Sức khỏe của thế hệ học sinh , sinh viên là nhân tố hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng đến khả năng học tập, sức sáng tạo và phát triển năng khiếu của các em.. Nếu không có bệnh tật, khô
Trang 1TRƯƠNG THỊ HƯƠNG HUYỀN
TÌM HIỂU SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH DA DỊ ỨNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG CỦA CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN NHÀ MÁY XI MĂNG LONG THỌ THÀNH PHỐ HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
NĂM - 2012
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý của con người và của toàn xã hội, là tài sản của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới sức khỏe con người là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển và tồn vong của xã hội
Mô hình bệnh tật của mỗi quốc gia, một cộng đồng phản ánh tình hình sức khỏe cũng như tình hình kinh tế , xã hội của một quốc gia hay cộng đồng dân cư đó Vì vậy nhà nước phải có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Người dân có sức khỏe thì khả năng đóng góp vào sự phát triển sản xuất, bảo vệ đất nước được vững mạnh, đem lại sự phồn vinh cho đất nước[4 ] Đặc biệt quan trọng là đối với thế hệ sinh viên, đội ngũ lao động trí tuệ tương lai của đất nước Việc chăm lo để phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ cho sinh viên nhằm tạo ra một đội ngũ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hết sức cần thiết Sức khỏe của thế hệ học sinh , sinh viên là nhân tố hết sức quan trọng vì
nó ảnh hưởng đến khả năng học tập, sức sáng tạo và phát triển năng khiếu của các em Nếu không có bệnh tật, không ảnh hưởng đến sức khỏe thì sẽ giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập của học sinh , sinh viên Chính vì vậy việc tìm hiểu một cách cụ thể tình hình sức khỏe bệnh tật trên đối tượng sinh viên
ở nước ta cũng như một số bệnh thường gặp trong lứa tuổi này, là một việc làm rất có ý nghĩa, nó góp phần vào chiến lược phát triển nhân tố con người Qua đó làm cơ sở cho nhà nước có chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho sinh viên thay đổi theo chiều hướng ngày càng tốt hơn, đồng thời đề ra các giải pháp phòng bệnh trong thời kỳ ở trường phổ thông một cách có hiệu quả Đặc biệt là sinh viên trường đại học y dược Huế, là những người thầy thuốc tương lai chăm lo và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
Trang 3Với những lý do nêu trên, chúng em mong muốn góp phần nhỏ bé của
mình vào việc tìm hiểu sức khỏe , bệnh tật của sinh viên qua đề tài : “Khảo
sát mô hình bệnh tật của sinh viên nam trúng tuyển vào đại học y dƣợc Huế năm học 2011 – 2012”với hai mục tiêu:
1 Đánh giá sức khỏe và bệnh tật của sinh viên nam trúng tuyển năm học 2011 – 2012 hệ chính quy và liên thông tại trường đại học y dược Huế
2 Khảo sát các yếu tố liên quan đến phân loại sức khỏe, bệnh tật theo vùng, tuổi , ngành, của sinh viên nam trúng tuyển vào đại học y dược Huế năm học 2011 – 2012
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TẬT
Từ thời xa xưa ,vào khoảng 17000 năm trước công nguyên , con người
đã tìm ra được một hình vẽ người phù thủy chữa bệnh trong hang 3 anh em ở trên núi Pyrenees ở pháp, như vậy lịch sử phát sinh ra bệnh bắt đầu từ đây [1] Sau đó lần lượt những thầy lang,những trường phái y học ra đời.Nhưng mãi đến năm 377 trước công nguyên Hypocrate mới được xem là ông tổ của ngành y, và là người sáng lập ra nền y học thế giới hiện đại.Ông đã quan sát
và nghiên cứu về cơ thể con người, ông tin tưởng rằng bệnh tật là do nguyên nhân có thể tìm hiểu được
Vào thế kỷ thứ XIV Tuệ Tĩnh được coi là ông tổ của nền y học cổ truyền ở việt nam, tiếp bước truyền thống trong y học và chọn lọc những tinh hoa y học nước ngoài, càng về sau càng có nhiều nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực để phát hiện bệnh tật sớm và chính xác hơn[2]
1.2 MÔ HÌNH BỆNH TẬT HIÊN NAY TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Mô hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó là tập hợp tất cả những tình trạng bệnh tật mắc phải, dưới tác động của nhiều yếu tố được phân bố theo những tần suất khác nhau trong một xã hội,một cộng đồng, một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định [3]
Mô hình bệnh tật là kết cấu phần trăm các nhóm bệnh và các bệnh phổ biến.Từ mô hình bệnh tật, người ta có thể xác định hướng lâu dài và kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng vùng,từng miền cụ thể, đồng thời nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe và bệnh tật của sinh viên trước khi bước vào học các trường đại học
1.2.1 Tình hình bệnh tật trên thế giới
Trải qua hàng ngàn năm,con người dưới tác động của tự nhiên và xã hội
Trang 5đã ngày càng phát triển cả về trí tuệ và cuộc sống Bên cạnh sự suy giảm và bị tiêu diệt của một số bệnh như đậu mùa, bệnh bại liệt, bệnh phong….là sự xuất hiện của một số bệnh mới như bệnh HIV[3].Trong vài năm qua một số loại dịch mới xuất hiện nghiêm trọng như bệnh SARS, cúm A(H5N1) và bệnh tay chân miệng… Nhiều bệnh không nhiễm trùng đang có xu hướng chiếm tỉ lệ ngày càng cao trên phạm vi toàn cầu như bệnh tim mạch, huyết áp, đái đường, béo phì Như vậy mô hình bệnh tật trên thế giới luôn luôn thay đổi tương ứng với sự biến đổi của điều kiện môi trường,phụ thuộc vào trình độ phát triến kinh tế xã hội của từng nước Hiện nay mô hình bệnh tật trên thế giới xuất hiện 3 hình thái với các đặc trưng rõ rệt:
- Mô hình bệnh tật ở các nước chậm phát triển: với các bệnh nhiễm trùng, nhiễm kí sinh trùng như: tiêu chảy, viêm đường hô hấp, lao phổi , sốt rét… tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn cao
- Mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển: bệnh nhiễm trùng có xu hướng giảm dần,bệnh không nhiễm trùng tăng dần
- Mô hình bệnh tật ở các nước phát triển với các bệnh đặc trưng như: Bệnh tim mạch, tăng huyết áp,béo phì ,tiểu đường , ung thư, tâm thần, đang ngày càng tăng cao
Thế giới có nhiều biến động như hiện nay, bệnh tật cũng phần nào thể hiện tình hình đó Nhiều bệnh liên quan đến đói nghèo nhưng nhiều bệnh lại đặc trưng cho sự giàu có, bên cạnh đó nhiều bệnh khác lại liên quan đến thiên tai,chiến tranh, tệ nạn xã hội…Tất cả thể hiện sự đa dạng trong mô hình bệnh tật trên thế giới
1.2.2 Tình hình bệnh tật trong nước
Trong thập niên 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI,Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng và bền vững, sự tăng trưởng kinh tế trên qui mô rộng lớn và sự đổi mới về nhận thức đã tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của xã hội và ảnh hưởng không ít đến đời sống của mỗi con người bao gồm cả những thay đổi về sức khỏe Tác động của công cuộc đổi mới đến sức khỏe thông qua sự biến đổi các yếu tố tác
Trang 6động đến sức khỏe cũng như sự thay đổi của hệ thống chăm sóc y tế
Theo Thống kê hoạt động y tế năm 2008 của bộ y tế thông báotrên mạng Internet mô hình bệnh tật và tử vong ở nước ta như sau[5]:
Bảng1.1 Mô hình bệnh tật ,tử vong theo thống kê của bộ y tế năm 2008
17 Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm
sắc thể
18 Triệu chứng và các dấu hiệu bất thường phát hiện
qua lâm sàng và xét nghiệm
19 Vết thương ngộ độc và di chứng của nguyên nhân
bên ngoài
21 Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và việc
tiếp xúc với cơ quan y tế
Nguồn: thống kê hoạt động y tế năm 2008 của Bộ y tế”
Trang 7Nhìn chung, mô hình bệnh tật ở Việt nam đã và đang trải qua thời kỳ “quá
độ dịch tể học” tức là các bệnh nhiễm khuẩn có xu hướng giảm dần, năm 1976:
55,5%, năm 1986: 59,2%, năm 1977: 22,67%, đến năm 2008 còn 10,67% trong
khi đó các bệnh không nhiễm trùng, tai nạn thương tích và ngộ độc có xu hướng
tăng nhanh Các bệnh dịch nguy hiểm như sốt xuất huyết , sốt rét, tiêu chảy,
H5N1, H1N1,…vẫn còn lưu hành và là mối đe dọa thường xuyên Ngày 16/6/2011 theo các nhà hoạch định chính sách y tế trung ương và
bộ y tế thì gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 chủ yếu là do các bệnh
không truyền nhiễm( gây ra 70% tổng gánh nặng bệnh tật),gánh nặng của
chấn thương chiếm 16% ,và còn lại là bệnh truyền nhiễm Mô hình này cho
thấy Việt Nam phải nổ lực phòng chống các bệnh không truyền nhiễm và
chấn thương đồng thời vẫn phải có những biện pháp kiểm soát các bệnh
truyền nhiễm đang có nguy cơ quay trở lại [6] Một số bệnh dịch mới như
bệnh tay chân miệng, HIV/AIDS, H5N1… đang phát triển phức tạp và diễn
biến khó lường Các yếu tố nguy cơ tác động xấu đến sức khỏe có xu hướng
gia tăng : như ô nhiễm môi trường,thiếu an toàn vệ sinh thực phẩm,tai nạn lao
động,tai nạn giao thông, sự lây lan dịch bệnh do mở rộng giao lưu quốc tế,
biến đổi khí hậu,các vấn đề về lối sống đã ảnh hưởng đến sức khỏe[7].Các
bệnh không do nhiễm trùng có xu hướng tăng cùng với sự phát triển kinh tế
xã hội Trước năm 1975 theo Đặng văn Chung thì Tỷ lệ THA của người trên
15 tuổi ở miển bắc Việt Nam chỉ có 1-3%, đến năm 1989 theo bộ y tế Việt
nam tỷ lệ tăng huyết áp chung là 11,8%.Thống kê gần đây nhất của viện tim
mạch tại miền bắc Việt nam năm 2002 tỷ lệ THA là 16,3% .Tại bệnh viện
trung ương Huế năm 1980 tỷ lệ THA trong số các bệnh nội khoa chỉ chiếm
1% nhưng sau 10 năm, năm 1990 đã tăng đến 10%[8].Bệnh tâm thần phân
liệt,ung thư, béo phì, đái tháo đường…đang ngày càng tăng cao và đáng báo
động.Theo tổ chức y tế thế giới, năm 2000 Việt Nam có 791.653 người mắc
đái tháo đường và tăng lên 2.342.879 người vào năm 2030 [9][10]
Trang 81.2.3 Tình hình bệnh tật của học sinh , sinh viên hiện nay
Trong những năm gần đây , nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện về điều kiện sinh hoạt ăn, ở, mặc, học hành , chăm sóc y tế … Những yếu tố này đã tác động rất lớn tới sức khỏe bệnh tật trẻ em [11] Do đó việc chăm lo và trau dồi sức khỏe cho học sinh, sinh viên đảm bảo cho học sinh, sinh viên có đủ sức khỏe để học tập và phục
vụ lâu dài cho đất nước sau khi tốt nghiệp là một công tác quan trọng không thể thiếu được trong suốt quá trình đảo tạo Với Ý nghĩa đó, việc nghiên cứu
về sức khỏe và bệnh tật cho các đối tượng học sinh, sinh viên đã tiến hành rộng rãi trên khắp mọi miền đất nước Một số nghiên cứu của các tác giả như:
“ Nhận xét sơ bộ về thể lực và một số bệnh trong sinh viên năm thứ nhất đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh” của Lê Xuân Trường, Bùi Đại Lịch, Nguyễn Thanh Trầm[12]; “Tình hình bệnh tật của sinh viên đại học Huế nhập học năm 2006 - 2007”, của Trần Thị Ngọc Hoa, Nguyễn Công Quân [13];
“nghiên cứu mô hình bệnh của trẻ em hải phòng năm 2003” của Vũ Thị Thủy [11]; “ nghiên cứu mô hình bệnh tật trẻ em điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm 1999-2003” của Nguyễn Thị Ân[15]… kết quả nghiên cứu về thể lực và bệnh tật của sinh viên ở một số tác giả như sau
Bảng 1.2 Một số bệnh lý thường gặp của sinh viên năm thứ nhất ở
trường đại học y dược Huế [16]
Trang 9Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, y học và giáo dục học trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đều có chung nhận xét:
- Sự phát triển về chiều cao và trọng lượng cơ thể tăng dần từ 6-22 tuổi
và có xu hướng 10 năm sau tăng hơn 10 năm trước Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng: thành phố, thị xã phát triển nhanh hơn so với vùng nông thôn đồng bằng[17]
- Tình hình bệnh tật trong những năm qua của học sinh ,sinh viên có những nét nổi bật đó là: bệnh về răng miệng chiếm tỷ lệ cao, nhất là sâu răng.Với số liệu điều tra chung cho thấy tỷ lệ sâu răng gia tăng theo tuổi Năm 1990 sâu răng trên toàn quốc ở lứa tuổi 12 là 57%, lứa tuổi 15 là 60% đến năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12 là 56,6% và lứa tuổi 15 là 67,6%[18] Nghiên cứu học sinh bị cao răng của lứa tuổi 11-14 tại trường trung học cơ sở Hoàng Liệt- Quận Hoàng Mai –Hà Nội năm 2008 cũng chiếm
tỷ lệ khá cao 55,92%[19] Đây là những bệnh mà nguyên nhân chủ yếu là do
ý thức vệ sinh răng miệng kém Bên cạnh đó nhóm bệnh liên quan đến môi trường học tập như: bệnh cận thị học đường đang ngày càng tăng lên và đáng báo động.Theo nghiên cứu của trung tâm y tế dự phòng Nghệ An năm 2011 thì tỷ lệ cận thị chung của học sinh là 19,4%, tỷ lệ cong vẹo cột sống là 0,6% [20] Các bệnh như bại liệt, bạch hầu , uốn ván…thì giảm rõ rệt
1.2.4 Tầm quan trọng của công tác y tế học đường
Y tế trường học là hệ thống các phương pháp, biện pháp can thiệp nhằm chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho học sinh và chuyển biến các kiến thức khoa học thành các kỷ năng thực hành trong mọi hoạt động sống của lứa tuổi học đường
Môi trường nhà trường là một trong những yếu tố và điều kiện thuận lợi để cho các loại tai nạn , thương tích, bệnh tật có cơ hội phát sinh, lây
Trang 10nhiễm cho học sinh ở trường học Nó tác động trực tiếp đến sức khỏe và kết quả học tập, lao động của học sinh Vì vậy việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho các em học sinh là một công tác cần được quan tâm triển khai hoạt động một cách liên tục
Ngay từ giữa thế kỷ XIX, nhiều nước ở Châu Âu đã có những nghiên cứu các biện pháp giúp cho việc nâng cao sức khỏe cho học sinh , đã có biện pháp phòng bệnh lao, nghiên cứu bệnh cận thị học đường, tổ chức tiêm chủng phòng dịch trong nhà trường sự cộng tác của nhà trường với ngành y tế là hết sức quan trọng.Giáo viên có thể biết được tình trạng sức khỏe của học sinh thông qua khám sức khỏe định kỳ để có biện pháp giúp đỡ trong học tập, biện pháp rèn luyện thích hợp và đề xuất yêu cầu làm cho ngoại cảnh có tác động tích cực cho sự phát triển cơ thể và kết quả học tập của học sinh
1.3 NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ SỨC KHỎE
Con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất của xã hội,trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Vì vậy đầu tư cho sức khỏe để mọi người đều được chăm sóc sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Từ những nhận thức ấy Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe(BVSK) cho nhân dân, coi sự nghiệp CSSK là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ vai trò nồng cốt Để đưa đường lối của Đảng và chính sách của nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đi vào cuộc sống [21] Mục tiêu chiến lược y tế Việt Nam đến năm 2020 là đảm bảo
Trang 11công bằng, nâng cao chất lượng, hiệu quả CSSK, đưa sức khỏe nhân dân đạt trung bình các nước trong khu vực[14]
Trên nền tảng của tư duy đổi mới, ngày 30/6/1989,Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa VIII tại kỳ họp thứ 5 đã thông qua “luật bảo vệ sức khỏe nhân dân Việt nam”[22].Nghị quyết đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo về việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.Đây là hoạt động nhân đạo trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc,
là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và nhà nước.Chỉ đạo việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả
và phát triển
Ngày 15/8/1992, nhà nước đã có nghị định sồ 299/HĐBT ban hành điều
lệ bảo hiểm y tế (BHYT) Việt nam Sự ra đời của BHYT là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước,là một loại bảo hiểm nhà nước mà đối tượng bảo hiểm là sức khỏe con người ,đáp ứng được nguyện vọng của cán bộ và nhân dân BHYT huy động sự đóng góp của cá nhân,tập thể và cộng đồng để tăng cường chất lượng trong khám bệnh và chữa bệnh[23]
Những quan điểm đường lối , chính sách của Đảng và nhà nước đối với công tác y tế trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một động lực to lớn, giúp cho ngành y tế đề ra các biện pháp tháo
gỡ và khắc phục khó khăn, tìm ra những cơ chế phù hợp để vận hành bộ máy của hệ thống y tế ngày càng hiệu quả hơn Trên tinh thần ấy
Ngày 23/02/2005 nghị quyết số 46-NQ/TW của bộ chính trị qui định về công tác bảo vệ , chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Đến ngày 03/06/2008 Quốc Hội đề ra nghị quyết số 18/2008/QH12 về việc đẩy mạnh thực hiện chính sách ,pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trang 12Ngày 27/03/2009 , thủ tướng chính phủ ban hành kèm quyết định số
402/QĐ/TTg về kế hoạch, hành động của chính phủ nhằm xác định và phân
công rõ trách nhiệm của các cấp,các ngành trong việc tổ chức thực hiện tạo
bước chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về xã hội hóa công tác CSSK nhân
dân,củng cố và phát triển hệ thống y tế công lập, ngoài công lập, tăng cường
huy động nguồn lực của nhà nước và xã hội dành cho công tác CSSK nhân
dân (24)
1.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT
1.4.1 Phân loại sức khỏe
Căn cứ vào sự phân loại các chỉ số, sức khỏe được phân loại như sau:
+ Loại I : Cả 13 chỉ số đều đạt loại 1
+ Loại II : Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại II, xếp loại II
+ Loại III: Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại III, xếp loại III
+ Loại IV : Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại IV, xếp loại IV
+ Loại V : Chỉ cần l chi số thấp nhất là loại V, xếp loại V
Trang 13Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CHỌN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu gồm 711 sinh viên nam , hệ trúng tuyển vào năm học 2011- 2012 của trường Đại học Y Dược Huế, đến khám sức khỏe nhập học Trong đó hệ chính quy có 528 sinh viên, hệ liên thông tập trung 4 năm
có 183 sinh viên Các đối tượng được chia theo các ngành sau:
- Bác sĩ đa khoa chính quy: 314 sinh viên
- Bác sĩ y học cổ truyền chính quy:20 sinh viên
- Bác sĩ Y học dự phòng chính quy: 67 sinh viên
- Bác sĩ răng hàm mặt: 26 sinh viên
- Cử nhân kỹ thuật y học chính quy: 25 sinh viên
- Cư nhân y tế công cộng chính quy:12 sinh viên
- Dược sĩ chính quy: 64 sinh viên
- Bác sĩ đa khoa liên thông : 68 sinh viên
- Bác sĩ y học cổ truyền liên thông :34 sinh viên
- Cử nhân điều dưỡng liên thông :34 sinh viên
- Cử nhân kỹ thuật y học liên thông :18 sinh viên
- Cử nhân y tế công cộng liên thông :10 sinh viên
- Dược sĩ liên thông:13 sinh viên
- Bác sĩ y học dự phòng: 06 sinh viên
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 5/9/2011 đến thánh 4/2012
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang, mô tả tại cộng đồng
Trang 142.3.1 Các nội dung nghiên cứu
2.3.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm chung bao gồm
- Về độ tuổi: Chia theo hai hệ sinh viên
+ Hệ chính quy: 18 tuổi, 19 tuổi, từ 20 tuổi trở lên
+ Hệ liên thông: 23 tuổi, 24 tuổi, từ 25 tuổi trở lên
- Nơi sinh sống của sinh viên trước khi vào đại học: Chia cụ thể
+ Đồng bằng
+ Miền núi
+ Miền biển
+ Thành phố
- Đặc điểm về ngành nhập học: Chia theo 2 hệ
+ Hệ chính quy: Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ y học cổ truyền, Bác sĩ Y học dự phòng, Bác sĩ răng hàm mặt, Cử nhân kỹ thuật y học, Cử nhân y tế công cộng, Dược sĩ
+ Hệ liên thông : Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ y học cổ truyền, Bác sĩ y học dự phòng, Cử nhân điều dưỡng, Cử nhân kỹ thuật y học, Cử nhân y tế công cộng, Dược sĩ
2.3.1.2 Nghiên cứu về bệnh tật
Theo tiêu chuẩn của quyết định số 1613/BYT – QĐ ngày 15/8/1997 của
bộ trưởng Bộ Y tế, phân loại bệnh tật gồm 13 chỉ số theo 102 bệnh:
Trang 158 Tiêu hóa Ký hiệu TH
- Cách phân loại bệnh tật: Xác định bệnh tật trong sinh viên bằng
phương pháp thăm khám lâm sàng bởi các bác sĩ chuyên khoa của các khoa, các bộ môn thuộc trường đại học y dược Huế Trong những trường hợp cần thiết ,sinh viên có thể được cho làm các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán xác định.Tùy theo loại bệnh và mức độ mà tình trạng sức khỏe của mỗi sinh viên được phân thành 5 loại
+ Loại 1: Gồm những người không mắc bệnh hoặc mắc bệnh cấp tính thông thường dưới 3 lần 1 năm
(như bệnh rối loạn tiêu hóa,viêm Amydal cấp, viêm phổi )
+ Loại 2: Gồm những người mắc bệnh cấp tính thông thường từ 3 lần trở lên trong năm, hay mắc bệnh mãn tính ảnh hưởng đến sức khỏe có khả năng điều trị khỏi
(như bệnh viêm tai giữa , bướu cổ )
+ Loại 3: Gồm những người mắc bệnh mãn tính có ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng có khả năng điều trị khỏi
( như tăng huyết áp không thường xuyên, viêm phế quản mạn)
+ Loại 4: Gồm những người mắc bệnh mãn tính ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe có khả năng điều trị khỏi nhưng để lại di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe
+ Loại 5: Gồm những người mắc bệnh mãn tính ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nhưng khó có khả năng điều trị khỏi như ung thư , suy tim
Trang 16- Nguyên tắc chung của phân loại:
+ Trước tiên phân loại cho từng cơ quan, bộ máy
+ Sau đó phân loại cho từng đối tượng (loại I, II, III, IV, V) trên cơ sở phân loại của các cơ quan , bộ máy
- Phân loại sức khỏe: Căn cứ vào sự phân loại các chỉ số, bác sĩ tiến
hành phân loại phân loại sức khỏe
+ Loại I : Cả 13 chỉ số đều đạt loại 1
+ Loại II : Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại II, xếp loại II
+ Loại III: Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại III, xếp loại III
+ Loại IV : Chỉ cần 1 chỉ số thấp nhất là loại IV, xếp loại IV
+ Loại V : Chỉ cần l chi số thấp nhất là loại V, xếp loại V
2.3.2 Thu thập và xử lý số liệu
- Thu Thập số liệu
Bước 1:
+ Đọc tài liệu liên quan đến nghiên cứu
+ Chuẩn bị phiếu khám sức khỏe
Trang 17Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của sinh viên khám sức khỏe
- Sinh viên hệ chính quy tuổi 18 chiếm 76,70%; tuổi từ 20 trở lên chiếm 7,01%
- Sinh viên hệ liên thông tuổi từ 25 trở lên chiếm tỉ lệ cao nhất 88,53%
Bảng 3.2 Đặc điểm về chổ ở của sinh viên trước khi nhập học
Trang 18- Sinh viên hệ chính quy trước khi nhập học sống ở vùng đồng bằng chiếm tỉ lệ cao nhất là 40,72%; thấp nhât ở miền biển 4,17%
- Sinh viên hệ liên thông sống ở vùng đồng bằng 48,08%; thấp nhất ở miền biển 3,28%
Bảng 3.3 Đặc điểm vê ngành nhập học của sinh viên
Hệ Ngành
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm vê ngành nhập học của sinh viên
- Sinh viên ngành Bác sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất trong đó Bác sĩ đa khoa chính quy 59,47% , liên thông 37,16%
- Sinh viên ngành dược chiếm tỷ lệ thấp nhất 10,83%
Trang 1976 – 85 (lần/phút)
86 – 95 (lần/phút)
>95 (lần/phút)
- Sinh viên tuổi 19 có mạch<=75 lần/phút chiếm 55,81%;
- Sinh viên tuổi ≥ 20 có mạch 76 – 85 lần/phút chiếm 51,35%
- Không có mạch trên 95 lần/phút từ 19 tuổi trở lên
Bảng 3.5 Phân loại mạch của sinh viên theo tuổi hệ liên thông
Mạch
Tuổi
<=75 (lần/phút)
76 – 85 (lần/phút)
86 – 95 (lần/phút)
>95 (lần/phút)
- Sinh viên tuổi 24 có mạch <=75lần /phút chiếm 62,50%;
- Sinh viên từ 25tuổi trở lên có mạch 76 -85 lần /phút chiếm 51,85%;
- Không có sinh viên nào có mạch trên 95l/p ở tuổi 23 trở lên
Trang 20Bảng 3.6 Phân loại HATT của sinh viên theo tuổi hệ chính quy
HATT
Tuổi
<120 (mmHg)
120 – <130 (mmHg)
130 – 139 (mmHg)
≥140 (mmHg)
120 – <130 (mmHg)
130 – 139 (mmHg)
≥140 (mmHg)
- Sinh viên tuổi 23 có huyết áp bình thường chiếm 46,15%;
- Sinh viên tuổi 24 có huyết áp tối ưu chiếm 62,50%;
- Sinh viên tuổi từ 25 trở lên có huyết áp tối ưu chiếm51,85%
- Không có sinh viên tuổi 23 và 24 bị tăng huyết áp
Trang 21Bảng 3.8 Bệnh lý về mắt của sinh viên theo tuổi hệ chính quy
Mắt phải TKX
- Sinh viên tuổi 23 bị TKX hai mắt chiếm 23,08%
- Sinh viên tuổi 24 bị TKX hai mắt chiếm 37,50%
- Sinh viên từ 25 tuổi trở lên bị TKX hai mắt chiếm 9,88%
Trang 22Bảng 3.10 Bệnh lý răng hàm mặt của sinh viên theo tuổi hệ chính quy Bệnh Răng
- Sinh viên bị cao răng chiếm tỉ lệ cao nhất,trong đó: sinh viên 23 tuổi
bị cao răng chiếm 30,77%, 24 tuổi chiếm 37,50% và từ 25 tuổi trở lên chiếm 34,57%
- Sinh viên tuổi 24 không bị mất răng
Trang 23Bảng 3.12 Phân loại mạch của sinh viên theo ngành hệ chính quy
Mạch Ngành
≤75 (lần/phút)
76 - 85 (lần/phút)
86 – 95 (lần/phút)
>95 (lần/phút)
Bác sĩ đa khoa (n=314) 157 50,00 136 43,31 19 6,05 2 0,64 Bác sĩ y học cổ truyền (n=20) 10 50,00 7 35,00 3 15,00 0 0,00 Bác sĩ y học dự phòng (n=67) 24 35,82 41 61,20 1 1,49 1 1,49 Bác sĩ răng hàm mặt (n=26) 12 46,15 7 26,92 6 23,08 1 3,85
76 - 85 (lần/phút)
86 - 95 (lần/phút)
>95 (lần/phút)
Bác sĩ đa khoa (n=68) 27 39,71 39 57,35 2 2,94 0 0,00 Bác sĩ y học cổ truyền (n=34) 18 52,94 16 47,06 0 0,00 0 0,00