Triệu chứng chủ yếu là khàn tiếng hoặc mất tiếng do sự rung động của dây thanh không đều, hoặc khép không kín khi phát âm.. Các biểu hiện khàn, mất tiếng cũng có thể do rối loạn chức năn
Trang 1Hå THÞ THU V¢N
T×M HIÓU MéT Sè NHËN THøC VÒ TRIÖU CHøNG khµn tiÕng Vµ c¸c MèI LI£N QUAN CñA KHµN TIÕNG
ë ng-êi lín ph-êng phó héi-thµnh phè huÕ
NĂM, 2009
Trang 2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giọng nói rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Giọng nói là công cụ tốt nhất giúp chúng ta giao tiếp Một số ngành nghề dùng giọng nói nhiều như: ca sĩ, giáo viên, bán hàng, luật sư Nếu không biết tự bảo vệ giọng nói của mình, để khàn tiếng thường xuyên xảy ra có khi phải đổi nghề mà không thể tiếp tục hành nghề với giọng khàn được[32]
Giọng nói được tạo ra nhờ sự phối hợp của nhiều cơ quan như: não, phổi, thanh quản mà đặc biệt là 2 dây thanh âm, thanh quản đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành lời nói Lời nói được tạo ra khi có luồng không khí
từ phổi đi lên; sự rung động của dây thanh tác động lên cột không khí này, tạo nên âm thanh Khi phát âm, dây thanh đóng kín, hình dạng dây thanh có thể biến đổi lúc dày, lúc mỏng, khi căng ít, khi căng nhiều tùy theo nhu cầu phát
âm Khi chúng ta bị bệnh, các bộ phận này bị tổn thương sẽ làm giọng nói thay đổi như nói khàn, mất tiếng, giọng đôi, vỡ tiếng, tiếng cứng, tiếng nói giọng hoạn thi, nói lắp, nói ngọng [30]
Các rối loạn về giọng nói xuất hiện do sự biến đổi nhất thời hoặc lâu dài của chức năng phát âm Triệu chứng chủ yếu là khàn tiếng hoặc mất tiếng do sự rung động của dây thanh không đều, hoặc khép không kín khi phát âm Những tổn thương tại chỗ như viêm mạn tính (làm dây thanh dày và cứng, rung động kém), hạt xơ dây thanh, polyp dây thanh, u nang dây thanh Các biểu hiện khàn, mất tiếng cũng có thể do rối loạn chức năng giọng thanh quản ở tuổi dậy thì, hoặc do nhược cơ dây thanh, bệnh thần kinh, ngộ độc [30]
Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho biết những nguyên nhân, triệu chứng khàn tiếng Tuy nhiên, sự nhận thức và hiểu biết trong cộng đồng nhân dân còn nhiều hạn chế về bệnh Tai Mũi Họng nói chung và triệu chứng khàn tiếng nói riêng Vì vậy, để tìm hiểu, nhận thức tác hại của triệu chứng khàn tiếng nhằm phòng tránh bệnh tật cho người dân, rút ra
Trang 3
những bài học kinh nghiệm, góp phần chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng ngày một tốt hơn
Chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu một số nhận thức về triệu chứng
khàn tiếng và các mối liên quan của khàn tiếng ở người lớn phường Phú Hội thành phố Huế”
Với mục tiêu:
- Tìm hiểu một số nhận thức về triệu chứng khàn tiếng của người lớn ở phường Phú Hội, thành phố Huế
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến triệu chứng khàn tiếng ở người
lớn Phường Phú Hội - Thành phố Huế
Trang 4
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI NIỆM VỀ KHÀN TIẾNG
2.1.1 Theo y học hiện đại
Khàn tiếng xảy ra khi bất kỳ tình trạng nào ảnh hưởng đến chức năng phát âm của thanh quản: ảnh hưởng đến kích thước khe thanh môn, độ sắc của
bờ thanh đai, tần số rung thanh đai và độ căng của chúng Tiếng nói mất âm sắc, rè rè, không rõ ràng
Khàn tiếng cũng là triệu chứng của bệnh thanh quản [29], là triệu chứng quan trọng thường gặp và đôi khi là triệu chứng sớm duy nhất Đó là sự rối loạn về cao độ âm thanh bình thường mà cao độ này có thể được đánh giá bằng
phương pháp nghe sử dụng thang R.B.H (R: Roughness - tiếng chói tai, B: Breathness - tiếng phều phào, H: Hoarseness- khàn tiếng) [26]
2.1.2 Theo y học cổ truyền
Mất tiếng hay khan tiếng, là loại bệnh lí của thanh quản mà triệu chứng
là phát ra tiếng nói không rõ, âm thanh khàn, thậm chí không thể phát âm được
Theo Đông y, trong triệu chứng này, phổi và thận có quan hệ mật thiết nhau
Trên lâm sàng chia ra 4 loại hình:[33]
Loại hình phong hàn: triệu chứng thường thấy là phát bệnh nhanh, tiếng
nói không rõ, âm khàn, đau đầu, sổ mũi, ho không ra tiếng, lạnh run phát sốt
Loại hình phong nhiệt: triệu chứng thường thấy là phát ra âm thanh
không rõ, âm thanh nặng đục, miệng nóng, cổ khô, ho ra đờm vàng đặc
Loại hình phế nóng: triệu chứng chủ yếu là đổ mồ hôi, âm khàn, miệng
khô họng nóng, ho khan không đờm
Trang 5
Loại hình phế thận âm hư: triệu chứng thường thấy là bệnh khởi phát từ
từ, dần dần âm khàn, họng khô lâu ngày không hết, hoặc ho khan không đờm, tâm ngũ phiền nhiệt, choáng váng ù tai, lưng gối mỏi nhừ
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ TRIỆU CHỨNG KHÀN TIẾNG
2.2.1 Nước ngoài
- Năm 1600, Hieronimus và Acquapendente đã mô tả lần đầu tiên về những rối loạn phát âm ở những người thuyết giáo.[34]
- Năm 1855, nhà phẫu thuật người Pháp, Jean Desormeaux đã sáng chể
ra dụng cụ nội soi, cho phép quan sát bằng mắt thường các cơ quan rỗng, trong
đó có thanh quản
- Rubin H.J (1961) đã báo cáo ở hội nghị Tai Mũi Họng tại California về các đặc điểm của hạt xơ dây thanh và đưa ra nhận xét về quan điểm điều trị: phẫu thuật, nghỉ nói và luyện giọng hoặc phối hợp
- Hogikyan (1999) ở các ca sĩ bị hạt xơ dây thanh đã chứng minh rằng sử dụng giọng không đúng cách là nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh
- Năm 1886, Frankel B cắt u thanh quản qua soi gián tiếp
- Năm 1912 - 1930, Killian G và Lynch R đã sử dụng nội soi treo thanh quản để cắt u trong lòng thanh quản
- Năm 1960, Scaldo A.N đã sử dụng kính hiển vi vào vi phẫu thuật thanh quản đã tăng độ chính xác trong khi phẫu thuật và cho kết quả tốt hơn
Từ đầu thế kỷ 20, vi phẫu thuật thanh quản đã có tiến bộ quan trọng khi Kleinsasser O đưa vào sử dụng những dụng cụ vi phẫu và có công trình nghiên cứu về kỹ thuật phẫu thuật các tổn thương lành tính dựa trên những thành tựu cấu trúc vi thể của dây thanh
Những năm đầu của thập kỷ 70 Jako G.J và Strong M.N đã báo cáo kết quả vi phẫu thuật cắt u thanh quản bằng cách sử dụng Laser CO2
Zeitels S (1996), Benninger M.S (2000), Abitbol J (2000) đã báo cáo
so sánh những ưu khuyết điểm phẫu thuật các thương tổn lành tính dây thanh
Trang 6Năm 1994, Võ Tấn, Phạm Kim đã giới thiệu một số nguyên nhân gây khàn tiếng thường gặp [20]
Năm 1996, Nguyễn Hữu Khôi đã báo cáo kết quả điều trị hạt xơ dây thanh bằng phẫu thuật cho 42 trường hợp và kết quả điều trị cho những trường hợp khàn giọng kéo dài trên 3 tháng bằng phẫu thuật có kết quả cao (88%) [9]
Từ năm 1997, Nguyễn Văn Lý và cộng sự cũng đã bắt đầu áp dụng điều trị các tổn thương lành tính thanh quản bằng Laser CO2 tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 [17]
Năm 1999, Lê Văn Lợi xuất bản sách thanh học đề cập đến nguyên nhân gây nên các bệnh về giọng nói và đưa ra các khái niệm khàn giọng [14]
Năm 2005, Trần Công Hoà, Nguyễn Tuyết Xương nghiên cứu 50 trường hợp u lành tính dây thanh và kết luận phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả để phục hồi chức năng phát âm [5]
2.3 SƠ LƢỢC GIẢI PHẪU THANH QUẢN
Thanh quản là đoạn đầu của đường hô hấp dưới, nằm trong vùng cổ trước các đốt sống cổ C3, C4, C5 Lòng thanh quản là một ống hẹp về chiều
Trang 7
ngang, rộng theo chiều trước sau, ở phần tư dưới của ống thanh quản có một chỗ hẹp tạo ra bởi hai dây thanh ở hai bên Thanh quản được cấu tạo bởi một khung gồm các sụn liên kết với nhau bằng các khớp, cơ, các màng và các dây chằng, bên trong được che phủ bãi biểu mô trụ có lông chuyển, riêng biểu mô lát tầng che phủ ở bờ tự do của hai dây thanh [1]
Dây thanh còn gọi là dây thanh thật hoặc thanh đai hay thanh đới là một nẹp gồm có niêm mạc và cơ, đi từ cực trước (góc sụn giáp) ra cực sau thanh quản (sụn phễu) Dây thanh là một bộ phận di động, có thể rung động, khép hoặc mở Dây thanh có màu trắng ngà, nhẵn bóng Kích thước của dây thanh [1],[2], [21]
- Trẻ em: 6 - 8mm
- Người lớn: 12,5-17mm ở nữ
17-23mm ở nam Khoảng cách hình tam giác
giữa hai dây thanh gọi là thanh môn
Phía trên hai dây thanh là tầng
thượng thanh môn, có hai nẹp nhỏ
hơn nằm song song với dây thanh
mang tên băng thanh thất hay dây
thanh giả Khoảng rỗng ảo giữa dây
thanh và băng thanh thất được gọi là buồng thanh thất Morgagni Thanh môn là chỗ hẹp nhất của thanh quản Từ thanh môn trở xuống là hạ thanh môn nối liền với khí quản
2.3.1 Thần kinh [1], [2], [21]
Chi phối cảm giác và vận động cho thanh quản là do dây thần kinh thanh quản trên và dây thần kinh quặt ngược đều bắt nguồn từ dây thần kinh số X
Dây thần kinh thanh quản trên: chia hai nhánh, nhánh trong là dây cảm
giác niêm mạc tầng trên thanh môn, nhánh ngoài vận động cơ nhẫn giáp
- Dây thần kinh thanh quản quặt ngược: Dây thần kinh quặt ngược chi
phối vận động cho tất cả các cơ thanh quản trừ cơ nhẫn giáp, chi phối cảm giác cho niêm mạc thanh quản dưới thanh môn
Hình 2 2 Hình ảnh thanh quản
Nắp thanh môn
Khí quản
Đáy lƣỡi Thanh thiệt
Dây thanh
Sụn phễu
Trang 8
2.3.2 Mạch máu
- Động mạch cung cấp máu cho thanh quản từ hai nguồn:
+ Vùng thanh môn và thượng thanh môn do động mạch thanh quản trên xuất phát từ động mạch giáp trên, là nhánh của động mạch cảnh ngoài
+ Vùng hạ thanh môn do động mạch thanh quản dưới xuất phát tù động mạch dưới đòn
- Hệ thống lĩnh mạch đổ về tĩnh mạch giáp trên và tĩnh mạch giáp dưới
- Hệ thống bạch mạch của thanh quản đổ về dãy hạch cảnh, ngang tầm thân giáp lưỡi mặt và hạch trước thanh quản
2.4 SINH LÝ THANH QUẢN
Dây thanh tham gia vào hai chức năng chính của thanh quản là chức năng hô hấp và chức năng phát âm [ 1], [13],[21]
2.4.1 Chức năng hô hấp
Chức năng hô hấp của thanh quản bao gồm hai chức năng:
- Dẫn không khí từ họng vào khí quản hoặc từ khí quản lên họng
- Bảo vệ đường thở nhờ phản xạ đóng của hai dây thanh và ho khi có di vật
2.4.2 Chức năng phát âm
Sinh lý phát âm nhìn chung là kết quả của ba quá trình cơ bản:
- Quá trình tạo một luồng hơi từ ngực, bụng thở ra gọi là luồng thở phát âm
- Quá trình rung động của hai dây thanh để tạo ra âm thanh quản do luồng không khí đi qua khe thanh môn
- Tiếng nói thanh quản được điều tiết bới các bộ phận mũi xoang, họng, miệng, môi, lười mới có những âm sắc đặc hiệu cho từng cá nhân
- Các quá trình trên đều được sự chỉ huy, điều chỉnh của thần kinh trung ương và thính giác
Trang 9* Sự rung động của dây thanh
Âm cơ bản phát ra ở thanh quản do sự rung của hai dây thanh đồng thời với luồng hơi đi qua Hai dây thanh từ tư thế thở sẽ chuyển sang tư thế phát âm Trước tiên, hai dây thanh khép lại do cơ trên phễu và cơ nhẫn phễu bên, cùng lúc hai dây thanh căng lên do cơ giáp nhẫn và cơ giáp phễu, hai cơ này làm cho hình dạng dây thanh có thể biến đổi từ dày, mỏng, căng ít, căng nhiều tuỳ theo yêu cầu của phát âm Khi dây thanh ở tư thế phát âm luồng hơi thở đi qua sẽ xuất hiện sự rung dây thanh
Có nhiều giả thuyết về hiện tượng rung của dây thanh bổ sung cho nhau
để cùng giải thích hoàn chỉnh cơ chế phát âm của dây thanh
- Thuyết đàn hồi cơ của Ewald (1898)
Sự rung động của dây thanh tạo nên do sự mất thăng bằng giữa trương lực của dây thanh khi khép do mức độ căng gây ra) và áp lực không khí ở hạ thanh môn Khi nói dây thanh khép lại, không khí bị nén ở hạ thanh môn đè vào hai dây thanh và làm hé mở thanh môn, một ít không khí thoát lên nhưng dây thanh khép trữ lại do sự giảm áp lực và do sự đàn hồi của dây thanh, thực chất
Trang 10
là sự thay đổi độ căng của cơ giáp phễu Áp lực tăng lên trở lại, thanh môn lại
mở hé ra và chu kỳ cứ thế tiếp diễn Tiếng nói sẽ lớn hay nhỏ tuỳ theo biên độ rung động của dây thanh tức tuỳ theo áp lực không khí ở hạ thanh môn Giọng nói cao hay thấp tuỳ theo mức độ căng dây thanh tức là mức độ căng của cơ giáp phễu Như vậy, âm thanh phát ra phụ thuộc vào không khí ở hạ thanh môn,
độ căng của cơ giáp phễu và độ khít của hai dây thanh khi phát âm Trên lâm sàng, giọng nói sẽ bị ảnh hưởng khi có khối u trên dây thanh, đặc biệt ở bờ tự
do làm hai dây thanh khép không kín Tuy nhiên, thuyết này không giải thích được hiện tượng bệnh nhân vẫn phát âm được khi cơ dây thanh bị mất đàn hồi
- Thuyết thần kinh của Husson (1950)
Theo Husson, sự khép thanh môn và sự rung động dây thanh là hai động tác sinh lý khác nhau, dây thanh có thể rung một cách độc lập không cần phải
có sự khép thanh môn Nhờ máy do điện thế trên dây thần kinh quặt ngược, ông
đã chứng minh rằng những luồng thần kinh liên tiếp từ não xuống tác động vào
cơ giáp phễu làm cơ này co theo nhịp kích thích của các xung động thần kinh quặt ngược Vậy hoạt động điện của dây thần kinh quặt ngược đồng thời với hoạt động phát âm của dây thanh Giả thuyết này có giá trị xác định vai trò chỉ huy thần kinh của trung ương nhưng không đầy đủ và gặp một trở ngại lớn là vấn đề thời trị Những nhà thực nghiệm thấy rằng dây thần kinh quặt ngược chỉ chuyển tải được những luồng thần kinh có nhịp độ dưới 500 Hz/giây (âm trầm) nhưng với những luồng điện kích thích có nhịp độ trên 1000 Hz/giây (âm cao) dây thần kinh bị co cứng, trơ ỳ không hoạt động được, trong khi dây thanh có thể rung trên 3000 Hz/giây Đồng thời thuyết này cũng chưa giải thích hết được
sự phát âm không thành tiếng nhưng dây thanh vẫn rung động ở bệnh nhân đã
mở khí quản
Thuyết Husson cho thấy tầm quan trọng của thần kinh trong phát âm, khi xung động thần kinh bình thường muốn phát âm tốt thì dây thanh phải tốt nên khi phẫu thuật phải hết sức cẩn thận, tôn trọng sự toàn vẹn của dây thanh
Trang 11
- Thuyết sóng rung niêm mạc của Perello - Smith
Perello - Smith đã phát hiện những sự thay đổi trên niêm mạc dây thanh khi phát âm Sức hút của luồng không khí thoát qua thanh môn tạo ra những làn sóng trượt của niêm mạc ở trên lớp đệm dọc theo bờ tự do của hai dây thanh đi
từ phía dưới lên trên qua thanh môn Theo Hiarno, sóng niêm mạc kết hợp với sự rung động của dây thanh tạo thành một phức hợp sóng rung để làm rung dây thanh Thuyết sóng rung niêm mạc nói lên vai trò quan trọng của niêm mạc trong sinh lý phát âm, có thể giải thích được một số tổn thương niêm mạc trên lâm sàng gây ảnh hưởng đến giọng nói như: niêm mạc viêm cấp phù nề, niêm mạc khô, viêm mạn tính hoặc những tổn thương lớp dưới niêm mạc như chảy máu, hạt xơ, polyp, ung thư dây thanh
- Thuyết của Louis Sylvestre và Mc.Leod
Theo tác giả, cơ dây thanh thuộc loại cơ không phối hợp nhịp, khác hẳn với những cơ vân thông thường có thể co bóp mỗi nhịp theo từng luồng thần kinh chỉ huy Cơ dây thanh hoạt động theo kiểu dao động con lắc hay âm thoa khi duy trì một biến thiên điện thế trên màng điện cơ Các biến thiên điện thế sẽ
do dây thần kinh quặt ngược mang tới không chuyển nhịp dao động mà chuyển nhịp điện thế và gây rung động cho cơ dây thanh Tần số rung động này không phụ thuộc vào tần số kích thích của dây quặt ngược mà phụ thuộc vào khối lượng và tính chất đàn hồi của dây thanh nên có thể rung động tới những tần số cao Lúc phát âm tần số trầm, toàn bộ dây thanh rung động và có độ căng vừa phải, trong khi phát âm tần số cao, chỉ một phần dây thanh phía trước rung động, độ căng dây thanh rất lớn
- Thuyết cơ đàn hồi - khí động học (Myoelastic aerodinamic theory)
Ngày nay thuyết này được thừa nhận rộng rãi, người ta cho rằng âm thanh được tạo ra do sự tương tác giữa áp lực khí động học và các đặc tính cơ học của thanh quản Quá trình phát âm ở thì thở ra, cơ trên phễu làm hai sụn phễu sát lại gần nhau, còn cơ nhẫn phễu bên làm mấu thanh của sụn phễu quay vào trong, thanh môn khép lại ở tư thế phát âm Luồng hơi từ phổi ra gặp vật
Trang 12
cản làm tăng dần áp lực không khí hạ thanh môn cho đến khi thanh môn mở ra, ngay lập tức áp lực không khí hạ thanh môn giảm Hai dây thanh trở về đường giữa do áp lực không khí hạ thanh môn giảm, sự đàn hồi của dây thanh và do hiệu ứng Bemoulli của luồng hơi Khi hai dây thanh trở về tư thế phát âm, áp lực không khí hạ thanh môn tăng lên và chu kỳ lặp lại
Có năm yếu tố đảm bảo sự tạo âm thanh bình thường:
- Luồng hơi đầy đủ
- Hoạt động khép của dây thanh: dây thanh phải khép đầy đủ để luồng không khí đi qua tạo nên rung động, thanh môn khép không kín sẽ tạo nên tiếng ồn
- Đặc tính của rung dây thanh: dây thanh di động theo chiều ngang, chiều dọc và chuyển động sóng rung niêm mạc Theo thuyết thân vỏ, phần vỏ và phần thân dây thanh rung động không đồng thời với nhau, phần vỏ chuyển động nhịp nhàng trên phần thân như sóng lướt trên ruộng mạ Phần vỏ vận động thụ động còn phần thân vừa vận động thụ động vừa vận động chủ động
- Hình dáng của dây thanh
- Sự điều chỉnh độ dài và độ căng của dây thanh
Hình dáng, chiều dài và độ căng của dây thanh khác nhau tuỳ thuộc vào tạo ra âm trầm hay âm cao Khi tạo âm trầm, cơ giáp phễu co làm toàn bộ dây thanh co lại thành một khối ngắn hơn và dày hơn, dây thanh chùng hơn Khi tạo âm cao, cơ nhẫn giáp hoạt động làm dây thanh dãn ra, dài hơn và mỏng hơn, dây thanh căng hơn
2.4.3 Chẩn đoán mức độ khàn giọng
Bằng phương pháp chủ quan cảm thụ: Đây là phương pháp đơn giản nhưng quan trọng nhằm đánh giá sự thay đổi giọng về mặt cảm thụ của người nghe, đặc biệt quan trọng khi chưa có máy phân tích thanh điệu và chất thanh khách quan
Có ba mức độ:
- Khàn nhẹ: giọng nói hơi khàn (mất độ trong sáng)
Trang 13
- Khàn vừa: giọng nói trở nên thô và rè
- Khàn nặng: giọng nói khàn đặc, không phát âm được rõ các âm
2.4.4 Khàn tiếng dấu hiệu của nhiều loại bệnh
2.4.4.1.Viêm thanh quản cấp
Hai dây thanh bị sưng, phù nề khiến các mép của chúng không còn khả năng linh hoạt để rung nữa, gây ra khàn tiếng, thậm chí mất tiếng trong vài ba ngày Sau đó, nếu hai dây thanh phục hồi đồng đều, hiện tượng khàn tiếng đỡ dần; nếu không đồng đều, sẽ xuất hiện rè tiếng [35]
2.4.4.2 Hạt xơ dây thanh
Hạt dây thanh ảnh hưởng đến chất lượng rung thanh, gây rè tiếng Nó lại không cho 2 mép của các dây thanh khép sát vào nhau, tạo khe hở thanh môn, làm cho một lượng lớn hơi bị thoát mất, làm khàn tiếng.[35]
2.4.4.3 Ung thư dây thanh
Thường gặp ở người lớn tuổi, nhất là người nghiện thuốc lá lâu năm Loại ung thư này tiến triển tiềm tàng; dấu hiệu sớm nhất để chẩn đoán chính là khàn tiếng kéo dài.[35]
2.4.4.4 Liệt nửa thanh quản
Thường liên quan đến một chấn thương cụ thể, như sau phẫu thuật tuyến giáp.Tóm lại, nếu tiếng nói bị khàn sau một đợt cảm cúm kèm theo sốt, ho, có cảm giác vướng, rát sâu trong cổ họng thì không đáng ngại vì đó chỉ là biểu hiện viêm thanh quản cấp [35]
Trang 14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chọn ngẫu nhiên 219 người trong phường Phú Hội - thành phố Huế để trả lời phiếu thăm dò
- Có hộ khẩu thường trú tại phường
- Người điều tra ≥ 18 tuổi không phân biệt giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cắt ngang
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian từ 20/5/2008 đến 10/6/2009 tại Phường Phú Hội, thành phố Huế
2.2.3 Giới thiệu vài nét về địa điểm nghiên cứu
Phường Phú Hội là phường mới được thành lập từ phường Vĩnh Lợi (cũ) tách thành 2 phường: Phú Hội và Phú Nhuận
Vị trí: Nằm phía Đông Nam trung tâm thành phố Huế:
- Phía Đông giáp phường Xuân Phú
- Phía Tây giáp phường Phú Nhuận
- Phía Nam giáp phường An Cựu
- Phía Bắc giáp phường Vỹ Dạ Diện tích: 2,2 km2
Dân số: 2.200 hộ với 11.816 nhân khẩu
Dân tộc: Kinh
Mật độ dân số tương đối cao bình quân 5.315 người/m2
Trang 15
Ngành nghề chủ yếu: Tiểu thủ công nghiệp (mộc mỹ nghệ, cơ khí sửa
chữa ô tô, làm cửa hoa, lan can, inox, ), thương mại, dịch vụ du lịch và kinh doanh các mặt hàng: áo quần, giày dép,
Về văn hóa giáo dục: Trên địa bàn phường có 1 trường Trung học cơ sở,
1 trường Tiểu học Trình độ văn hóa của nhân dân đa số được phổ cập từatrung học cơ sở trở lên
Về y tế: Phường có 1 Trạm Y tế với 4 cán bộ và có hơn 20 cở sở y tế tư
Trên cơ sở dữ liệu thu thập được qua phiếu thăm dò, chúng tối phân tích,
xử lý theo các mục sau:
- Tuổi:
Phân thành các nhóm tuổi
+ ≥18 –29 tuổi + 30 – 39 tuổi + 40 – 49 tuổi + 50 – 59 tuổi + > 60 tuổi
- Giới:
+ Nam + Nữ
Trang 16
- Trình độ học vấn
+ Tiểu học + Trung học cơ sở + Trung học phổ thông + Cao đẳng - Đại học
- Câu hỏi về nhận thức về triệu chứng khàn tiếng và mối liên quan với các triệu chứng khàn tiếng
Anh (chị) có nhận biết được triệu chứng khàn tiếng không ?
Trang 17
Theo anh (chị) khàn tiếng thường gặp ở lứa tuổi nào ?
Trẻ em Thanh niên Mọi lứa tuổi Người già Trung niên
Anh (chị) có biết khàn tiếng là dấu hiệu của bệnh cần khám và điều trị không ?
Có Không
Khi bị khàn tiếng anh (chị) làm gì ?
Đến cơ sở y tế khám Tự mua thuốc uống Chữa bằng thuốc nam Không cần chữa trị gì
Theo anh (chị) khàn tiếng có phòng và điều trị được không ?
Theo anh (chị) khàn tiếng liên quan đến nhiều nhất yếu tố nào sau đây:
+ Viêm họng và thanh quản cấp, mãn tính + Tiếp xúc với chất độc hại, dị ứng + Bệnh khối u lành tính, ác tính + Dùng giọng nhiều, hát nhiều
+ Nghiện thuốc lá + Vệ sinh răng miệng + Sau phẫu thuật vùng cổ + Nguyên nhân khác
Trang 18- Độ lệch chuẩn tuổi tính theo công thức
- So sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ % của 2 mẫu nghiên cứu:
Dựa vào công thức
PA tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nA
PB tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nB Trong đó p và q là 2 tỷ lệ của mẫu nghiên cứu được ước lượng dựa trên 2 mẫu như sau:
* p > 0,05 : Khác biệt không có ý nghĩa thống kê
* 0,01 < p < 0,05 : Khác biệt có ý nghĩa thống kê
* p < 0,01 : Khác biệt rất có ý nghĩa thống kê
xi n n
X X
X X
) (
1
x x n S
pq
P P
B A
n n
X X p
Trang 19
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA
3.1.1 Phân bố theo giới
Bảng 3.1 Số liệu điều tra theo giới
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới
Có 124 đối tượng là nam giới chiếm tỷ lệ 56,6%, nữ chiếm 43,4% Nam nhiều hơn nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05)
Trang 20
3.1.2 Phân bố theo tuổi
Bảng 3.2 Phân bố theo tuổi
Tỷ lệ
%
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo tuổi
Trong 219 đối tượng được phỏng vấn về nhận thức và thực hành về triệu chứng khàn tiếng có 61 đối tượng nhóm 40-59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 27,9% Tuổi trung bình 46,5 ± 13,0; tuổi lớn nhất 81 tuổi, nhỏ nhất 18 tuổi
≥ 18
Trang 21
3.1.3 Phân bố theo trình độ văn hoá
Bảng 3.3 Số liệu điều tra theo trình độ văn hoá
Biểu đồ 3.3 Điều tra theo trình độ văn hoá
Nhận xét: Tỷ lệ các đối tượng được phỏng vấn tăng dần theo trình độ học vấn, trong đó Cao đẳng - Đại học chiếm tỷ lệ cao nhất 37,0%