Cuốn sách thứ hai - Biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á: Đương đầu với thách thức và nắm bắt cơ hội - do nhà in Đại học Standford xuất bản, nghiên cứu những tác động của biến
Trang 1CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ
Ở ĐÔNG Á
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Đây là một trong hai cuốn sách báo cáo kết quả của một dự án do Trung tâm Đông-Tây đề xướng Các báo cáo đã được trình bày tại ba hội nghị tổ chức trong năm 1997: Hội nghị về Dân số và kỳ tích kinh tế ở châu Á (Trung tâm Đông-Tây, Honolulu, HI, từ 7-10 tháng 1 năm 1997); Diễn đàn tri thức về đà tăng dân số và kinh tế vĩ mô (Học viện Ngân hàng Thế giới và Trung tâm Đông Tây, Washington, DC, 21-22 tháng 7 năm 1997) và Hội thảo chính sách về phát triển kinh tế châu Á: Những triển vọng lâu dài (trường đại học Nihon, Trung tâm Đông-Tây và Học viện Ngân hàng Thế giới, Tokyo, 20-21 tháng 10 năm 1997) Cuốn sách thứ hai - Biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á: Đương đầu với thách thức và nắm bắt cơ hội - do nhà in Đại học Standford xuất bản, nghiên cứu những tác động của biến động dân số đối với kinh tế ở Đông Á
Ngoài các tác giả còn có rất nhiều người đã đóng góp cho dự án này bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo, có báo cáo tham luận cũng như cung cấp các tư liệu có giá trị Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người có tên sau: Sajeda Amin, Mahluddin Khan Alamgir, Nancy Birdsall, David Bloom, Colin Bradford, Jeff brown, lee-jay Cho, Minja Kim Choe, Julie DaVanzo, Angus Deaton, Phil Estermann, Jacques van des Gaag, David Horlacher, Ponciano Intal, Ir., Andrew Kantner, Mitsuaki Kojima, Toshio kuroda, Sumner La Croix, Karen Mason, Thomas Merrick, Duck Woo Nam, Naohiro Ogawa, Catherine pierce, Mathana phananiramai, lant Pritchett, Robert Rethorford, Gerard Russo, Joanne Salop, T Paul Schultz, Sara Seims, Yukiyasu Sezai, R Paul Shaw, Young-Soo Shin, Hananto Sigit, Steven Sinding, Kenjin Sumida, Krishnamurthy Sundaram, Ann Takayesu, Noreen Tanouye, Pravin Visaria, Michael Ward, Sidney Westley, John Williamson và Sharon Yamamoto Hai cá nhân đã có những đóng góp đặc biệt: Sandra Ward đã dành thời giờ liên tục biên tập bản thảo cho những cuốn sách này và Burnham O Campbell - người góp phần khởi xướng dự án này- đã trở thành đồng biên tập nếu như anh không mất sớm
Tài trợ cho dự án này là Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Quỹ tài trợ Rockefeller, Quỹ tài trợ William và Flora Hewlett, Ngân hàng Thế
Trang 3giới và Bộ Ngoại giao Nhật Bản (MOFA) Tài trợ của USAID và MOFA được coi như là một phần của Chương trình hợp tác chung toàn cầu
DANH SÁCH CÁC TÁC GIẢ
Chirapun Gullaprawit: Phó giám đốc Vụ kế hoạch nguồn nhân lực, Uỷ ban phát
triển kinh tế và xã hội quốc gia, Bangkok
Shunichi Inoue: Giáo sư, Trường cao đẳng khoa học và nhân văn, Đại học Nihon,
Tokyo
Tai-Hwan Kwon: Giáo sư xã hội học, Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul Paul K.C liu: Viện sĩ Viện Kinh tế, Học viện Sinica, Taipei
Andrew Mason: Giáo sư kinh tế, Khoa Kinh tế, Đại học Hawai, và ủy viên cao
cấp của Trung tâm Đông-Tây, Honolulu
N Haidy A Pasay: Giáo sư kinh tế, Khoa Kinh tế, Đại học Inđônêsia, Jakarta Turro S Wonngkaren: Trợ giáo nghiên cứu tại Viện Dân số, Khoa Kinh tế, Đại
học Inđônêsia, Jakarta
Mui teng Yap: Nghiên cứu viên cao cấp, Viện nghiên cứu chính sách,
Xinh-ga-po
Trang 4TÓM TẮT
Biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á: Thách thức và Cơ hội
Biên tập: Andrew Mason
Mục đích của cuốn sách này là đưa ra lời giải đáp toàn diện cho câu hỏi đơn giản: “Biến động dân số đóng vai trò gì trong sự phát triển kinh tế vượt bậc ở Đông Á?” Trả lời câu hỏi này là quan trọng bởi thành tựu kinh tế phi thường của các nền kinh tế Đông Á trong suốt kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ đã trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận về chính sách phát triển hiện nay Những nghiên cứu trước đây đã bỏ qua những biện pháp cơ bản và quan trọng trong đó
có những ảnh hưởng của dân số đối với tăng trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực Do đó, những người được giao nhiệm vụ hoạch định và thực hiện các chương trình nâng cao chất lượng sống trên quy mô thế giới đã không đánh giá đầy đủ tầm quan trọng của việc giảm đáng kể mức sinh ở Đông Á, giảm tỷ lệ gia tăng dân số và gắn liền với những thay đổi đó là những biến động về cơ cấu tuổi
Có hai nhóm vấn đề lớn được đề cập đến Trước hết là sự biến động nhanh chóng của dân số có đóng góp cho phát triển kinh tế của Đông Á hay không? Cụ thể hơn, các xu hướng dân số đã ảnh hưởng đến những khía cạnh nào của phát triển trong khu vực - tăng trưởng kinh tế, sự bất bình đẳng, địa vị kinh tế của phụ nữ? Dân số tác động đến các nền kinh tế Đông Á thông qua những cơ chế nào? Những đặc điểm về thể chế, chính trị, xã hội và kinh tế nào là điều kiện để dân số tác động đến phát triển? Liệu kinh nghiệm của Đông Á có cung cấp những bài học hữu ích cho các nước đang phát triển khác hay chỉ là cá biệt? Hai là chính sách dân số đóng vai trò như thế nào ở Đông Á? Những chính sách và chương trình nào đã được thực hiện và chi phí là bao nhiêu? Có bằng chứng nào chứng tỏ chính sách dân số Đông Á đạt được những mục tiêu của mình? Liệu khả năng phát triển kinh tế nhanh trong khu vực có phải là yếu tố duy nhất dẫn đến những kết quả của công tác dân số hay không? Hoặc liệu có phải các chính sách dân số
đã đẩy nhanh thời kỳ quá độ chuyển sang mức sinh thấp và làm chậm lại tốc độ tăng trưởng dân số hay không?
Trang 5Những vấn đề này đã được giải quyết thông qua những nghiên cứu cụ thể kinh nghiệm của sáu nền kinh tế Đông Á thời kỳ 1960-90 bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po, Thái lan và In-đô-nê-xia Những cách tiếp cận riêng biệt của các quốc gia này trong các chính sách dân số đã được so sánh và những đường hướng quan trọng mà qua đó biến động dân số đã tác động đến sự phát triển kinh tế cũng được xem xét Trong số những vấn đề được nghiên cứu
có nội dung tác động của dân số tới năng suất lao động và sự đổi mới, cơ cấu kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, các dòng vốn quốc tế, di cư lao động quốc tế, phát triển nguồn nhân lực, phân phối thu nhập và địa vị kinh tế của phụ nữ
Một trong những bài học quan trọng nhất từ kinh nghiệm của Đông Á là tác động của biến động dân số đối với nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào môi trường xã hội, kinh tế và chính sách trong thời kỳ quá độ dân số Trong những năm 1960, gia tăng nhanh dân số đã bộc lộ một số yếu tố tiềm ẩn cản trở phát triển kinh tế Đông Á Các chính sách có hiệu quả và nhiều thể chế không liên quan trực tiếp đến dân số đã góp phần ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những tác động bất lợi Gia tăng nhanh dân số đã không làm suy giảm sản lượng lương thực tính theo đầu người là nhờ có các Viện nghiên cứu được thành lập để phát triển các loại giống cao sản, một yếu tố cần thiết cho thành công về kinh tế Việc lực lượng lao động tăng trưởng nhanh ở Đông Bắc Á đã không dẫn đến nạn thất nghiệp hay thiếu việc làm ở khu vực nông nghiệp bởi thị trường lao động đã hoạt động tốt hơn đồng thời nhiều chính sách kinh tế cũng đã rất thành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ
Tương tự như vậy, những biến động dân số tiếp theo chỉ tạo nên những cơ hội phát triển kinh tế nhanh hơn Những tác động tích cực còn phụ thuộc vào những đặc trưng đa dạng của các quốc gia trong khu vực Độ vênh giữa tăng trưởng lực lượng lao động và tăng trưởng dân số chỉ tạo điều kiện thuận lợi vì các chính sách phát triển – ví dụ như đẩy mạnh xuất khẩu có hiệu quả - đã tạo việc làm hấp dẫn cho lực lượng lao động đang tăng trưởng nhanh Biến động dân số
đã đem lại tỷ lệ tiết kiệm cao bởi vì sự ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển của các thể chế tài chính đã khuyến khích tiết kiệm đồng thời Chính phủ các nước đã hạn chế được các hệ thống chuyển nhượng quy mô lớn có thể làm suy giảm động cơ tiết kiệm Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao là có lợi vì các chính sách, đặc biệt là
Trang 6chính sách kinh tế vĩ mô ổn định đã giữ tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, tạo ra một môi trường kinh tế trong đó các công ty có thể hoạt động một cách có hiệu quả và duy trì tốc độ quay vòng vốn cao Những biến động cơ cấu tuổi của dân số dẫn đến chi tiêu cho giáo dục lớn hơn vì chính sách công là ưu tiên cao cho giáo dục Những thay đổi trong trách nhiệm sinh con của phụ nữ đưa lại hiệu quả kinh tế thuận lợi vì Chính phủ các nước đã xoá bỏ các luật và chính sách quản lý hành chính gây phân biệt đối xử với phụ nữ Tóm lại, những biến động nhanh về dân
số là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tăng trưởng nhanh kinh tế Những thay đổi
về dân số đã tạo ra nhiều cơ hội và các quốc gia Đông Á đã nắm bắt được thông qua việc theo đuổi các chính sách kinh tế - xã hội và phát triển những thể chế hỗ trợ các nỗ lực phát triển
Hiểu được mối quan hệ giữa sự biến động dân số và nền kinh tế sẽ giúp sáng tỏ hơn tương lai của Đông Á Nhiều biến động dân số được nghiên cứu trong các đề tài về bản chất là diễn ra liên tục và sẽ ảnh hưởng đến các nền kinh
tế Đông Á trong nhiều thập niên Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á gần đây đã trở thành dĩ vãng nhưng những ảnh hưởng dân số vẫn gây tác động sâu sắc và chủ yếu Các điều kiện dân số còn cho phép khu vực này phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn trong một vài thập niên tới, trừ Nhật Bản Chỉ có thời gian mới cho câu trả lời chính xác liệu các nước Đông Á có nắm bắt được những cơ hội tiếp theo hay không
Trang 71
Giới thiệu
Andrew Manson
Thế kỷ XX là giai đoạn biến động dân số chưa từng có trong lịch sử Dân
số toàn cầu đã tăng gần gấp bốn, từ 1,6 tỷ người năm 1900 lên 6 tỷ người năm
2000 (Cohen 1995, App.2, 400-401; UN 1998) Tỷ lệ gia tăng dân số, đặc biệt trong thế giới đang phát triển, tăng nhanh hơn trong suốt nửa đầu thế kỷ và đạt đỉnh điểm vào cuối những năm 1960 Phản ứng đối với tình trạng gia tăng nhanh dân số cũng là chưa từng có trong lịch sử Những quan ngại về ảnh hưởng của gia tăng nhanh dân số đối với môi trường và kinh tế đã thúc đẩy Liên Hợp Quốc, các
cơ quan viện trợ song phương của nước ngoài, các tổ chức đa phương cũng như các quỹ tư nhân đã đầu tư hàng tỷ đô la vào các chương trình dân số Chính phủ nhiều nước đang phát triển, đặc biệt ở châu Á, đã theo đuổi mạnh mẽ những chính sách nhằm làm chậm tốc độ gia tăng dân số
Các quốc gia Đông Á nằm trong số những quốc gia đi đầu và tích cực trong chính sách dân số Ngay từ đầu những năm 1960, nhiều nước đang phát triển ở Đông Á đã từ bỏ những chính sách khuyến sinh, xác định ổn định dân số
là mục tiêu phát triển quốc gia và đã thông qua rất nhiều chương trình tổng thể nhằm làm chậm tốc độ gia tăng dân số Thoáng nhìn, kinh nghiệm Đông Á tưởng như đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các chính sách ổn định dân số Tỷ lệ sinh và tỷ lệ gia tăng dân số ở khu vực này đã giảm nhanh hơn so với các khu vực khác của thế giới đang phát triển cũng như những quốc gia đã hoàn thành công nghiệp hoá Trong cùng thời kỳ, các quốc gia Đông Á đã đạt được những thành công về kinh
tế chưa từng có trong lịch sử Trong ba thập niên, 1960-90, các quốc gia đó đã chuyển từ khu vực tụt hậu sang khu vực năng động nhất của kinh tế thế giới Những đất nước nghèo khổ vào năm 1960 đã được xếp hạng và trong một số lĩnh vực đã vượt cả những nước có mức thu nhập cao ở phương Tây
Dự án nghiên cứu được thể hiện trong cuốn sách này là một phần công việc khảo sát đánh giá các mối quan hệ gắn kết giữa biến động dân số và phát triển kinh tế ở Đông Á với mục đích xác định liệu biến động dân số nói chung và chính sách dân số nói riêng, đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong những
Trang 8thành công về kinh tế của Đông Á Kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong hai cuốn sách Trọng tâm của cuốn sách này là chính sách dân số ở Đông Á Những chính sách và chương trình nào đã được thực hiện và mức chi phí là bao nhiêu? Có bằng chứng nào minh chứng rằng chính sách dân số của các quốc gia Đông Á đã đạt được các mục tiêu dân số? Những chương trình đó có những đặc trưng gì để đem lại thành công của các quốc gia này và đưa ra những bài học kinh nghiệm gì cho các quốc gia khác? Cuốn sách tiếp theo nghiên cứu tác động của biến động dân số đối với phát triển (Manson- Sắp xuất bản) Cụ thể là, những lĩnh vực nào của phát triển đã chịu ảnh hưởng của các xu hướng dân số khu vực? Dân số đã ảnh hưởng đến các nền kinh tế Đông Á thông qua những cơ chế nào? Những đặc điểm thể chế, chính trị, xã hội và kinh tế nào tạo điều kiện để dân số ảnh hưởng đến phát triển?
Cuộc nghiên cứu đã kiểm định kinh nghiệm của sáu nền kinh tế Đông Á thời kỳ 1960-90 gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po, Thái Lan và In-đô-nê-xia Những quốc gia này được lựa chọn vì một số lý do Thứ nhất, các quốc gia đó nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển đầu tiên đạt mức sinh thấp, thấp đến mức đủ để đạt được tăng trưởng dân số bằng 0 hoặc tăng trưởng
âm, trừ In-đô-nê-xia Chuyển đổi từ mức sinh cao sang sinh thấp đã được cô đọng lại vì chúng ta đã thực sự đạt được thành tích trong thời kỳ quá độ dân số và những đổi thay về kinh tế đi kèm Những biến động dân số – giảm mức sinh, tăng tuổi thọ trung bình và những làn sóng cơ cấu tuổi – là khá rõ nét đến mức những tác động của dân số đối với phát triển sẽ hiện hữu nếu dân số thực sự là vấn đề
Thứ hai, Chính phủ các quốc gia Đông Á đã sớm thay đổi quyết sách đối với dân số ngay từ kỷ nguyên hậu Đại chiến thế giới thứ 2 Họ đã từ bỏ quan điểm đông dân và tăng trưởng dân số là sức mạnh của quốc gia đồng thời theo đuổi quan điểm tăng trưởng dân số là mối đe doạ đối với các mục tiêu phát triển Trong khoảng thời gian tương đối ngắn, các chính sách khuyến sinh đã bị bãi bỏ
và chỉ một thời gian sau, đủ các loại chương trình và chính sách hạn chế sinh đẻ
đã được thông qua Chính phủ các quốc gia đã tham gia vào các chương trình giáo dục, tăng cường cung ứng và tổ chức thực hiện các dịch vụ tránh thai, thuyết phục công dân chấp nhận chuẩn mực gia đình ít con và thực hiện các chính sách thưởng phạt để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh ít con hơn Tuy nhiên, ở
Trang 9những nước được khảo sát này đã không phải sử dụng đến các chương trình mang tính áp đặt, cưỡng bức giống như chương trình triệt sản bắt buộc tồn tại trong một thời gian ngắn ở Ấn Độ hay chính sách một con của Trung Quốc
Thứ ba, kinh nghiệm Đông Á đáng để học hỏi vì môi trường thực thi chính sách chưa thật hoàn thiện Nhiều học giả vẫn khư khư quan điểm rằng gia tăng nhanh dân số làm tăng chi phí của chính sách kinh tế nghèo nàn Tuy vậy, cũng không thấy rõ lắm tác động của các biến dân số trong một môi trường hoạch định
và thực thi chính sách chưa hoàn thiện Dĩ nhiên, các quốc gia Đông Á cũng đã mắc phải những sai lầm, ví dụ như những sự kiện xảy ra gần đây đã minh chứng khá thuyết phục, nhưng vài nước đã đạt được thành tích trước kỷ nguyên hậu Đại chiến thế giới thứ 2
Tuy kinh nghiệm có thể chia sẻ được của sáu nền kinh tế này đã thúc đẩy tìm tòi nghiên cứu song những khác biệt giữa các quốc gia này cũng đáng để học hỏi Những nền kinh tế này bao trùm phạm vi khá rộng về những điều kiện thực
tế về phát triển và dân số Mức thu nhập ở Nhật Bản và Xinh-ga-po rõ ràng cao hơn ở Thái Lan và In-đô-nê-xia vào năm 1960 Trung bình mỗi phụ nữ Nhật Bản chỉ sinh hai con vào năm 1960, trong khi đó mức sinh ở In-đô-nê-xia chỉ mới bắt đầu giảm vào những năm cuối của thập niên 60 In-đô-nê-xia và Nhật Bản nằm trong số những nước có quy mô dân số lớn nhất thế giới trong khi Xinh-ga-po nằm trong số những nước có quy mô dân số nhỏ nhất Nhập cư là một thành tố quan trọng trong biến động dân số chỉ ở Xinh-ga-po, ngoài ra không xuất hiện ở các quốc gia khác Những khác biệt về dân số và kinh tế của các vùng ở Thái Lan
và In-đô-nê-xia là khá quan trọng để hiểu được về sự phát triển của hai quốc gia này và giúp thấy rõ hơn so với trường hợp của Đài Loan hay Hàn Quốc Vào khoảng năm 1960, các nước Đông Bắc Á có mật độ dân cư cao nhưng lại hạn chế
về nguồn tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, vào năm 1960 Thái Lan vẫn đang sử dụng đất đai vào canh tác và trong suốt thập niên 70 In-đô-nê-xia phát triển chủ yếu do có trữ lượng dầu mỏ lớn
THÀNH CÔNG CỦA ĐÔNG Á
Trong thập niên 50, các nước Đông Á còn nghèo nàn và triển vọng chưa có
gì hứa hẹn Năm 1960, thu nhập bình quân đầu người hàng năm của Nhật Bản đã tăng xấp xỉ 3.000 đôla Mỹ, chưa bằng một phần ba mức thu nhập của Mỹ Tuy
Trang 10nhiên, ở các quốc gia khác, GDP bình quân đầu người hàng năm dao động từ mức thấp 600 đôla Mỹ ở In-đô-nê-xia đến mức cao 1.700 đôla Mỹ ở Xinh-ga-po2.Ngoại trừ Nhật Bản và Thái Lan, lịch sử chịu ách đô hộ của nước ngoài đã làm suy yếu sự phát triển của những thể chế mạnh về chính trị và kinh tế Sự giàu có
và các thể chế tồn tại ở khu vực này đã bị các cuộc cách mạng và chiến tranh tàn phá - Đại chiến thế giới thứ 2, nội chiến ở Trung Quốc và chiến tranh Liên Triều
Tỷ lệ tiết kiệm/tích luỹ và đầu tư quá thấp đã cản trở những nỗ lực tái thiết cơ sở vật chất và thực hiện công nghiệp hoá Các nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đặc biệt là ở Đông Bắc Á, triển vọng tăng sản lượng lương thực hoặc tăng việc làm trong nông nghiệp xem ra có vẻ ảm đạm do hạn chế cấp đất nông nghiệp Ngoại trừ In-đô-nê-xia có trữ lượng dầu mỏ lớn, các quốc gia khác rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên
Tỷ lệ gia tăng nhanh dân số duy trì liên tục qua các năm thực sự đã trở thành mối quan tâm Cả Đài Loan và Hàn Quốc đã trải nghiệm những luồng dân
cư lớn Hơn một triệu người Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc đã bỏ chạy khỏi Đại lục sang Đài Loan trong năm 1949 và 1950 Hàn Quốc trải qua hai cuộc di dân trên qui mô lớn - lần thứ nhất là sự kiện hồi hương của người Triều Tiên sau thất bại của Nhật Bản trong Đại chiến thế giới thứ 2 và lần thứ hai là dòng người
từ Bắc Triều Tiên tràn sang Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) khi Trung Quốc tham gia chiến tranh Liên Triều Tuy nhiên, những năm cuối của thập niên 50 và đầu thập niên 60, dân số tăng nhanh do mức chết giảm và mức sinh cao Mức sinh đã giảm ở Nhật Bản, nhưng ở những quốc gia khác trung bình mỗi phụ nữ vẫn sinh khoảng sáu con trong suốt thời kỳ sinh sản của mình Do tình hình tử vong trong những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều trẻ em đã chết trong những năm đầu đời Song tỷ suất chết trẻ sơ sinh và trẻ em đã giảm đáng kể dẫn đến quy mô gia đình ngày càng lớn và dân số gia tăng ngày một nhanh
Có một số điểm cần lưu ý là mức độ bất bình đẳng trong sở hữu của cải và thu nhập ở Đông Bắc Á là tương đối thấp Đó là hậu quả đồng thời của sự tàn phá trong thời gian chiến tranh và các chương trình cải cách ruộng đất lớn ở Đài Loan
và Hàn Quốc Ở cả hai địa bàn này tỷ lệ biết đọc biết viết là tương đối cao và có nguồn nhân lực đã qua đào tạo đáng kể Những nỗ lực tái thiết đất nước đã nhận được trợ giúp to lớn từ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ
Trang 11Không ai dự đoán được thành quả kinh tế mà các quốc gia Đông Á sẽ được hưởng trong những thập niên tới Sự tăng trưởng kinh tế khác thường bắt đầu ở Nhật Bản trong thập niên 50, ở Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po, Thái Lan trong thập niên 60 và ở In-đô-nê-xia trong thập niên 70 Trong thời kỳ 1960-90, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người thực tế hàng năm tăng trên 6% ở Hàn Quốc, Xinh-ga-po, Đài Loan, 5,3% ở Nhật Bản, 4,4% ở Thái Lan và 3,8% ở In-đô-nê-xia Cùng thời kỳ, tăng trưởng của Mỹ chỉ đạt trung bình 2%/năm Thu nhập bình quân đầu người hàng năm ở Hàn Quốc tăng từ 900 đôla Mỹ năm 1960 lên 6.700 đôla Mỹ năm 1990 và tương ứng ở Xinh-ga-po là 1.700 đôla Mỹ lên 11.700 đôla Mỹ (Summer và Heston 1991)
Việc tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm chỉ là một trong những nét đặc trưng của thành tựu kinh tế trong khu vực Mặc dù quỹ đất nông nghiệp bị hạn chế nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng nhanh nên vấn đề gia tăng dân số
dễ bị bỏ qua Tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã tạo đủ việc làm thích ứng với việc gia tăng nhanh dân số trong độ tuổi lao động đồng thời tăng khả năng tiếp nhận lao động nữ Giáo dục đã có nhiều tiến bộ đáng kể và cơ bản đã xóa nạn mù chữ Tỷ lệ tích lũy vốn và đầu tư tăng ở mức cao và những nền kinh tế tiên tiến hơn đã trở thành những chủ nợ chủ chốt trong thị trường vốn quốc tế Địa vị của người phụ nữ ở nhiều quốc gia được cải thiện với việc giảm đáng kể khoảng cách về giới trong duy trì học tập, việc làm và tiền lương
Biến động dân số ở Đông Á cũng gây ấn tượng sâu sắc không kém những thay đổi về kinh tế Tỷ suất chết sơ sinh và trẻ em đã xuống tới mức thấp, đồng thời tuổi thọ bình quân lúc sinh đã gần đạt mức của phương Tây (riêng Nhật Bản cao hơn) Mức sinh giảm từ mức cao xuống mức thấp diễn ra với tốc độ khá kinh ngạc Trong tất cả các quốc gia có mức sinh cao vào năm 1960, chỉ có sáu quốc gia và vùng lãnh thổ có mức sinh trung bình 2 con và dưới 2 con vào năm 1990
Đó là: Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Xinh-ga-po, Hồng Kông và Trung Quốc Trong 36 nước có thu nhập bình quân đầu người hàng năm dưới 1.000 đô la Mỹ
và dân số trên 2 triệu người vào thời điểm 1960, chỉ có 5 quốc gia đã đạt được mức sinh trung bình dưới 3 con vào năm 1990 là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xia và Ru-ma-ni (Feeney và Mason – sắp xuất bản)
Trang 12Những biến động về mức sinh, mức chết tác động đến hai biến dân số quan trọng khác là tăng trưởng dân số và cơ cấu tuổi của dân số Vào những năm đầu của thập niên 90, tỷ lệ tăng trưởng dân số ở Nhật Bản đã giảm trung bình 0,2 % mỗi năm Tỷ lệ tăng trưởng dân số ở Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po và Thái Lan đã giảm trung bình khoảng 1% mỗi năm Ở In-đô-nê-xia, nơi mức sinh giảm hơi muộn hơn một chút, thì tỷ lệ tăng trưởng dân số đã giảm trung bình xuống 1,6% mỗi năm trong giai đoạn 1990-94 Cho dù các quốc gia Đông Á đã điều chỉnh để dân số tăng trưởng chậm hơn, song vẫn không tránh khỏi việc tăng dân
số với quy mô lớn Trong thời kỳ 1950-95, dân số Nhật Bản tăng khoảng 50%, dân số Hàn Quốc và In-đô-nê-xia tăng hơn gấp đôi còn dân số Đài Loan, Xinh-ga-po và Thái Lan tăng gần gấp ba (Feeney và Mason – sắp xuất bản)
Tại sao dân số tăng lên nhiều đến vậy mặc dù mức sinh đã giảm khá ấn tượng? Hiện tượng được gọi là đà tăng dân số này diễn ra vì dân số liên tục tăng nhanh tạo nên cơ cấu tuổi đặc trưng khiến cho dân số tăng Tỷ lệ lớn dân số của các nhóm tuổi trẻ, trưởng thành đang trong độ tuổi sinh đẻ và chỉ có một tỷ lệ nhỏ những người thuộc nhóm dân số già có nguy cơ tử vong cao hơn Cơ cấu tuổi như vậy sẽ dẫn đến mức sinh cao, mức chết thấp và do đó dân số tăng nhanh hơn
Cơ cấu tuổi thay đổi chậm vì mức sinh đã thấp hơn và tuổi thọ bình quân lúc sinh cao hơn Chỉ khi tỷ lệ dân số trong tuổi sinh đẻ giảm xuống và tỷ lệ dân số có mức chết cao hơn tăng lên thì tốc độ tăng trưởng dân số mới chậm lại Rốt cuộc dân số sẽ chỉ dừng tăng trưởng nếu trung bình mỗi phụ nữ sinh khoảng hai con trong suốt cuộc đời của họ (mức sinh thay thế) hay nếu mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế thì dân số sẽ suy giảm
Dự báo dân số Nhật Bản bắt đầu giảm xuống trong thập niên này, nhưng ở các quốc gia Đông Á khác dân số sẽ tiếp tục tăng trưởng ít nhất trong một vài thập niên nữa Các phương án dự báo dân số của Liên Hợp Quốc gần đây dự kiến dân số Thái Lan sẽ tiếp tục tăng trưởng đến năm 2040 và dân số In-đô-nê-xia sẽ còn tăng trưởng đến năm 2045-2050 là giai đoạn cuối của các phương án dự báo này (UN 1998) Tuy nhiên, kỷ nguyên gia tăng nhanh dân số đã kết thúc ở Đông
Á và quy mô dân số đã ít hơn nhiều so với trường hợp nếu vẫn tiếp tục duy trì mức sinh ở mức cao hay chỉ giảm từ từ
Trang 13Những biến động trong cơ cấu tuổi ở các quốc gia Đông Á là khá lớn và diễn ra nhanh hơn so với các quốc gia khác Đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế là những biến động về quy mô dân số trong độ tuổi lao động liên quan đến dân số phụ thuộc, tức là những người quá trẻ hoặc quá già không thể lao động Hầu hết các quốc gia Đông Á đã trải qua ba giai đoạn Trong giai đoạn đầu, dân số phụ thuộc tăng nhanh hơn dân số lao động do mức chết sơ sinh và trẻ
em giảm khiến cho số trẻ con tăng nhanh trong tổng dân số Trong giai đoạn thứ hai, dân số lao động tăng nhanh hơn dân số phụ thuộc Số trẻ em phụ thuộc ổn định do mức sinh thấp hơn, song dân số lao động tiếp tục được bổ sung từ những nhóm dân số trẻ Giai đoạn hai chi phối những biến động về cơ cấu tuổi ở Đông
Á trong suốt giai đoạn 1960-90 Nhật Bản đã bước vào giai đoạn thứ ba và những quốc gia khác sẽ theo sau trong những thập niên tới Trong giai đoạn ba tăng trưởng của dân số trong độ tuổi lao động sẽ chậm lại trong khi dân số phụ thuộc già tiếp tục tăng nhanh Vậy là, dân số lao động sẽ giảm tương quan với tăng dân
số phụ thuộc
Ba giai đoạn này được thể hiện bởi tỷ lệ hỗ trợ kinh tế, thể hiện sự tương quan giữa dân số lao động và dân số tiêu dùng3 Biểu đồ I.1 cho thấy tỷ lệ hỗ trợ của Đông Nam Á Trong giai đoạn thứ nhất 1950-60, tỷ lệ hỗ trợ bị giảm rõ rệt Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ những năm 1970 và dự kiến kéo dài 50 năm Trong giai đoạn này, ước tính số người lao động bình quân cho một người tiêu dùng sẽ tăng từ 0,50 lên 0,62 (tăng 24%) Những năm đầu của thập niên tới, tỷ lệ hỗ trợ
dự kiến sẽ bắt đầu đi xuống và kéo dài liên tục Đồ thị của tỷ lệ hỗ trợ được thể hiện ở phía dưới biểu đồ I.1 Trục tung cho thấy tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm của từng thập niên Trục hoành biểu thị ba giai đoạn và tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong mỗi giai đoạn
Các mô hình khác nhau của tỷ lệ hỗ trợ và những nét đặc trưng của Đông
Á được thể hiện rõ trong biểu đồ I.2 Ở Hàn Quốc và In-đô-nê-xia, giai đoạn tăng trưởng của tỷ lệ hỗ trợ được dự báo kéo dài 50 năm và tỷ lệ tăng hàng năm là đáng kể Đài Loan và Xinh-ga-po đã trải qua những thay đổi tương tự (không thể hiện trên biểu đồ) Những biến động cơ cấu tuổi ở Thái Lan và Phi-líp-pin cũng
có triển vọng, nhưng tỷ lệ hỗ trợ tăng ít hơn một chút so với In-đô-nê-xia và Hàn Quốc Hiện tại Nhật Bản đã hoàn tất giai đoạn tăng trưởng Ở Ấn Độ, nơi mức
Trang 14sinh bắt đầu giảm muộn hơn và giảm chậm hơn so với Đông Á, giai đoạn tăng trưởng của tỷ lệ hỗ trợ vừa ngắn về thời gian đồng thời chỉ ở mức khá khiêm tốn
Ở Băng-la-đét, nơi mà mức sinh giảm khá nhanh trong những năm gần đây, xu hướng về tỷ số hỗ trợ có triển vọng tốt hơn
Những phân tích đưa ra trong cuốn Biến động dân số và phát triển kinh tế
ở Đông Á: Đương đầu với thách thức và nắm bắt cơ hội (Manson sắp xuất bản)
nhằm nghiên cứu sự gắn kết giữa những biến động dân số quan trọng diễn ra ở Đông Á và những biến kinh tế chủ yếu như đổi mới công nghệ, năng suất lao động, tích luỹ và đầu tư, dòng vốn quốc tế, y tế, giáo dục, thu nhập bình quân đầu người, và bất bình đẳng4 Những kết quả đã được mô tả ngắn gọn ở đây trước khi trở lại kết quả nghiên cứu được trình bày trong cuốn sách này
Biểu đồ I.1: Tỷ số hỗ trợ của Đông Nam Á
Trang 15NHỮNG THÁCH THỨC DO TĂNG TRƯỞNG DÂN SỐ
Năm 1960, các quốc gia Đông Á phải đối mặt với hai thách thức – cung cấp lương thực cho dân số đang gia tăng nhanh và cung ứng việc làm phù hợp cho lực lượng lao động cũng đang gia tăng nhanh, trong đó phần lớn là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (trừ Nhật Bản và Xinh-ga-po) Mặc dù tốc độ sinh đẻ giảm nhưng dân số vẫn tăng đáng kể vì những nguyên nhân bất khả kháng đã nói
ở trên Chính sách dân số, dù có hiệu quả thế nào đi nữa, cũng không thể một sớm một chiều đạt được sự ổn định dân số Tuy nhiên, với một ngoại lệ quan trọng, tăng trưởng dân số đã không gây cản trở đối với những nỗ lực phát triển của Đông Á
Biểu đồ I.2 Tỷ lệ tăng trưởng (%) của tỷ lệ hỗ trợ từ kinh tế
tại một số quốc gia châu Á
Thách thức về lương thực đã được giải quyết thành công rực rỡ Mặc dù quỹ đất nông nghiệp bị hạn chế nhưng sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng 36 % ở châu Á và 47% ở Đông Á trong thời kỳ 1963-92 Trong cùng thời
kỳ, sản lượng lương thực bình quân đầu người ở Mỹ La tinh chỉ tăng 13% và thậm chí còn giảm 7% ở châu Phi Thành công của Đông Á là do sản lượng nông nghiệp tăng rất cao Nhu cầu về lương thực tăng chủ yếu là do gia tăng dân số
Trang 16cộng với giá phân bón giảm đáng kể giúp cho việc phát triển nhiều giống gạo, lúa
mì mới có sản lượng cao (Hayami – sắp xuất bản)
Thách thức việc làm ở Đông Bắc Á đã được giải quyết thành công hơn ở Đông Nam Á Ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc, nơi mà quỹ đất rất hạn chế, những cơ hội việc làm được tạo ra thông qua việc chuyển đổi cơ cấu công nghiệp
và cơ cấu ngành nghề Mặc dù lực lượng lao động nói chung vẫn tăng nhưng lực lượng lao động nông nghiệp giảm 4% mỗi năm ở Nhật Bản, 2% ở Đài Loan và 1% ở Hàn Quốc trong thời kỳ 1960-90 Các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ được
mở rộng nhanh chóng đến mức giá trị của đất không còn gắn với việc làm Thái Lan và In-đô-nê-xia đã có cách giải quyết hơi khác một chút đối với việc gia tăng nhanh của lực lượng lao động Trong giai đoạn này ở cả hai quốc gia, đất đai canh tác vẫn tăng Cụ thể, Thái Lan đã tìm cách thu hút số lượng lớn lao động nông nghiệp cùng lúc với việc giảm không đáng kể diện tích đất trồng trọt bình quân đầu người lao động nông nghiệp Trong số những quốc gia được lựa chọn khảo sát trong nghiên cứu này, chỉ có In-đô-nê-xia đã có sự sụt giảm đáng kể về diện tích đất trồng trọt bình quân đầu người lao động nông nghiệp Việc làm phi nông nghiệp cũng phát triển rất nhanh ở Thái Lan và In-đô-nê-xia, nhưng năm
1960 các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ còn rất nhỏ đến nỗi sự tăng trưởng nhanh của các quốc gia này không đủ để thu hút số lượng lớn lao động mới Ở hai quốc gia này, năng xuất lao động trong khu vực nông nghiệp tăng chậm hơn rất nhiều
so với trong khu vực phi nông nghiệp Điều này không những chỉ là trở ngại cho tăng trưởng kinh tế mà còn là nguồn gốc của bất bình đẳng (Manson – sắp xuất bản)
Hồi cứu lại, chính những e ngại về ảnh hưởng của phát triển đối với tăng trưởng dân số đã bị cường điệu hóa ở Đông Á Dân số tăng trưởng đáng kể ở Đông Bắc Á không có những tác động bất lợi đối với kinh tế và thực tế này đã được chỉ ra một cách rõ ràng và ở Nam Á chỉ có những khó khăn vừa phải Tuy nhiên, cần lưu ý một số điểm Thứ nhất là những tác động bất lợi của tăng trưởng dân số có thể tránh được, một phần là do trên thực tế tăng trưởng dân số đã chậm lại trong suốt giai đoạn này
Thứ hai, tuy kết quả thuận lợi ở Đông Á không phải là tất yếu, nhưng đó là
sự kết hợp của chính sách phát triển có hiệu quả với môi trường kinh tế thuận lợi
Trang 17Kinh nghiệm Đông Á về sự đổi mới nông nghiệp chứng minh cho quan điểm này Thậm chí, trong nửa đầu của thập niên 60, dân số đã tăng đáng kể, giá phân bón giảm, các giống cao sản đã thích nghi với vùng ôn đới và đã đạt được nhiều tiến
bộ lớn mặc dù những nỗ lực vừa phải Tuy nhiên, việc tăng sản lượng không gây
ấn tượng sâu sắc cho đến sau năm 1965, khi đưa ra một quyết định xã hội nhằm đầu tư cho nghiên cứu mà lẽ ra đã không xảy ra Bên cạnh đó, so với các khu vực khác trên thế giới, châu Á có những hệ thống vận chuyển và tưới tiêu phát triển khá tốt Đây chính là những nhân tố cơ bản của cách mạng xanh Cả hai việc: nỗ lực nghiên cứu và hệ thống cơ sở hạ tầng đều đòi hỏi phải có những thể chế chính trị có thể nhận biết và đáp ứng một cách có hiệu quả những nhu cầu của cộng đồng (Hayami – sắp xuất bản)
Thứ ba là sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu tuổi, sinh đẻ và tuổi thọ bình quân đã tạo ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn ở Đông Á ngay cả khi tăng trưởng dân số chậm đi Những cơ hội này thể hiện dưới ba dạng:
Sự khác biệt khá lớn giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng lực lượng lao động tiềm năng; những thay đổi trong chính sách khuyến khích và cơ cấu tuổi tạo điều kiện thuận lợi giúp cho tỷ lệ tích luỹ và đầu tư cao hơn; và những thay đổi trong chính sách khuyến khích và cơ cấu tuổi đã giúp cho đầu tư nhiều hơn cho nguồn nhân lực Phần chính của câu chuyện thành công của Đông Á chính là cách mà khu vực này đã nắm bắt các cơ hội
BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ VÀ CÁC CƠ HỘI PHÁT TRIỂN
Trong thời kỳ 1960-90 đã có sự cách biệt lớn giữa tăng trưởng lực lượng lao động và tăng trưởng dân số khi mà lực lượng lao động trong khu vực tăng hơn 25% so với dân số, dẫn đến thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 0,6% mỗi năm Lực lượng lao động tăng trưởng chậm đi rất nhiều so với tăng trưởng dân số do những biến động có lợi về cơ cấu tuổi và do phụ nữ tham gia lực lượng lao động ngày một tăng Việc phụ nữ tham gia nhiều trong lực lượng lao động chính thức có thể định ra hàng loạt đổi thay phức hợp, trong đó phải kể đến những thay đổi về dân số (tuổi kết hôn lần đầu muộn hơn và giảm khả năng sinh sản), những đổi thay về kinh tế (tiền lương tăng và cơ cấu việc làm cũng thay đổi) cũng như những thay đổi về chính trị (thay đổi về bộ luật thuế và những chính sách phân biệt đối xử) (xem Bauer – sắp xuất bản, Okunishi – sắp xuất bản)
Trang 18Sự gia tăng ấn tượng những khoản tiết kiệm và đầu tư thường được viện dẫn như những nguồn tăng trưởng kinh tế quan trọng ở Đông Á (Bauer – sắp xuất bản) Tác động của dân số đối với tỷ lệ tiết kiệm/tích luỹ và đầu tư là một vấn đề gây tranh cãi và sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng trong dự án này Những nghiên cứu gần đây cho thấy những biến động về cơ cấu tuổi, sinh đẻ và tuổi thọ bình quân
có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm/tích luỹ, nhưng đánh giá về quy mô ảnh hưởng thì rất khác nhau ở mỗi nghiên cứu (Williamson và Higgins – sắp xuất bản, Lee, Mason và Miller – sắp xuất bản, 2000, Toh – sắp xuất bản và Deaton và Paxson 2000) Việc đánh giá “ôn hòa” về tác động của tiết kiệm đi đến kết luận là tỷ lệ tiết kiệm/tích luỹ và đầu tư cao hơn là do những biến động dân số Điều này giải thích nguyên nhân tăng năng suất lao động lên khoảng 1/5 Kết hợp với sự khác nhau giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng lực lượng lao động, xem ra dân số học giải thích được nguyên nhân sản lượng bình quân đầu người ở Xinh-ga-po và Đông Bắc Á tăng thêm khoảng ¼ trong thời kỳ 1960-90
Ở Thái Lan, In-đô-nê-xia, trước năm 1990, dân số trong nước ít ảnh hưởng đến độ chênh giữa tăng trưởng dân số lao động và tăng trưởng dân số chung, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư Quá độ dân số ở 2 quốc gia này diễn ra muộn hơn so Xinh-ga-po và Đông Bắc Á Thí dụ như ở Đài Loan, dân số đã tạo điều kiện thuận lợi
để tiết kiệm/ tích lũy vào khoảng năm 1970, nhưng với Thái Lan 10 năm sau mức sinh mới bắt đầu giảm và với In-đô-nê-xia còn muộn hơn Ở Thái Lan và In-đô-nê-xia, khoảng cách chênh lệch giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng dân số tuổi lao động là nhỏ hơn Ngoài ra, những quốc gia này cũng ít thành công hơn trong việc tận dụng lực lượng lao động tăng trưởng nhanh để nâng cao thu nhập bình quân đầu người bởi vì, như đã giải thích ở trên, các quốc gia này ít thành công hơn trong việc thu hút lực lượng lao động vào những khu vực phi nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn Thái Lan và In-đô-nê-xia đã được hưởng lợi
do những thay đổi về điều kiện dân số ở Nhật Bản, một quốc gia đã trở thành nguồn cung cấp vốn chủ yếu trong thập niên 80 Phần nào đó có thể thấy, thặng
dư tài chính khổng lồ hiện nay của Nhật Bản đã tác động đến địa vị của dân số trong việc cung cấp tiền tiết kiệm và những nhu cầu về vốn (Williamson và Higgins – sắp xuất bản)
Trang 19Những biến động dân số ở Đông Á đã có những tác động thuận lợi đến sức khoẻ và giáo dục trẻ em, nhưng những cải thiện nguồn nhân lực đã ảnh hưởng không đáng kể đến bản thân sự tăng trưởng kinh tế trước năm 1990 Dân số bắt đầu tác động tích cực đến đầu tư cho nguồn nhân lực vào khoảng năm 1970 hoặc sau đó, trừ Nhật Bản Vì sự lệch pha vốn có giữa việc đầu tư cho trẻ em với việc tận dụng các đặc trưng của dân số trưởng thành và người lao động, giảm sinh không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng lực lượng lao động cho mãi đến những năm 1980 hoặc sau đó Những ảnh hưởng của nguồn nhân lực là quan trọng, nhưng người ta sẽ chỉ cảm nhận được nhiều hơn trong tương lai so với những gì
đã chứng kiến trong thời gian qua Tất nhiên, những cải thiện về sức khoẻ và giáo dục trẻ em đã góp phần trực tiếp hơn đến sự thịnh vượng theo những cách không
bị ràng buộc bởi những thước đo kinh tế thông thường như thu nhập bình quân đầu người (Ahlburg và Jensen – sắp xuất bản, Jensen và Ahburg – sắp xuất bản)
Với những thu nhập trong sản xuất nông nghiệp đã trích dẫn ở trên, việc gia tăng mạnh mẽ công ăn việc làm, tăng tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư cũng như đầu
tư lớn vào nguồn nhân lực không phải là kết quả thường thấy do sự thay đổi dân
số học ở Đông Á Nạn thất nghiệp đang tăng lên là một khả năng dẫn đến việc gia tăng mạnh mẽ công ăn việc làm Một loạt các chính sách phát triển thành công
đã nhanh chóng tạo ra những cơ hội việc làm rộng lớn Những cơ hội này bao gồm cả những chiến lược hướng ngoại đã khuyến khích các tổ chức kinh doanh trong nước cạnh tranh trên thị trường toàn cầu; những chính sách vĩ mô nhất quán
đã bảo đảm tỉ lệ lạm phát thấp, ngăn ngừa thất thoát vốn và thúc đẩy hiệu quả kinh tế; sử dụng các khuyến khích tài chính, tiền trợ cấp và các phương tiện tín dụng để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp then chốt Tương tự, tăng cường đầu tư vào con người và vốn tự nhiên không những là kết quả tất yếu của thay đổi dân số học mà còn phụ thuộc vào những chính sách thúc đẩy việc tiết kiệm và tăng chi phí cho giáo dục
NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ
Các chương trong cuốn sách này cung cấp đầy đủ các dẫn chứng về các chương trình và chính sách được thực hiện trong kỷ nguyên hậu Đại chiến thế giới thứ 2, động cơ của những chính sách đó, chi phí của các chương trình đồng
Trang 20thời đánh giá đóng góp của những chính sách và chương trình này đối với kết quả giảm sinh nhanh ở Đông Á
Các quốc gia Đông Á vẫn theo đuổi tư tưởng và chính sách khuyến sinh cho đến nửa sau của thế kỷ XX Inoue đã mô tả tình hình ở Nhật Bản trong chương tiếp theo (Chương 2) Chính phủ Meiji của Nhật Bản đã không những nghiêm cấm các hành vi đe doạ tính mạng của trẻ em, nạo phá thai mà còn cấm sản xuất và phân phối phương tiện tránh thai vì Chính phủ này coi đông dân là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự và kinh tế của Nhật Bản (Inoue, Chương 2) Tôn Trung Sơn, người sáng lập Cộng hoà Trung Hoa tin tưởng rằng làm giảm tốc độ tăng trưởng dân số sẽ làm giảm sức mạnh của dân tộc (Liu, Chương 4) Chính phủ Thái Lan đã thưởng tiền cho những gia đình đông con từ cuối năm 1956 (Gullaprawit, chương 6) Ở In-đô-nê-xia, tổng thống Su-các-nô không quan tâm đến việc dân số gia tăng nhanh và những nỗ lực kế hoạch hoá gia đình không được giáo chức và cộng đồng chấp nhận rộng rãi (Pasay và Wongkaren, Chương 7)
Cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, những tư tưởng ủng hộ việc đông dân
đã nhường chỗ cho những quan ngại về hậu quả và hệ luỵ của việc gia tăng nhanh dân số Mặc dù có một vài nhóm chính trị gia phản đối nhưng Chính phủ các quốc gia vẫn khởi xướng một cách thận trọng những nỗ lực nhằm giảm tỷ lệ gia tăng dân số Chính phủ các quốc gia bắt đầu dỡ bỏ những rào cản pháp lý đối với việc giảm sinh Nhật Bản dẫn đầu khuynh hướng này, đã hợp pháp hoá việc sản xuất, phân phối hầu hết các loại thuốc và phương tiện tránh thai của các công
ty tư nhân (Tuy nhiên, gần đây viên uống tránh thai mới được hợp pháp hoá) Năm 1948, thực chất Nhật Bản đã hợp pháp hoá dịch vụ nạo phá thai, cho phép thực hiện thủ thuật nếu thai kỳ đe doạ sức khoẻ hoặc tình trạng kinh tế của phụ
nữ mang thai (Inoue, chương 2) Năm 1961, Hàn Quốc đã bãi bỏ điều luật cấm nhập khẩu hoặc sản xuất phương tiện tránh thai Ở In-đô-nê-xia, Bộ Y tế bãi bỏ việc cấm phân phối phương tiện tránh tránh thai trong thập niên 60 Chính phủ các quốc gia đã vào cuộc cùng với các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình mới được thành lập trong khu vực Các tổ chức tư nhân như Hội Dân số và Phát triển Cộng đồng của Thái Lan, Quỹ KHHGĐ của
Trang 21In-đô-nê-xia và Hội KHHGĐ của Hàn Quốc đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn quá độ này
Với những tốc độ nhập cuộc khác nhau, Chính phủ ở các quốc gia trong khuôn khổ của nghiên cứu này đã can thiệp ngày một nhiều trong các chính sách
và chương trình dân số Các nhóm chính trị và tôn giáo chủ yếu đã thừa nhận tầm quan trọng của việc giảm tốc độ tăng trưởng dân số đối với phát triển Chính phủ các quốc gia cũng đã phê duyệt các kế hoạch phát triển quốc gia với những chỉ tiêu cụ thể về giảm gia tăng dân số Họ đã khởi xướng các cuộc vận động để tuyên truyền về tầm quan trọng của việc sinh ít con hơn đối với các cặp vợ chồng Bằng những nỗ lực giáo dục ở cả cộng đồng và trong trường học, Chính phủ các quốc gia đã tuyên chiến với tình trạng thiếu hiểu biết về những biện pháp tránh thai hiện đại Để phương tiện tránh thai có ở mọi nơi, các phòng khám kế hoạch hoá gia đình và các hệ thống phân phối đã được thiết lập (phần lớn các dịch vụ được trợ giá là chính)
Trước hết các quốc gia tập trung nỗ lực cho giáo dục, tuyên truyền và tăng khả năng tiếp cận phương tiện tránh thai Tuy nhiên, đầu thập niên 70, Chính phủ một số quốc gia đã thực hiện những chính sách “vượt ra ngoài khuôn khổ của kế hoạch hoá gia đình” Xinh-ga-po đã ban hành một loạt chính sách thưởng phạt tổng thể (Yap, Chương 5) và ở một vài nơi trong khu vực cũng có những nỗ lực tương tự Hầu hết là những chính sách khuyến khích bằng tiền, ngoài ra còn có một số chính sách khác nhằm giải quyết tận gốc nguyên nhân xã hội của mức sinh cao Ví dụ như ở Hàn Quốc, những đổi mới về tư pháp nhằm giải quyết những quan niệm sai lầm về giới với hy vọng làm thay đổi mong muốn có con trai của các cặp vợ chồng, qua đó làm giảm mức sinh (Kwon, Chương3) Tuy nhiên, ở các quốc gia được khảo sát trong nghiên cứu này, các giải pháp dân số
đã bị dỡ bỏ sau một thời gian ngắn không giống như các chương trình mang tính
áp đặt, cưỡng bức, ví dụ như các chiến dịch triệt sản thảm bại ở Ấn Độ và chính sách một con ở Trung Quốc
Điều gì đã khiến các nước châu Á đang phát triển phản ứng nhanh và dứt khoát với việc gia tăng nhanh dân số? Và tại sao phản ứng này lại nhanh hơn rất nhiều so với các khu vực đang phát triển khác? Một phần câu trả lời nằm trong những điều kiện dân số liên tục thay đổi Châu Á là khu vực đông dân nhất thế
Trang 22giới và tỷ lệ tăng trưởng dân số không ngừng tăng trong thập niên 50 và 60 Quan điểm đông dân sẽ góp phần làm tăng sức mạnh quốc gia bắt đầu bị thay thế Các nhà lãnh đạo chính trị và trí thức chịu ảnh hưởng một phần của những quan điểm của phương Tây Các học giả phương Tây tham gia các hoạt động tái thiết Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đã bày tỏ những quan ngại, lo âu về tình trạng gia tăng nhanh dân số Thí dụ, nhà hoạt động trong lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình, Margaret Sanger là một khách mời thường xuyên và có ảnh hưởng ở Nhật Bản Tuy nhiên, Chính phủ các quốc gia và các học giả ở Đông Á đã tự mình đánh giá
và đưa ra kết luận rằng nếu dân số tiếp tục gia tăng nhanh sẽ là trở ngại lớn đối với các mục tiêu phát triển (Liu, Chương 4, Yap, Chương 5, Gullaprawit, Chương 6)
Có một vài yếu tố khác khiến Chính phủ các quốc gia hưởng ứng một cách nhanh chóng và mạnh mẽ với chính sách dân số ở châu Á Trước hết, trái ngược với châu Mỹ La-tinh, Chính phủ một số quốc gia châu Á phải đối mặt với sự phản đối quyết liệt từ các nhóm tôn giáo có thế lực Nhà thờ Thiên chúa giáo ở Phi-líp-pin, các lãnh tụ đạo Hồi ở Pa-kít-xtan có ảnh hưởng đáng kể trong việc chống đối sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại Tuy nhiên, tại các nước được khảo sát không vấp phải những phản đối với kế hoạch hoá gia đình từ các lực lượng tôn giáo hoặc nếu có chỉ là ngầm chống đối Ngay cả ở In-đô-nê-xia, một quốc gia Đạo Hồi lớn nhất thế giới, những người đứng đầu tôn giáo cũng không phản đối quyết liệt những quyết định của tổng thống Su-hắc-tô nhằm thúc đẩy những nỗ lực kế hoạch hoá gia đình
Thứ hai, các quốc gia châu Á ổn định chính trị nhiều hơn so với hầu hết các quốc gia châu Mỹ La-tinh và châu Phi Bởi vậy, Chính phủ các quốc gia này mới có thể theo đuổi những mục tiêu lâu dài một cách thực tế Ở Hàn Quốc, tổng thống Pắc-Chung-Hy đã cầm quyền suốt 18 năm sau khi tuyên bố ủng hộ việc làm chậm đà gia tăng dân số Ở Đài Loan, tổng thống Tưởng Giới Thạnh giữ vị trí này từ năm 1950 đến năm 1975 Lý Quang Diệu làm thủ tướng Xinh-ga-po từ năm 1959 đến năm 1990 Trước cuộc khủng hoảng chính trị và tài chính gần đây, In-đô-nê-xia chỉ có hai nguyên thủ là Su-các-nô cầm quyền từ năm 1945 đến năm
1966 và Su-hắc-tô duy trì quyền lực của mình hơn ba thập niên Trong sáu quốc gia được khảo sát, chỉ có Thái Lan liên tục thay đổi nội các, nhưng chế độ quân
Trang 23chủ ở Thái Lan vẫn có ảnh hưởng liên tục và ổn định Sự thay đổi chính trị của Thái Lan thường tương đối hoà bình và không kèm theo những thay đổi về đường lối Mặc dù các nhà lãnh đạo chính trị cứng rắn trong khu vực cho phép chuyển đổi rất nhanh chóng trong chính sách dân số song không đảm bảo bằng những giải pháp để có được kết quả mong muốn Một số chính sách cụ thể được ban hành phụ thuộc vào quan điểm của giới lãnh đạo quốc gia Ví dụ như, chỉ có thể thay đổi chính sách ở In-đô-nê-xia khi tổng thống Su-các-nô không còn đảm nhiệm vị trí này (Pasay và Wonkaren, Chương 7)
Thứ ba, Chính phủ nhiều quốc gia châu Á có khuynh hướng cánh tả Chính phủ Ấn Độ, Xơ-ri-lan-ka, các quốc gia theo chế độ cộng sản và một số quốc gia châu Á khác trực tiếp can thiệp vào nhiều vấn đề tiểu tiết của nền kinh tế và các vấn đề xã hội Các quốc gia được khảo sát ở Đông Á đã tránh được những hậu quả thảm khốc của nền kinh tế mệnh lệnh, nhưng Chính phủ của các quốc gia này lại sa đà vào quản lý kinh tế nhiều hơn so với các Chính phủ phương Tây đồng thời cũng tích cực nhiều hơn trong giải quyết những vấn đề xã hội
Những chương trình kế hoạch hoá gia đình ở Đông Á có thể là những chương trình được điều hành tốt nhất thế giới Trong một thời gian rất ngắn, các quốc gia này đã phát triển rộng rãi mạng lưới cung cấp các dịch vụ tránh thai với chi phí khiêm tốn Những chương trình ở Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan đã thành công như những mô hình mẫu cho các nước khác học tập Tsui (sắp xuất bản) cho rằng thành công của các quốc gia này là do bốn yếu tố Thứ nhất, mặc
dù mục tiêu hàng đầu của Chính phủ các quốc gia là hạn chế gia tăng nhanh dân
số song các chính sách và chương trình vẫn đặt trọng tâm vào những mục tiêu kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ Thứ hai, các nhóm tôn giáo và các nhóm có quyền lực chính trị khác không phản đối quyết liệt các chương trình Thứ ba, Chính phủ các quốc gia đã duy trì những nỗ lực lớn và liên tục, bao gồm cả việc tài trợ đáng kể về tài chính Cuối cùng là Chính phủ các quốc gia này đã vào cuộc một cách tự nguyện và phối hợp với các thực thể phi chính phủ thực hiện thành công
Mặc dù các quốc gia thành công trong các mục tiêu của chương trình nghị
sự đặt ra tại các hội nghị, nhưng khó mà đánh giá được hiệu quả, tác động của các chính sách và chương trình dân số đối với các kết quả dân số– nghĩa là, xác
Trang 24định tốc độ giảm sinh trong điều kiện không có sự can thiệp của Chính phủ Tất
cả các quốc gia được khảo sát đều đang trong thời kỳ phát triển nhanh về kinh tế
và xã hội nhanh chóng Mức chết trẻ em giảm xuống; tỷ lệ phụ nữ có việc làm tăng lên; tiền công cao; phụ nữ có nhiều cơ hội giáo dục hơn và hàng loạt các nhân tố phát triển khác đã góp phần thay đổi những quan điểm về sinh đẻ Có thể các mô hình sinh đã thay đổi nhiều với tốc độ khá nhanh là do những sáng kiến của Chính phủ song không dễ dàng gì khi đánh giá những sáng kiến đó đã tác như thế nào Tương tự như vậy, rất khó xác định liệu có thể thực hiện kiểm soát sinh hiệu quả hơn, an toàn và ít tốn kém hơn vì là các chương trình của Chính phủ không? Khi phân tích các yếu tố quyết định giảm mức sinh, Tsui (sắp xuất bản) ước tính mức đóng góp của kế hoạch hoá gia đình và các yếu tố phát triển
Bà kết luận rằng tổng tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển khác trên thế giới sẽ giảm được 1 con từ năm 1982 nếu như các quốc gia này cũng thực hiện các chương trình kế hoạch hoá gia đình như ở các quốc gia được khảo sát ở Đông Á
Thành công của các chính sách dân số ở Đông Á đạt được nhờ có nguồn chi Các tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về tầm quan trọng của viện trợ từ bên ngoài Liu (Chương 4) tin rằng ở Đài Loan trợ giúp từ bên ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng vì vấn đề gây tranh luận xoay quanh bản chất của chương trình kế hoạch hoá gia đình chứ không phải là vấn đề chi phí Đầu tư tài chính công cho kế hoạch hoá gia đình chỉ được thực hiện ở Đài Loan vào năm
1968 Kwon (Chương 3) tin rằng trợ giúp bên ngoài là hết sức quan trọng đối với những nỗ lực của Hàn Quốc vì những thúc ép về tài chính Tất nhiên, Hàn Quốc năm 1961 nghèo hơn nhiều so với Đài Loan năm 1968
Khi các quốc gia Đông Á đã phát triển, tuy trợ giúp từ bên ngoài giảm nhưng tài trợ cho chương trình kế hoạch hoá gia đình từ Chính phủ và những người sử dụng lại tăng lên Thông tin có giá trị nhất thừa nhận rằng kinh phí hàng năm dành cho kế hoạch hóa gia đình bình quân đầu người khoảng 20 xu Mỹ vào giữa thập niên 70 và tăng lên khoảng 1 đôla Mỹ vào đầu thập niên 90 Ở Xinh-ga-po và Hàn Quốc, chi phí công đạt đỉnh điểm trong thập niên 80 và trong những năm gần đây đã giảm đáng kể vì ngày càng nhiều cặp vợ chồng quay sang
sử dụng các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình của khu vực tư nhân.(Tsui-sắp xuất bản) Chưa khi nào chi phí cho kế hoạch hoá gia đình chiếm tỷ trọng lớn trong
Trang 25tổng ngân sách nhà nước Ví dụ như ở Thái Lan mức đòi hỏi cao nhất từ ngân sách là vào năm 1977, song chi phí cho kế hoach hoá gia đình cũng chỉ chiếm 0,38% tổng chi của Chính phủ (Gullaprawit, Chương 6, bảng 6.6) Chi phí cho kế hoạch hoá gia đình ở In-đô-nê-xia chiếm 0,6% ngân sách Chính phủ năm 1986-
87 (Pasay và Wongkaren, Chương 7, bảng 7.8) Rõ ràng rằng ngân quỹ cho các chương trình dân số không phải là một gánh nặng tài chính lớnu đối với các quốc gia Đông Á
KẾT LUẬN
Năm 1960, các quốc gia Đông Á đã phải đối mặt với nhiều khó khăn Theo quan điểm của đa số tại thời điểm đó, gia tăng nhanh dân số là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất Sau hơn ba thập niên, những quốc gia này đã thành công vượt trội trong giảm sinh và làm chậm tốc độ gia tăng dân số; khắc phục được những vấn đề tiềm ẩn liên quan đến việc tăng đáng kể quy mô dân số; đồng thời đã biến những biến đổi về cơ cấu tuổi và các đặc trưng dân số khác thành những lợi thế kinh tế Kết thúc việc này như thế nào là hết sức quan trọng vì những giá trị tiềm tàng của các bài học đối với những nước đang phát triển khác khi phải đương đầu với những vấn đề phát triển tương tự
Những bài học dưới đây là quan trọng nhất trong số những bài học kinh nghiệm của các quốc gia Đông Á:
Thứ nhất, với những điều kiện thích hợp, mức sinh sẽ giảm với tốc độ đáng
kể Trong khoảng hai đến ba thập niên tổng tỷ suất sinh đã giảm từ sáu con xuống còn hai con hoặc dưới hai con trung bình một phụ nữ Ở hầu hết các quốc gia, ép buộc không giữ vai trò chủ yếu hay có hệ thống
Thứ hai, có nhiều cách để giảm sinh Ở Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá khác, phát triển kinh tế và xã hội đã khiến cho mức sinh giảm xuống mức thấp Chính phủ các quốc gia chỉ giữ vai trò thứ yếu bằng cách ngăn cản hoặc là tạo điều kiện thuận lợi cho công nghệ tránh thai Nhưng ở các quốc gia đang phát triển Đông Á mức sinh đã giảm rất nhanh, một phần là kết quả của phát triển nhanh về kinh tế xã hội trong khu vực và một phần
là do những chương trình tổng thể và có hiệu quả của Chính phủ khuyến
Trang 26khích các cặp vợ chồng sinh ít con cũng như cung cấp cho họ những biện pháp có hiệu quả, chi phí thấp để điều chỉnh mức sinh
Thứ ba, tác động của biến động dân số đối với phát triển là phức tạp và diễn ra ở nhiều lĩnh vực Trong suốt thời kỳ quá độ dân số diễn ra chóng vánh khác thường ở Đông Á, các quốc gia đã trải nghiệm những biến động lớn về quy mô và tỷ lệ tăng trưởng dân số, tỷ suất sinh, tỷ suất chết và cơ cấu tuổi Những biến động dân số học này đã gây ảnh hưởng đến quy mô dân số lao động và dân số phụ thuộc, địa vị kinh tế của phụ nữ, khuyên khích tiết kiệm và đầu tư, quyết định đầu tư cho sức khoẻ và giáo dục của trẻ em, quy mô khác nhau của sự bất bình đẳng trong thu nhập và các dòng vốn quốc tế Ở Đông Á, thời kỳ quá độ dân số diễn ra nhanh có tác động lớn và có lợi cho phát triển
Thứ tư, không phải bỗng nhiên mà có những lợi ích do giảm sinh và quá
độ dân số đem lại cho phát triển Những kết quả có triển vọng phụ thuộc rất lớn vào những chính sách phát triển có hiệu quả đặc trưng cho khu vực Khoảng cách hay độ chênh giữa tăng trưởng lực lượng lao động và tăng trưởng dân số là thuận lợi vì việc đẩy mạnh xuất khẩu có hiệu quả đã cung cấp việc làm có lợi nhuận cho lực lượng lao động đang tăng nhanh Biến động dân số dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm/tích luỹ cao do ổn định kinh tế vĩ mô
và sự phát triển của các định chế tài chính khuyến khích tiết kiệm đồng thời vì Chính phủ các quốc gia đã ngăn ngừa được các chương trình chuyển nhượng quy mô lớn có thể suy giảm hoặc không khuyến khích tiết kiệm Những biến đổi cơ cấu tuổi của dân số đã tạo khả năng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục vì chính sách công và cha mẹ đều ưu tiên cho giáo dục Những thay đổi trong trách nhiệm sinh đẻ của phụ nữ đã đem lại hiệu quả kinh tế có triển vọng do Chính phủ các quốc gia đã bãi bỏ các quy định hành chính và chính sách gây phân biệt đối xử với phụ nữ Tóm lại, biến động dân số diễn ra nhanh là điều kiện cần nhưng không đủ cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh Những biến động dân số tạo ra các cơ hội mà những quốc gia Đông Á này đã nắm bắt được bằng cách tiếp tục theo đuổi những chính sách kinh tế và xã hội để hỗ trợ cho những nỗ lực phát triển
Trang 27Thành công của những chính sách và chương trình dân số ở Đông Á là kết luận tất yếu Nỗ lực giảm sinh và làm chậm tốc độ gia tăng dân số kéo theo sự sụt giảm chưa từng có của mức sinh Phát triển nhanh về kinh tế và xã hội đã đẩy nhanh những biến động dân số của khu vực, nhưng hành động của Chính phủ đã làm cho dân số biến đổi và kinh tế phát triển nhanh hơn
Chú thích
1 Trong cuốn sách này chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đông Á để chỉ các quốc gia ở cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á
2 Những số liệu về GDP trong chương này được tính theo giá quốc tế 1985
và được lấy theo bảng Penn World Tables (Summers và Heston năm 1991)
3 Tỷ lệ hỗ trợ có thể được cải tiến để thống nhất sự khác biệt về tuổi trong năng xuất lao động và nhu cầu tiêu dùng Trong trường hợp này, người đếm tăng thêm dân số trong mỗi tuổi bằng năng xuất trung bình của công nhân trong nhóm tuổi đó, thông thường được đo bằng việc sử dụng hồ sơ xin việc Mẫu số tính đến sự biến động về tuổi trong nhu cầu tiêu dùng bằng cách sử dụng trọng lượng đặc trưng thấp hơn đối với trẻ con và có thể giảm đi hoặc tăng hơn với người già so với người mới trưởng thành Lee, Mason và Miller (sắp xuất bản) đã cung cấp những tính toán chi tiết của Đài Loan Những kết quả đưa ra ở đây sử dụng một trọng lượng tiêu dùng 0,5 cho trẻ con từ 0 - 14 tuổi và trọng lượng 1,0 cho tất cả các tuổi còn lại
4 Xem Bloom và William (1998) cho một phương pháp tương tự
Nguồn tham khảo
Ahlburg, Dennis và Eric Jensen Sắp xuất bản Giáo dục và Điều kỳ diệu của
Đông Á Andrew Mason (ed) Thay đổi Dân số và Phát triển Kinh tế ở Đông
Á Những thách thức được đáp ứng và Những cơ hội được nắm lấy, Standford,
CA: nhà xuất bản trường đại học Standford
Trang 28Bauer, John Sắp xuất bản Tăng trưởng kinh tế và Chính sách ở Đông Á
Andrew Mason (ed) Thay đổi Dân số và Phát triển Kinh tế ở Đông Á: Những
thách thức được đáp ứng và Những cơ hội được nắm lấy, Standford, CA: nhà
xuất bản trường đại học Standford
Trang 29
Cũng như các quốc gia khác, những đặc trưng dân số của Nhật Bản có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, và Chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển này Vậy thì tại sao Chính phủ lại không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ? Tại sao mức sinh lại giảm tại Nhật Bản trong khi thiếu một chương trình như vậy? Những biến động dân số đã tác động đến phát triển kinh tế như thế nào và Chính phủ có vai trò gì trong việc định hướng các xu thế dân số để đáp ứng các nhu cầu kinh tế?
Chương này tập trung kiểm điểm từng bước phát triển của các chính sách dân số Nhật Bản và các mối quan hệ tương tác giữa những chính sách này với phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ
II Để xác định rõ, tác giả định nghĩa chính sách dân số là chính sách do Chính phủ tuyên bố nhằm chủ yếu tác động đến quy mô, cơ cấu dân số và phân bố dân
cư, và chương trình dân số là những biện pháp hành chính và pháp luật được Chính phủ ban hành nhằm đạt được những mục tiêu chính sách đó Các chính sách dân số thường trực tiếp tác động đến mức sinh vì mức sinh ảnh hưởng mạnh
mẽ đến tăng trưởng và cơ cấu dân số Nói đúng ra, những chính sách nhằm cải thiện các điều kiện sức khoẻ của dân cư không được coi là chính sách dân số vì các mục tiêu y tế được xác định mà không tính đến những hệ quả dân số Tuy nhiên, các biện pháp y tế cũng gây nên những ảnh hưởng về mặt dân số (Y Okazaki 1997, 9-10), và vì thế mà tác giả sẽ đề cập đến vần đề này trong nghiên cứu của mình Các chính sách có định hướng tác động đến di cư nội địa và quốc
tế là những chính sách dân số vì tác động trực tiếp đến phân bố dân cư, mặc dù các mục tiêu trước mắt của những chính sách này chủ yếu nhằm phục vụ các mục đích kinh tế và xã hội chứ không phải vì mục đích dân số Do vậy, nghiên cứu dưới đây được chia thành hai phần: các chính sách về tăng trưởng dân số và chính sách phân bố dân cư
CHÍNH SÁCH TĂNG TRƯỞNG DÂN SỐ
Trang 30Chính sách dân số Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại (từ giữa thế kỷ XIX) được thực hiện trong bốn giai đoạn liên tiếp, tương ứng với bốn xu thế dân số riêng biệt Đó là (1) thời kỳ trước khi kết thúc Đại chiến thế giới thứ II; (2) Thời
kỳ bùng nổ dân số sau chiến tranh và tiếp theo là mức sinh giảm mạnh trong bối cảnh điều kiện kinh tế khó khăn; (3) thời kỳ mức sinh thấp ổn định cùng với tăng trưởng kinh tế nhanh; và (4) thời kỳ hiện nay, mức sinh không đủ thay thế và tăng trưởng kinh tế chậm lại
Thời kỳ trước khi kết thúc Đại chiến thế giới thứ II
Sau hai thế kỷ cách ly mình với phần còn lại của thế giới, năm 1859 Nhật Bản mở cửa ba trong số các cảng biển của mình cho năm quốc gia: Hoa Kỳ, Nga, Anh Quốc, Hà Lan và Pháp Sự tiếp cận với những thế lực bên ngoài rõ ràng đã tạo nên một cuộc tái cơ cấu toàn diện xã hội, đánh dấu bằng một cuộc cách mạng chính trị gọi là Phục hưng Meiji vào năm 1868 Dưới sự lãnh đạo của Chính phủ mới, Nhật Bản bắt đầu xây dựng một quốc gia hiện đại và mạnh về quân sự nhằm bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lấn tiềm tàng và ách thuộc địa từ các thế lực phương Tây Tác giả không có ý định thảo luận về lịch sử của công cuộc hiện đại hoá và công nghiệp hoá của Nhật Bản, mà chỉ đơn thuần ghi nhận sự tăng trưởng đáng
kể và liên tục của dân số trong suốt thời kỳ này Các số liệu khảo sát dân số do Nhà nước phong kiến Ado thực hiện từ thế kỷ XIX cho thấy dân số Nhật Bản hầu như trì trệ trong suốt thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX
Năm 1872, Chính phủ Nhật Bản mới tiến hành cuộc tổng điều tra dân số và
hộ gia đình trên quy mô toàn quốc, tổng dân số thường trú là 34,8 triệu người Từ
đó đến Đại chiến thế giới thứ II, dân số Nhật Bản tăng lên hơn hai lần, đạt quy
mô 71,9 triệu người vào năm 1940 Sự tăng trưởng dân số này là do mức chết giảm và mức sinh tăng Tuy nhiên, theo số liệu thống kê chính thức, từ năm 1873 đến 1920 tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết thô đều tăng: tỷ suất sinh thô tăng từ 23,1%o lên 36,2%o và tỷ suất chết thô tăng từ 18,9 %o lên 25,4%o Những xu hướng tăng này, đặc biệt là tỷ suất chết thô phần nào phản ánh sự cải thiện của hệ thống theo dõi báo cáo (Y Okazaki 1987, 20-24) Nhưng thậm chí sau khi điều chỉnh số sinh và số chết chưa được báo cáo thống kê trước đó, mức sinh dường như vẫn tiếp tục tăng trong những năm đầu của thế kỷ XX Kết quả là tỷ lệ tăng dân số hàng năm tăng mạnh từ 0,43 % năm 1873 lên 1,08% vào năm 1920 khi cuộc Tổng điều tra dân số hiện đại đầu tiên được thực hiện
Bất chấp những khó khăn do gia tăng nhanh dân số tạo ra, Chính quyền Meiji vẫn muốn có nhiều dân để củng cố sức mạnh quân đội và kinh tế Nhằm duy trì mức sinh cao, Chính phủ đã ban hành những quy định pháp lý cấm nạo phá thai và ngăn chặn tục lệ giết trẻ sơ sinh, một thực tế xảy ra phổ biến trong thời kỳ Edo Ngoài ra, Chính phủ cũng cấm các hoạt động sản xuất và phân phối thuốc và dụng cụ tránh thai trong nỗ lực ngăn chặn kiểm soát sinh con
Trang 31Năm 1903, lần đầu tiên vấn đề kiểm soát sinh được thảo luận rộng rãi
trong một cuốn sách mang tên Cải thiện Xã hội (Shakai Kaizo Ron), nhưng
không thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng Tuy nhiên, sau chuyến thăm Nhật Bản đầu tiên của Maragret Sanger vào năm 1922, vấn đề kiểm soát sinh đã trở thành đề tài được tranh luận rộng khắp Lúc đó một số tổ chức – trong
đó có Tổ chức Nghiên cứu Kiểm soát sinh Nhật Bản (Nihon Sanjisengen Kenkyukai), do Isoo Abe và Keikichi thành lập, và Văn phòng Tư vấn Kiểm soát sinh (Sanji Sêign Sodanjo) do Umashima thành lập – bắt đầu tích cực ủng hộ vần
đề kiểm soát sinh (A Okazaki 1957, 38-39)
Năm 1927, khi Tổng cục Thống kê báo cáo rằng hàng năm dân số tăng trưởng đã vượt qua ngưỡng 1 triệu người, Chính phủ đã thành lập Hội đồng Điều tra các Vấn đề Dân số và Lương thực (Jinko Mondai Chosakai) Hội đồng nhận định rằng với dân số có quy mô lớn hơn là một biểu hiện đáng khích lệ của quốc gia thịnh vượng và Hội đồng chỉ luận bàn những biện pháp tăng sản xuất lương thực để theo kịp tốc độ tăng trưởng dân số (A Okazaki 1957, 31)
Viện các vấn đề Dân số, nay là Viện Nghiên cứu Quốc gia về An sinh Xã hội và Dân số, được thành lập năm 1939 dưới sự bảo trợ của Bộ Y tế và Phúc lợi với mục đích tương tự Năm 1941, Chính phủ quyết định tăng cường nỗ lực gia
tăng dân số và soạn thảo Hướng dẫn Hoạch định Chính sách Dân số (Jinko
Seisaku Kakuritsu Yoko), bao gồm các biện pháp như ưu tiên khám chữa bệnh
cho bà mẹ mang thai và phụ nữ nuôi con nhỏ, trợ cấp nuôi dưỡng trẻ em, và các lợi ích liên quan đến thuế cho các gia đình đông con (A Okazaki 1957, 32,39 Takeuchi 1996, 123; Y Okazaki 1997, 91-93)
Những nỗ lực của Chính phủ nhằm khuyến khích quy mô gia đình lớn hơn, đặc biệt trong Đại chiến thế giới thứ II, chỉ thành công phần nào và thực tế không ngăn cản được sự suy giảm mức sinh kéo dài, bắt đầu vào khoảng năm 1920 (Oobuchi và Morioka 1981 189-94) Tỷ suất sinh thô giảm từ 36,2 %o năm 1920 xuống còn 29,4%o vào năm 1940 Sau đó, dường như đáp lại các biện pháp khuyến sinh của Chính phủ, tỷ suất sinh thô tăng nhẹ lên khoảng 30%o trong những năm 1940-43, sau đó lại giảm xuống dưới mức 30%o khi chiến tranh đi đến đoạn kết vào năm 1945 Trong những năm 1944-46, không có bất cứ một số liệu chính thức nào về số trẻ em sinh ra
Với điểm xuất phát vào giữa thế kỷ XIX, dân số tăng trưởng tương đối chậm, trong vòng sáu thập niên từ 1870 đến cuối những năm 1920 dân số tăng tự nhiên bắt đầu lấy đà tăng dần và đạt đỉnh điểm vào những năm cuối của thập niên
20 với tỷ lệ gia tăng hàng năm khoảng 1,5% Sau đó, tỷ lệ gia tăng dân số bắt đầu chậm lại, giảm dưới mức 1% vào cuối thập niên 30 Rõ ràng trong thời kỳ này, chính sách khuyến sinh của Chính phủ không thành công trong việc ngăn cản mong muốn của các cặp vợ chồng Nhật Bản đối với gia đình quy mô nhỏ Mong
Trang 32muốn này hình thành một phần do đô thị hoá và khu vực kinh tế hiện đại ngày một phát triển Trong những năm từ 1920 đến 1940, tỷ lệ lực lượng lao động trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp chủ chốt đã giảm từ 54% xuống còn 25%, và tỷ lệ dân số sống tại các khu vực thành thị đã tăng từ 18% lên đến 38% (Japan BOS 1975, Bảng 3 32)
Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng hệ thống giáo dục phổ thông bắt buộc của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực theo quy định của Luật Hệ thống Giáo dục (Gaku Sei) vào năm 1872, đã phát triển thành một hệ thống giáo dục bắt buộc sáu năm vào năm 1907 Trong những năm 1920, khi tăng trưởng dân số bắt đầu chậm lại, nạn mù chữ trong dân số lớn tuổi hầu như đã được xoá bỏ trừ một số bộ phận người già Không còn nghi ngờ gì, phổ cập giáo dục toàn dân có quan hệ mật thiết với hành vi sinh sản hiện đại trở nên phổ biến, đóng góp cho xu thế gia đình
ít con
Chính vì thế, giai đoạn thứ hai của quá độ dân số tại Nhật Bản, trong giai đoạn này mức sinh giảm xuống mức thay thế, bắt đầu từ những năm 1920 và mất xấp xỉ 30 năm để hoàn thành Nhìn lại quá khứ, dường như tỷ lệ gia tăng dân số bất thường chỉ xảy ra trong Đại chiến thế giới thứ II và ngay sau khi chiến tranh kết thúc Đó chỉ là bất ổn tạm thời, chứ không phải là một sự đảo ngược của quá trình chuyển đổi mức sinh bền vững
Bùng nổ dân số sau chiến tranh và giai đoạn 1945-55
Khi Đại chiến thế giới thứ II chấm dứt, một Nhật Bản thất bại phải đối mặt với nền kinh tế kiệt quệ, trong một lãnh thổ nhỏ và quá đông dân Hầu hết các nhà máy và máy móc của Nhật Bản đã bị phá huỷ trong những cuộc tấn công của lực lượng đồng minh; những tài sản còn lại được sử dụng như những đền bù thiệt hại chiến tranh của Nhật Bản Hàng triệu cựu chiến binh và người dân bắt đầu từ nước ngoài trở về Nhật Bản Chỉ trong năm 1946 và 1947, số người Nhật Bản hồi hương được ước tính vào khoảng 4,5 triệu người Những người hồi hương, chủ yếu là nam giới, được đoàn tụ với vợ hoặc lấy vợ Bùng nổ kết hôn dẫn đến bùng
nổ số trẻ em chào đời diễn ra liên tục trong một số năm Năm 1951, tỷ lệ sinh tăng trở lại ở mức trước chiến tranh
Trong suốt thời kỳ bùng nổ dân số này, tỷ suất sinh thô đạt 34,4%o vào năm 1947 và duy trì trên 30%o trong một số năm Vừa tăng số người hồi hương vừa bùng nổ dân số tạo nên một làn sóng gia tăng dân số, đạt mức tăng trưởng 5% vào năm 1946 và sau đó bắt đầu suy giảm – 3,1% vào năm 1947 và 2,4% năm 1948, và 2,2% vào năm 1949 Tốc độ tăng trưởng dân số Nhật Bản là chưa
có tiền lệ và làm ngạc nhiên nhiều người, bao gồm cả những chính trị gia và các nhà kinh tế học có uy tín Đột nhiên, quá tải dân số được nhìn nhận như một mối
đe doạ và rất nhiều người đã lên tiếng cảnh báo (A Okazaki 1957, 171-74)
Trang 33Thời kỳ này cũng chứng kiến những cải thiện về y tế công do những hoạt động của các trung tâm y tế công của Nhật Bản và những tiến bộ về thuốc men
Tỷ suất chết thô giảm từ 14,6%o năm 1947 xuống còn 7,8%o trong năm 1955 Mức chết giảm tạo điều kiện cho gia tăng nhanh dân số
Từ năm 1945 đến năm 1951, lực lượng đồng minh đóng quân và cai quản Nhật Bản; quyền lực và các giá trị tinh thần đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến người dân Nhật Bản, khiến quốc gia này chuyển từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ Năm 1949, Tổng tư lệnh liên quân mời hai chuyên gia dân số người Mỹ là Warren S Thompson và Pascal K Whelpton đến Nhật Bản Cả hai chuyên gia này đều cảnh báo Nhật Bản về hiểm hoạ gia tăng nhanh dân số, ủng hộ việc áp dụng các biện pháp tránh thai để kiểm soát dân số Khi những ý kiến của họ được đăng trên các báo tại Nhật Bản, họ đã phải đối mặt với những phe đối lập, những người đại diện cho Nhà thờ Thiên chúa giáo, bao gồm cả các giáo sỹ của khu vực Tokyo Yokohama và Câu lạc bộ Phụ nữ Thiên chúa giáo Liên quân tại Tokyo Đối mặt với những phản đối này, Tổng tư lệnh Liên quân thông báo rằng quan điểm của Warren S Thompson và Pascal K Whelpton là những ý kiến của chuyên gia và rằng Liên quân trung lập trong vấn đề kiểm soát sinh Vấn đề kiểm soát sinh là do người dân Nhật Bản tự quyết định
Tuy nhiên, quan điểm của hai chuyên gia dân số nước ngoài dường như cũng tác động đến nhiều người dân Nhật Bản Trong vòng vài năm tiếp theo, ít nhất 16 tổ chức và nhóm được thành lập để ủng hộ kiểm soát sinh Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai bắt đầu tăng mạnh (Matsumura 1977, 167-78)
Chính phủ Nhật Bản, vốn dĩ đã không ủng hộ cuộc vận động kiểm soát dân
số, vẫn giữ quan điểm rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai là quyền tự quyết của mỗi người dân Nhưng vào năm 1947, Chính phủ đã thay đổi Luật Dược (Yakuji Ho) cho phép các công ty tư nhân sản xuất và phân phối các loại phương tiện tránh thai Tháng 5 năm 1949, Chính phủ cũng thành lập Hội đồng các Vấn đề Dân số (Jinko Mondai Shingikai) và Hội đồng này trình lên nghị quyết đầu tiên về chính sách dân số cơ bản vào tháng 11 năm 1949 Trong các đề xuất của mình, Hội đồng đề nghị củng cố hoạt động của các trung tâm y tế công
và các văn phòng tư vấn hôn nhân, cũng như phân phối miễn phí phương tiện tránh thai và thuốc tránh thai Năm 1954, Hội đồng trình lên Bộ Y tế và Phúc lợi một nghị quyết ủng hộ việc kiểm soát quy mô dân số quốc gia, và vào năm 1955 Hội đồng ủng hộ việc giảm gia tăng dân số tới mức đất nước có thể tự túc được (Mainichi Shimbun Sha 1992, 345-46)
Tháng 10 năm 1951, Nội các Nhật Bản quyết định thúc đẩy kiểm soát sinh,
và vào tháng 6 năm 1952, Bộ Y tế và Phúc lợi thông qua Hướng dẫn khuyến khích kiểm soát sinh Trong những năm tiếp theo, Viện các Vấn đề Dân số và Viện Y tế Công Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế (Koshu Eisei In) bắt đầu thúc đẩy
Trang 34kiểm soát sinh tại các “quận thí điểm mô hình” Theo ghi nhận của báo chí trong năm 1955, Bộ Y tế và Phúc lợi tiến hành mở rộng các hoạt động khuyến khích kiểm soát sinh, đảm bảo hỗ trợ khoản lớn từ ngân sách trung ương và các chính quyền địa phương cho mục đích này
Tuy nhiên, sự tham gia của Chính phủ trong các hoạt động kiểm soát sinh không kéo dài quá lâu do các tổ chức tư nhân và bản thân các cặp vợ chồng đã gánh vác trách nhiệm KHHGĐ (Minami 1972, 67-70) Năm 1952, Sanger thăm lại Nhật Bản và ủng hộ mạnh mẽ việc tạo điều kiện để các biện pháp kiểm soát sinh sẵn có cho tất cả những ai muốn thực hiện KHHGĐ Chuyến thăm của Bà giúp tạo nên một sự hỗ trợ nhất định trong những chuyển biến về kiểm soát sinh của Nhật Bản Các tờ báo đăng quảng cáo về các loại phương tiện tránh thai hầu như ra hàng ngày, và nhiều các loại sách, tờ rơi được xuất bản, mô tả quá trình tái sinh sản ở người và các kỹ thuật tránh thai cụ thể Theo kết quả khảo sát của Cục quản lý Dược, Bộ Y tế và Phúc lợi, việc cung cấp các sản phẩm tránh thai như viên uống tránh thai, viên đặt, kem, bao cao su, vòng tránh thai, băng vệ sinh và các sản phẩm vệ sinh gia tăng rất nhanh, với tổng giá trị đạt khoảng 400 triệu Yên vào năm 1953 (A Okazaki 1952, 184-88)
Theo kết quả khảo sát của Viện các Vấn đề Dân số, với cơn sốt kiểm soát sinh lan rộng, tỷ lệ các cặp vợ chồng thành thị trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 25% lên 28% chỉ trong vòng ba năm (1950-1952), và
tỷ lệ này ở các cặp vợ chồng nông thôn thậm chí còn cao hơn, từ 12 đến 18% trong cùng thời kỳ
Sự phổ biến các biện pháp tránh thai ở người Nhật không ngừng gia tăng Theo các khảo sát định kỳ do Báo Mainichi thực hiện năm 1950, tỷ lệ phụ nữ Nhật Bản đang sử dụng hoặc đã sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 29% trong năm 1950 lên 52% năm 1955, và lên đến 68% vào năm 1961 (Mainichi Shinbun Sha 1992, 54) Biện pháp tránh thai phổ biến nhất là bao cao su, đạt tỷ lệ hơn 50% số người sử dụng kể từ năm 1952 và thậm chí đạt mức 80% vào năm
1980 Biện pháp phổ biến thứ hai trong suốt thập niên 50 và 60 là biện pháp tính chu kỳ kinh nguyệt, khoảng 30-40% người chấp nhận thực hiện KHHGĐ sử dụng biện pháp này Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại cũng khá cao và rất nhiều người trong số
họ phải tìm kiếm giải pháp nạo phá thai Nạo phá thai được coi là hợp pháp tại Nhật Bản từ năm 1948 (Mainichi Shinbun Sha 1992, 54)
Vào năm 1917, các chính trị gia và các học giả Nhật Bản bày tỏ sự quan tâm về sự di truyền các bệnh thần kinh Vào năm 1938, Bộ Y tế và Phúc lợi thành lập Uỷ ban Ưu sinh để xử lý các vấn đề ưu sinh Hai năm sau, Chính phủ ban hành Luật Ưu sinh Quốc gia (Kokumin Yusei-ho), cho phép các bác sĩ thực hiện triệt sản “ưu sinh” theo nguyện vọng của bệnh nhân Tuy nhiên, số ca phẫu thuật
là không nhiều, chưa bao giờ vượt quá mức 200 ca một năm trong suốt thời kỳ
Trang 35194-47 Quy định này không nhằm mục đích tác động đến tăng trưởng dân số và cũng không liên quan đến chính sách dân số (A Okazaki 1957, 195-99)
Tháng 7 năm 1948, Luật Bảo vệ Ưu sinh được thông qua thay thế Luật Ưu sinh Quốc gia cũ Luật mới có hai đặc trưng cơ bản: Cho phép chỉ định triệt sản nhằm mục đích ưu sinh với những điều kiện cụ thể, và cho phép nạo phá thai vì mục đích ưu sinh cũng như bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của người mẹ Theo luật mới (hiện nay vẫn còn hiệu lực), nếu người mẹ có tiền sử bệnh lý, hoặc người mẹ mang thai do bị hãm hiếp, hoặc nếu có vấn đề về sức khoẻ hay kinh tế khó khăn, thì những yếu tố này được coi là nguy cơ gây hại cho cuộc sống và sức khoẻ của người mẹ Nói khác đi, trong điều kiện đó phụ nữ mang thai có thể thực hiện nạo phá thai hợp pháp vì nếu không, việc mang thai sẽ đe doạ sức khoẻ và tình trạng kinh tế của người mẹ Những quy định mở này cho phép các bác sĩ thực hiện các ca phá thai bất cứ khi nào sản phụ yêu cầu, bất kể lý do (A Okazaki 1957, 199-203) Rất khó có thể coi quy định này được thông qua chỉ đơn thuần với mục đích ưu sinh; nó trở nên một biện pháp pháp lý hữu hiệu nhằm xoá
bỏ những ca mang thai ngoài ý muốn Như vậy, nó nhanh chóng kiểm soát được việc gia tăng nhanh dân số
Sau khi ban hành Luật này, số ca nạo phá thai được báo cáo tăng từ 102.000 vào năm 1949 lên đến 1.170.000 vào năm 1955 Và còn rất nhiều ca không được báo cáo Năm 1955, tỷ lệ nạo phá thai được báo cáo so với số ca sinh
là 68% (IIP 1996, 66) Do những thất bại phổ biến trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai trong những năm đầu, rất nhiều phụ nữ thực hiện nạo phá thai như giải pháp đơn giản chấm dứt mang thai ngoài ý muốn Một vài cặp vợ chồng thậm chí còn không buồn sử dụng các biện pháp tránh thai, thay vào đó dựa vào nạo phá thai để hạn chế quy mô gia đình Những con số lớn về nạo phá thai, kể cả được báo cáo và không được báo cáo cho thấy rằng biện pháp kiểm soát sinh này
là nguyên nhân chính làm suy giảm nhanh mức sinh tại Nhật Bản vào đầu thập niên 50
Thời kỳ mức sinh ổn định, 1955-75
Báo cáo Kinh tế thường niên năm 1956 của Chính phủ (Keizai Hakusho)
thông báo rằng thời kỳ tái thiết sau chiến tranh đã kết thúc khi thu nhập đầu người đã đạt mức trước chiến tranh vào năm 1955 Trong suốt hai thập niên sau thông báo này, Nhật Bản trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận Tổng thu nhập bình quân đầu người đạt mức như tại nhiều quốc gia Châu Âu Sản lượng công nghiệp tăng nhanh chóng, và một cuộc chuyển đổi khổng lồ lực lượng lao động nông nghiệp sang công nghiệp đã xảy ra nhằm đáp ứng các nhu cầu lao động công nghiệp Những thay đổi này đã tạo nên một dịch chuyển dân
số lớn từ nông thôn đến các khu vực thành thị