo phương pháp ngẫu nhiên cho Việt Nam của Giang và Pfau (2009a) được xây dựng trên
cơ sở mô hình dự báo của Lee và Carter (1992) Trong mô hình dự báo này, mô phỏng ngẫu nhiên được áp dụng cho tỷ suất sinh và tỷ suất chết theo độ tuổi và giới tính, trong khi tỷ lệ xuất/nhập cư được cho trước Hai đường chấm trên hình thể hiện giá trị trung vị của dự báo với khoảng tin cậy 90%
Trang 26Hình 3 Tháp dân số Việt Nam: Hiện tại và dự báo
Nguồn: United Nations (2007) Giang và Pfau (2009a)
Bảng 6 Dự báo cơ cấu dân số Việt Nam theo tuổi, 2010-2050
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ United Nations (2007)
Bảng 6 mô tả biến động dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi trong giai đoạn 2010-2050 Trong hai thập kỷ tới, dân số trong tuổi lao động ở Việt Nam sẽ tăng lên mạnh mẽ, đạt mức xấp xỉ 65% tổng dân số trong giai đoạn 2015-2025 Sau đó, tỷ lệ dân số này giảm dần và đạt mức 57% vào năm 2050 Cùng lúc đó, tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ gần 30% năm 2005 xuống khoảng 23% vào năm 2020 và 17% vào năm
2050 Ngược lại, tỷ lệ dân số cao tuổi sẽ bắt đầu tăng mạnh từ năm 2015 và đạt mức 26,1% tổng dân số năm 2050
-5 -4.5 -4 -3.5 -3 -2.5 -2 -1.5 -1 -0.5 0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 5 0
5 10 15 20 25 30 35 40 45 50 55 60 65 70 75 80 85 90
95
100
Tháp dân số Việt Nam năm 2050 theo phương pháp dự báo ngẫu nhiên
(Đường chấm thể hiện giá trị trung vị của dự báo với mức tin cậy 90%)
Quy mô dân số (triệu người) Tuổi
Trang 27Bảng 7 Dự báo cơ cấu tuổi dân số Việt Nam theo nhóm, 2010-2050
Nguồn: Tác giả tính toán từ United Nations (2007)
Bảng 7 trình bày cụ thể hơn cơ cấu tuổi dân số Việt Nam theo dự báo của United Nations (2007) Có thể thấy là, trong thời gian tới, dân số trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi và trẻ trong độ tuổi đến trường tiểu học, sẽ giảm mạnh trong thời gian tới Cùng lúc đó, dân số trong độ tuổi lao động vẫn tiếp tục tăng, đặc biệt nhóm tuổi lao động trẻ (15-30) chiếm tỷ trọng lớn Dân số cao tuổi tiếp tục tăng nhanh, nhất là các nhóm ở độ tuổi rất cao (từ 80 trở lên)
Kết quả là, dự báo của United Nations (2007) cho thấy tỷ số phụ thuộc chung sẽ ở mức dưới 50% từ năm 2009 và kéo dài cho đến khoảng năm 2039 [Hình
4, bên trên] Giai đoạn này đặc trưng bởi tỷ số phụ thuộc chung giảm xuống là do mức giảm của tỷ số phụ thuộc trẻ em lớn hơn mức tăng tỷ số phụ thuộc người già Nói cách khác, dân số Việt Nam đạt cơ cấu “vàng” trong giai đoạn 2009-2039 (30 năm) với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt ở mức cao nhất khoảng 65% tổng dân số trong giai đoạn 2015-2025 Cơ cấu “vàng” sẽ kết thúc từ năm 2040 khi tỷ số phụ thuộc chung tăng lên, cao hơn 50 và bị chi phối chủ yếu do tỷ số phụ thuộc người già tăng nhanh
Tất cả những kết quả này đều tương thích với dự báo dân số theo phương pháp ngẫu nhiên trong nghiên cứu của Giang và Pfau (2009a) [Hình 4, bên dưới],
đó là cơ cấu “vàng” của dân số Việt Nam sẽ xuất hiện trong giai đoạn 2010-2040
Trang 28với khoảng tin cậy 90% của dự báo cho thời điểm bắt đầu là 1 năm (tức là vào năm
2009 hoặc 2011) và thời điểm kết thúc là 2 năm (tức là vào năm 2038 hoặc 2042)
Hình 4 Dự báo tỷ số phụ thuộc dân số Việt Nam
0 10 20 30 40 50 60
0.2 0.4 0.6 0.8 1
1.2
Old-Age Dependency Ratio
2020 2040 2060 2080 2100 0
0.2 0.4 0.6 0.8 1
1.2
Population Dependency Ratio
Chú thích: Tỷ số phụ thuộc chung được tính bằng tỷ số giữa tổng dân số trẻ em (0-14) và người cao tuổi (60+) với 100 người trong độ tuổi lao động (15-59)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ United Nations (2007) và Giang và Pfau (2009a)
Các dự báo dân số nêu trên cũng chỉ ra rằng cơ cấu tuổi của dân số sẽ thay đổi nhanh chóng theo xu hướng già hóa khi mức sinh giảm, mức chết giảm và tuổi thọ dân số tăng lên Việt Nam sẽ có “cơ cấu dân số vàng” trong giai đoạn chuyển đổi dân số từ xu hướng trẻ hóa hiện nay sang xu hướng dân số già trong một vài thập kỷ tới
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Với giả định rằng các dự báo dân số đã đề cập ở trên phản ánh sát thực xu hướng biến động dân số Việt Nam trong thời gian tới thì rõ ràng cơ hội để tận dụng
“cơ cấu dân số vàng” của Việt Nam sẽ đến trong một vài năm nữa Có cơ cấu
“vàng” cũng đồng nghĩa với việc có cơ hội “vàng” trong việc sử dụng nguồn nhân lực trẻ, dồi dào cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của nền kinh tế, đặc biệt là giai
“Cơ cấu dân số vàng”
Tỷ số phụ thuộc trẻ em Tỷ số phụ thuộc người già Tỷ số phụ thuộc chung
Trang 29đoạn bản lề 2011-2020 thực hiện chiến lược đưa Việt Nam cơ bản trở thành một quốc gia công nghiệp và xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình Vì lẽ đó, chiến lược dân số trong 10 năm tới và những thập kỷ tới phải tính đến cơ hội “vàng” quan trọng này
Kết quả của nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng “cơ hội dân số” và “lợi tức dân số” không tự động, không tất yếu đem lại tác động tích cực, mà nó phải được giành lấy bằng các hành động chính sách, chiến lược cụ thể trong điều kiện cụ thể của từng nước Trong khi một số nước đã hiện thực hoá được tiềm năng tích cực
do cơ hội dân số mang lại thì nhiều nước cũng đã bỏ lỡ hoặc chậm nắm bắt cơ hội
đó Có hàng loạt điều kiện cần để hiện thực hoá cơ hội dân số mà đôi khi những điều kiện này lại vượt quá tầm chủ động của một quốc gia, một chính phủ, ví dụ như chiến tranh, bất ổn của môi trường quốc tế Tuy nhiên, xét về mặt chủ quan
quốc gia thì tầm quan trọng hàng đầu vẫn thuộc về môi trường chính sách trong
nước Không có môi trường chính sách phù hợp và ổn định thì ngay cả trong điều
kiện tốt nhất, đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng cao trong dài hạn khi cơ hội dân
số bắt đầu Trong điều kiện kém thì kinh tế có thể trì trệ, chính trị, xã hội bất ổn bởi quá tải dân số dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan và an sinh xã hội kiệt quệ Nếu cơ hội dân số, đặc biệt là giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, diễn ra trùng với thời kỳ kinh
tế ổn định và cất cánh thì nguồn lao động có sức khỏe và kỹ năng sẽ trở thành động lực mạnh mẽ của nền kinh tế
Vậy để hiện thực hóa cơ hội này, Việt Nam cần chú trọng vào chiến lược và chính sách nào? Trong bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay và trước cơ hội “vàng” của dân số, chúng tôi cho rằng có bốn nhóm chính sách quan trọng, mang tính chiến lược cần được thực hiện để hiện thực hóa cơ hội này, đó là (1) chính sách giáo dục và đào tạo (2) chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực; (3) chính sách dân số và y tế; và (4) chính sách an sinh xã hội toàn diện, hướng đến dân số đang già hóa nhanh và già trong một vài thập kỷ tới
Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế (ví dụ, ADB, 2005; UNESCAP, 2006), Việt Nam là quốc gia đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về giáo dục sớm hơn
so với kế hoạch, cũng như có bước tiến lớn về giáo dục so với các nước đang phát triển có cùng mức thu nhập Đánh giá tầm quan trọng của giáo dục trong việc
Trang 30thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục được tổ chức ngày càng chặt chẽ với các hệ đào tạo đa dạng từ mầm non, tiểu học đến đại học
và đào tạo nghề và giáo dục chuyên nghiệp (xem thêm chi tiết về hệ thống giáo dục Việt Nam qua nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hoa, 2007, và Mori và cộng sự, 2009) Chi tiêu cho giáo dục chiếm khoảng 15% tổng chi tiêu chính phủ vào những năm 1990 và dự kiến tăng lên mức 20% vào năm 2015 Nền giáo dục bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tỷ lệ người lớn biết đọc chữ trên 90% và tỷ lệ đến trường của tất cả các cấp giáo dục phổ thông đạt 69,3% Tỷ lệ nhập học hàng năm của các cấp giáo dục phổ thông tăng lên và đạt mức cao: năm
2007, tỷ lệ này cho bậc tiểu học là 98% (so với 96% năm 2004), bậc trung học cơ
sở là 90% (so với 65% năm 2003) và bậc trung học phổ thông là 50% (so với 38% năm 2000) (Nguyễn Đình Cử, 2008) Số lượng giáo viên đạt chuẩn quốc gia
là 90% Cùng với nhiều chỉ số kinh tế xã hội khác, giáo dục đóng góp một phần quan trọng trong việc nâng vị thế của Việt Nam trong bảng xếp hạng chỉ số phát triển nhân lực (HDI) qua các năm
Cơ hội:
Tận dụng đà phát triển của giáo dục cùng với những triển vọng về dân số như đã nêu, Việt Nam có nhiều cơ hội để tiếp tục cải thiện chất lượng và phát triển hệ thống giáo dục Thứ nhất, theo dự báo dân số trình bày trong Bảng 7 cho thấy trẻ em ở hai nhóm tuổi 0-4 và 5-9 sẽ giảm mạnh trong thời gian tới, trong khi trẻ em trong độ tuổi 10-14 giảm với tốc độ chậm hơn Nói cách khác, dân số trong
độ tuổi học tiểu học và phổ thông cơ sở sẽ ngày càng giảm và vì thế mà chất lượng giảng dạy và học tập có thể từng bước được cải thiện thông qua việc giảm tải như giảm tỷ số giữa số học sinh và số giáo viên cũng như số lượng học sinh trong mỗi lớp học Gắn liền với xu hướng này là việc tận dụng nguồn lực cho các chương trình đào tạo có liên quan hoặc các cấp học khác Bản thân các hộ gia đình ít con hơn và đời sống đã được cải thiện nên điều kiện đầu tư cho giáo dục cũng tốt hơn
Thứ hai, dân số trong độ tuổi lao động, đặc biệt nhóm tuổi 15-30, tăng lên cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế với đóng góp ngày càng nhiều của khu vực công nghiệp và dịch vụ sẽ tạo ra nhu cầu lớn về đào tạo nghề cho các ngành này – những ngành hiện thiếu rất nhiều nhân công đã qua đào tạo và có tay nghề
Trang 31Nói cách khác, đây là cơ hội và trách nhiệm lớn của đào tạo nghề cho một lực lượng lao động dồi dào trong thời gian tới
Thứ ba, tỷ lệ người cao tuổi có trình độ học vấn nhất định đã tăng lên và mức độ giáo dục cũng cao hơn (Giang và Pfau, 2007) nên việc khuyến khích người cao tuổi có kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp cùng tham gia đào tạo thế hệ trẻ sẽ tạo được hiệu ứng tích cực trong xã hội
Thách thức:
Tuy nhiên, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay còn thể hiện rất nhiều điểm yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn phát triển mới và quá trình hội nhập ngày càng nhanh và đòi hỏi cao của nền kinh tế khu vực và thế giới Thứ nhất, hệ thống giáo dục ngày càng mở rộng về phạm vi và chương trình đào tạo nhưng vẫn còn có sự khác biệt rất lớn về khả năng tiếp cận giữa các nhóm dân số Một điều tra gần đây (Young Lives, 2005) cho thấy, đối với bậc tiểu học, khoảng 92% trẻ em thuộc nhóm nghèo đã từng đi học, trong khi con số này là 100% cho trẻ em thuộc các nhóm dân số khá giả hơn Với bậc trung học, con số lần lượt là 53,8% và 85,8%
Các chương trình học đã được chuẩn hóa trên toàn quốc với việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính nên nhóm dân tộc thiểu số bị bất lợi và không thể tiếp cận được các chương trình giáo dục đó Khoảng 9% số trẻ em dân tộc thiểu
số trong độ tuổi đi học, trong đó chủ yếu là ở vùng Tây Bắc hoặc Tây Nguyên, chưa từng được thụ hưởng dịch vụ giáo dục
Một nguyên nhân khác cũng khiến cho việc tiếp cận giáo dục của các nhóm dân số yếu thế ngày càng trở nên thiếu tính khả thi là chi phí cho giáo dục
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 (World Bank, 2003) cho thấy tỷ lệ chi tiêu cho
giáo dục tiểu học và trung học so với tổng chi tiêu hộ gia đình của nhóm nghèo nhất với nhóm giàu nhất gần như không có sự chênh lệch, và rõ ràng đây là cản trở và gánh nặng rất lớn đối với người nghèo khi tiếp cận với giáo dục [Bảng 8] Chênh lệch về thu nhập và trình độ phát triển giữa các vùng ngày càng lớn như hiện nay khiến cho các vùng nghèo càng khó có cơ hội để hưởng thụ các dịch vụ giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 32Bảng 8: Gánh nặng giáo dục đè nặng trên vai nhóm nghèo hơn
Nguồn: World Bank (2003)
Thứ hai, kết quả giáo dục vẫn còn thấp và chưa đảm bảo yêu cầu hiện nay của xã hội Mặc dù tỷ lệ dân số biết chữ của Việt Nam khá cao, nhưng số liệu điều tra năm 2006 cho thấy thanh niên trong lứa tuổi 20-24 có số năm đi học trung bình chỉ là 9,6 năm, trong đó thành thị là 11,3 năm và nông thôn là 8,8 năm; 83,4% đã thôi học, 3,4% chưa đi học bao giờ và chỉ có 12,2% là đang đi học (Báo Nhân dân điện tử ngày 25/12/2008)
Chất lượng giáo dục có sự khác biệt lớn giữa các vùng và nhóm dân tộc Điều tra sâu của Young Lives (2005) còn cho thấy tỷ lệ trẻ em đến trường ở các khu vực nông thôn là khá cao, nhưng tỷ lệ biết đọc, viết và tính toán lại không cao như trẻ em ở khu vực thành thị (tương ứng 86%, 72% và 84% so với 95%, 85%
và 92%) Trẻ em dân tộc thiểu số không thể tiếp cận được với giáo dục theo ngôn ngữ mẹ đẻ bởi tất cả tài liệu học đều bằng tiếng Việt, và vì thế khả năng đọc chính xác của trẻ em dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/3 so với trẻ em người Kinh Đây chính là rào cản rất lớn về giáo dục cho người thiểu số nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội ở các vùng mà họ đang sinh sống
Trang 33Hộp 1: Giáo dục ở trường học không phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động
Cơ hội việc làm cho nhiều người tốt nghiệp phổ thông là những công việc không yêu cầu kỹ năng hoặc theo mùa, thậm chí đôi khi là những công việc nguy hiểm Một cô bé 18 tuổi ở Đà Nẵng phân trần: “Tôi đang làm việc tại một công ty chế biến thực phẩm ở đây Thời gian làm việc trung bình là 2 tuần/tháng Công việc của tôi là bóc vỏ tôm Vào lúc rảnh rỗi, tôi thường ở nhà và phụ giúp cha mẹ việc nhà Thu nhập trung bình hàng tháng của tôi chỉ là 300.000 đồng (19 đô-la)” Đào tạo nghề ở trường rất đơn điệu và không có nhiều chương trình “Tôi muốn học các kỹ thuật nông nghiệp để phục vụ các công việc làm nông nghiệp của tôi sau này trong trường hợp tôi không đi học nữa, nhưng trường học chỉ dạy các kỹ năng cơ bản về điện và lâm nghiệp”, một cô bé ở Lào Cai tâm sự
Nguồn: Young Lives (2006)
Giáo dục đại học được mở rộng với sự đóng góp ngày càng nhiều của khu vực tư nhân cũng như sự tham gia của các đối tác nước ngoài Tuy nhiên, sự mở rộng quá nhanh không gắn liền với chiến lược dài hạn về nguồn nhân lực khiến chất lượng đào tạo thấp và không đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động, trong đó tỷ lệ lao động có trình độ quản lý, chuyên môn sâu vẫn còn chiếm tỷ lệ hết sức khiêm tốn (Bảng 3 ở trên) Phân tích của Young Lives (2005) cho thấy phần lớn các trường không chú trọng đến việc cải thiện phương pháp giảng dạy và môi trường học thuật mà chỉ chú ý đến việc thu hút càng nhiều học sinh, sinh viên càng tốt hoặc cạnh tranh để “sản xuất” học sinh, sinh viên xuất sắc Cách thức đó khiến cho kỹ năng về giao tiếp và học tập của học sinh, sinh viên Việt Nam rất yếu
Nghiên cứu điều tra kỹ năng, kiến thức, thái độ của sinh viên ngành kỹ thuật theo phân tích của Ho và Zjhra (2008) cho thấy có sự “lệch pha” lớn giữa yêu cầu thị trường với khả năng đáp ứng của đào tạo Hình 5 thể hiện mức thành thạo công việc mà sinh viên ra trường có thể đáp ứng được, trong khi hình bên dưới thể hiện mức thành thạo công việc mà các bên liên quan muốn sinh viên mới tốt nghiệp có được Rõ ràng, có một sự chênh lệch giữa cung và cầu đào tạo và đây là câu hỏi chính sách lớn cho ngành giáo dục đào tạo về quy mô và chất lượng hiện nay, đặc biệt cho nhóm dân số bắt đầu bước vào tuổi lao động Điều gì xảy ra khi lực lượng lao động, đặc biệt lao động trẻ, ngày càng lớn mà hệ thống giao dục, trong đó có đào tạo nghề, không đáp ứng được nhu cầu lao động có kỹ năng cho thị trường?