1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế

115 1,8K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HỒ VĂN HUYÊN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH NỘI KHOA Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ KHOA CỦA BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ LUẬ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

HỒ VĂN HUYÊN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH NỘI KHOA

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ KHOA CỦA BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

HUẾ - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

HỒ VĂN HUYÊN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH NỘI KHOA

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ KHOA CỦA BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

CHUYÊN NGÀNH: LÃO KHOA

MÃ SỐ: CK 62 72 20 30

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS TRẦN HỮU DÀNG

HUẾ - 2011

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, được sự dạy dỗ, giúp đỡ của Thầy Cô, Nhà trường và Bệnh viện, đến nay luận văn đã hoàn thành, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu săc đến:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Huế

- Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế

- Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thành phĩa Huế

- Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Y Dược Huế

- Ban chủ nhiệm Bộ môn Nội, quý thầy cô Bộ môn Nội Trường Đại học Y Dược Huế

- Ban chủ nhiệm cùng các bác sĩ và toàn thể nhân viên Khoa Nội tổng hợp lão khoa, Khoa Nội tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu, phòng hồ sơ lưu trữ Bệnh viện Trung ương Huế

- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế, Thư viện Bệnh viện Trung ương Huế Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Hữu Dàng, người đã tận tình dạy dỗ, cung cấp tài liệu, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả các anh chị đồng nghiệp, các bạn bè, gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong cuộc sống cũng như trong qua trình học tập

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các bệnh nhân đã hợp tác cùng chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Huế, 9/2011 Hồ Văn Huyên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu

và các kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả luận án

Hồ Văn Huyên

Trang 5

ICD International classification diseases

(Phân loại bệnh tật quốc tế)

KK-BNCV-TV Không khỏi + Bệnh nặng cho về + Tử vong tại BV

MHBT Mô hình bệnh tật

TBMMN Tai biến mạch máu não

WHO World health organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Dân số học người cao tuổi 3

1.2 Mô hình bệnh tật và tử vong 5

1.3 Tình hình bệnh tật của người cao tuổi 11

1.4 Giới thiệu sơ bộ về nơi nghiên cứu 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Tình hình mắc bệnh chính 43

3.2 Tình hình bệnh kèm 57

3.3 Phân bố bệnh tật theo mùa 59

3.4 Kết quả điều trị 62

Chương 4 BÀN LUẬN 69

4.1 Một số đặc điểm tổng quan về mẫu đã chọn 69

4.2 Tình hình mắc bệnh chính 69

4.3 Số bệnh có ở bệnh nhân 87

4.4 Kết quả điều trị 91

KẾT LUẬN 97

KIẾN NGHỊ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2003) 22

Bảng 1.2 Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2010) 23

Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi trên tổng số bệnh nhân chung 43

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 44

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo giới và nhóm tuổi 44

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo vùng địa dư và nhóm tuổi 45

Bảng 3.5 Đối tượng chi trả viện phí 45

Bảng 3.6 Tình hình bệnh tật xếp theo chương bệnh 46

Bảng 3.7 Mười chương bệnh thường gặp nhất 47

Bảng 3.8 Một số bệnh thường gặp trong mỗi chương bệnh thường gặp 48

Bảng 3.9 Mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi 52

Bảng 3.10 Mười bệnh thường gặp nhất phân theo nhóm tuổi 53

Bảng 3.11 Phân bố mười bệnh thường gặp nhất theo giới tính 55

Bảng 3.12 Mười bệnh thường gặp theo vùng địa dư 56

Bảng 3.13 Số bệnh có ở người cao tuổi (kể cả bệnh chính) phân theo nhóm tuổi 57

Bảng 3.14 Số bệnh trung bình cho một bệnh nhân 58

Bảng 3.15 Số bệnh nhân CBK và KCBK phân bố theo giới tính 59

Bảng 3.18 Phân bố bệnh chính theo chương bệnh và theo mùa 59

Bảng 3.19 Phân bố các bệnh thường gặp theo mùa 61

Bảng 3.20 Kết quả điều trị theo nhóm tuổi 62

Bảng 3.21 Kết quả điều trị cho nhóm có bệnh kèm và nhóm không có bệnh kèm 63

Bảng 3.22 Kết quả điều trị của các khoa nghiên cứu 64

Bảng 3.23 Số ngày điều trị trung bình cho các nhóm tuổi 65

Bảng 3.24 Số ngày điều trị trung bình cho nhóm có bệnh kèm và KCBK 66

Bảng 3.25 Số ngày điều trị trung bình của các khoa nghiên cứu 67

Bảng 3.26 Các bệnh thường gặp trong nhóm không khỏi + bệnh nặng cho về + tử vong 67

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Số bệnh nhân cao tuổi trên tổng số bệnh nhân chung 43

Biểu đồ 3.2 Mười chương bệnh thường gặp nhất 48

Biểu đồ 3.3 Mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi 53

Biểu đồ 3.4 Mười bệnh thường gặp nhất phân theo nhóm tuổi 54

Biểu đồ 3.5 Phân bố mười bệnh thường gặp nhất theo giới tính 55

Biểu đồ 3.6 Số bệnh có ở người cao tuổi (kể cả bệnh chính) 57

Biểu đồ 3.7 Số bệnh trung bình cho một bệnh nhân 58

Biểu đồ 3.8 Phân bố bệnh chính theo chương bệnh và theo mùa 60

Biểu đồ 3.9 Phân bố các bệnh thường gặp theo mùa 61

Biểu đồ 3.10 Kết quả điều trị theo nhóm tuổi 62

Biểu đồ 3.11 Kết quả điều trị cho nhóm có bệnh kèm và nhóm không có bệnh kèm 63

Biểu đồ 3.12 Số ngày điều trị trung bình cho nhóm có bệnh kèm và KCBK 66

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu bệnh nhân điều trị nội trú tại các khoa nghiên cứu 33

Trang 9

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên được xác định là người cao tuổi Tuổi thọ ngày càng tăng, số người cao tuổi ngày càng nhiều Cuối thế kỷ XX, tuổi thọ con người đã nâng lên 65 tuổi, gần gấp đôi so với thời kỳ đầu thế kỷ này Dân số thế giới đang già hóa, tỷ lệ người cao tuổi hiện nay xấp xỉ 10%, dự báo sau 20 năm nữa tỷ lệ người cao tuổi sẽ lên đến 14% Hiện nay tỷ lệ nguời cao tuổi ở nuớc ta là 8,1%, dự báo khoảng 2014 - 2016, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ già hóa [24]

Do đặc điểm sinh lý, tuổi già làm gia tăng nhiều bệnh, bệnh của người cao tuổi không hoàn toàn giống người trẻ, cùng một lúc có thể có nhiều bệnh, nhất là các bệnh mạn tính ở nhiều cơ quan khác nhau Đáng lưu ý là các bệnh về thoái hóa, tim mạch, nội tiết chuyển hóa, ung thư [24], [26]

Tuy nhiên thách thức đặt ra là làm thế nào để mọi người sống lâu nhưng mạnh khoẻ và hạnh phúc Người cao tuổi Việt Nam là lớp người đã có những đóng góp to lớn trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước và có bề dày kinh nghiệm, chiều sâu trí tuệ Chăm sóc đời sống vật chất tinh thần và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi là trách nhiệm Đảng, Nhà nước, ngành Y tế, gia đình và của toàn xã hội [43], [63]

Trên thế giới, lão khoa với tư cách là một ngành khoa học thực sự, chỉ mới ra đời trong vài thập niên qua nhờ những thành tựu về y sinh vật học và nhu cầu thực tiễn của xã hội [68] Ngành lão khoa của nước ta hiện nay còn non trẻ so với nhiều ngành y sinh học khác Khoa lão khoa là khoa lâm sàng khám, điều trị cho người

Trang 10

cao tuổi hiện nay ở nhiều bệnh viện tuyến tỉnh chưa được thành lập Nhiều công trình nghiên cứu mới được tiến hành gần đây, các kết quả nghiên cứu chưa đầy đủ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu lão khoa cơ sở, như xác định mô hình bệnh tật, tử vong của người cao tuổi, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và ưu tiên giải quyết những bệnh thường gặp ở người cao tuổi Các tài liệu lão khoa cơ bản ít, xuất bản đã lâu hoặc mới xuất bản, nhưng các số liệu trong sách đều ghi nhận các kết quả nghiên cứu cách đây quá nhiều năm, chưa có tính cập nhật, gây khó khăn cho người tham khảo

Ngày nay kinh tế xã hội nước ta có nhiều thay đổi, mô hình bệnh tật cũng thay đổi Việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đang được quan tâm nhiều hơn, vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh tật của người cao tuổi

Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu về tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây tôi tiến hành đề tài “Nghiên

cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện Trung ương Huế” nhằm mục tiêu:

1 Khảo sát tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi điều trị tại khoa Nội tổng hợp - Lão khoa, khoa Nội tim mạch, khoa Hồi sức cấp cứu (số mắc, phân bố bệnh tật theo phân loại bệnh tật quốc tế, số bệnh kèm theo, phân bố theo mùa)

2 Đánh giá hiệu quả điều trị ở các bệnh nhân trên

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 DÂN SỐ HỌC NGƯỜI CAO TUỔI

1.1.1 Phân loại dân số người cao tuổi

Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản ánh chính xác quá trình sinh học

Có người tuổi chưa nhiều nhưng đã có nhiều biểu hiện của sự già, ngược lại có người nhiều tuổi nhưng trông vẫn trẻ, khoẻ mạnh Vì vậy sự phân chia theo tuổi chỉ có tính chất ước lệ, và có một giá trị tương đối [24]

Đại hội Thế giới về tuổi già tại Vien (1982) đã thống nhất qui định, tuổi già bắt đầu từ 60 tuổi trở lên Tại nước ta, cho đến khi có Pháp lệnh người cao tuổi (tháng 4 năm 2000) được ban hành, chúng ta đã có qui định 60 tuổi trở lên là người cao tuổi [11]

Sau nhiều lần điều chỉnh, đến cuối thập kỷ 80, khái niệm người cao tuổi được dùng thay cho người già Tuy hai khái niệm này không khác nhau về khoa học song về mặt tâm lý, cụm từ người cao tuổi mang ý nghĩa tích cực hơn [24]

Theo Tổ chức Y tế thế giới, sự sắp xếp nhóm tuổi ở người cao tuổi như sau:

- 60 đến 74 tuổi : Người nhiều tuổi

- 75 đến 90 tuổi : Người già

- Trên 90 tuổi : Người già sống lâu

Cách qui định trên đây hiện đang được nhiều nước áp dụng [24]

Ở Việt Nam, Luật người cao tuổi qui định: Người cao tuổi là công dân Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên [43]

Nhưng cũng có nhiều tác giả Châu Âu cho tuổi già là từ 65 tuổi trở lên [24]

1.1.2 Dân số người cao tuổi trên thế giới

Cơ cấu tuổi tác trên thế giới đã có những thay đổi lớn trong thế kỷ này, số người cao tuổi ngày càng tăng, không những ở các nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển [24]

Trang 12

Theo công bố của WHO năm 1950, số người cao tuổi trên toàn thế giới mới chỉ có 214 triệu, năm 1970 là 291 triệu người, tức 8% dân số thế giới Năm

1975 là 346 triệu, năm 2000 là 590 triệu và dự báo năm 2025 là 1 tỷ 121 triệu

Tỷ lệ này tăng nhanh hơn ở các nước đang phát triển, từ 5,4% lên 7% Từ 137 triệu năm 1970 lên 354 triệu năm 2000, có nghĩa là tăng 2,6 lần Như vậy dự báo trong vòng 75 năm (1950 - 2025) tăng 423% hoặc trong vòng 50 năm gần đây (1975 - 2025) tăng 223%, một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử loài người [24] Ở Mỹ năm 1990 có 3,1 triệu người từ 65 tuổi trở lên nhưng đến năm

2000 có chừng 35,6 triệu, dự kiến đến năm 2030 có 71,5 triệu, tăng hơn 2 lần năm 2000 [73], [84]

Theo báo cáo của WHO thì dân số thế giới từ 60 tuổi trở lên tiến tới 2 tỉ người vào năm 2050 [82]

Dân số thế giới đang già hóa, tỷ lệ người già hiện nay xấp xỉ 10%, dự báo sau

20 năm nữa, tỷ lệ người già lên đến 14% [24]

Nếu tính từ 60 tuổi trở lên thì tỷ lệ người cao tuổi ở một số nước như sau: Pháp 18,2%, Balan 13,5%, Chi lê 7,2%, Ấn Độ 6 %, Singapore 5,7%

Nếu tính từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ người cao tuổi so với dân số ở một số nước như sau: Pháp 13,5%, Anh 13,2%, Nauy 12,9 %, Đan Mạch 12,5% Thụy Sĩ 11,6 % [24], Mỹ 12,4% [89]

Tuổi thọ trung bình tăng nhanh Theo số liệu 1980 thì ở Bungari tuổi thọ trung bình là 68,7 ở nam và 73,9 ở nữ; Ba Lan là 66,9 ở nam và 75,5 ở nữ [33] Ở

Mỹ tuổi thọ tăng từ 47,3 tuổi vào năm 1990 lên 77,2 tuổi vào năm 2001 [71] Tuổi thọ trung bình dưới thời cổ Hy Lạp và La Mã khoảng 25 tuổi, ở thế kỷ

19 cũng mới có 37 tuổi, sang thế kỷ 20 đã tăng lên khoảng 70 tuổi ở Châu Âu và châu Mỹ Đến thập niên 80, tuổi thọ trung bình ở 7 nước phát triển vượt 70 tuổi ở nam và và xấp xỉ vượt 80 ở nữ giới [26]

1.1.3 Dân số người cao tuổi Việt nam [65]

Số người cao tuổi Việt Nam tăng nhanh Nếu ước tính những người trên 60 tuổi, thì ở miền Bắc, năm 1960 có 814.591 người, chiếm 5% dân số, và năm 1974

Trang 13

có 1.645.659 người, chiếm tỷ lệ 6,9% so với dân số Như vậy trong vòng 14 năm

đã tăng thêm 831.252 người trên 60 tuổi, tức là tăng 102% so với năm 1960 [24] Hiện nay số người cao tuổi ở Việt Nam không ngừng gia tăng Theo thống kê điều tra dân số năm 1999 có khoảng 6 triệu người cao tuổi, chiếm tỷ lệ 8,1% dân

số Năm 2010 có 7.700.552 người chiếm 9,6% dân số [76] Dự báo khoảng năm

2014 - 2016, Việt nam sẽ bước vào thời kỳ già hóa (khi tỷ lệ người cao tuổi chiếm 10% dân số) [24], [58]

Trong số người cao tuổi thì nữ nhiều hơn nam Nếu tính những người trên 60 tuổi thì năm 1960 có 287.264 nam chiếm 35% và 526.527 nữ chiếm 65% Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2010 thì toàn quốc có 8.128.058 người cao tuổi, trong

đó nam 3.360.111 chiếm 41,30%, nữ 4.767.947 chiếm 58,7% [24] [59] Tỷ lệ nữ nhiều càng rõ khi tuổi càng cao

Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 71,3 tuổi theo số liệu điều tra dân

số ngày 26 tháng 12 năm 2007 [24] Năm 2010 tuổi thọ chung là 72,8 tuổi, nam 70,2 và nữ 75,6 (Tạp chí dân số và phát triển số tháng 5/2011)

Tỷ lệ người già ở nông thôn cao hơn ở thành phố và miền núi và những người cao tuổi nhất phần lớn thuộc dân tộc ít người

Việc thống kê bệnh tật và tử vong tại cộng đồng là một việc cực kỳ khó khăn, đặc biệt đối với các nước nghèo và đang phát triển Vì vậy, có thể xem kết cấu bệnh tật và tử vong tại bệnh viện đa khoa là đại diện cho kết cấu bệnh tật và tử vong của cộng đồng dân cư khu vực trực thuộc [57]

Trang 14

Thống kê bệnh tật và tử vong tại bệnh viện còn thể hiện trình độ, khả năng chẩn đoán, phân loại bệnh tật theo các chuyên khoa để đảm bảo điều trị có hiệu quả Thực chất đó là khả năng đảm bảo phục vụ chăm sóc người bệnh của bệnh viện Bởi lẽ có phân loại, chẩn đoán đúng mới có thể tiên lượng đúng, điều trị đúng

và có hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó làm giảm tỷ lệ tử vong, tiết kiệm chi phí thuốc men và các phương tiện khác

Thống kê tình hình bệnh tật và tử vong là đặc thù của ngành y tế và là nội dung quan trọng của quản lý bệnh viện [57]

1.2.2 Khái quát về bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10

Danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ lần thứ 10 là sự tiếp nối và hoàn thiện về cấu trúc, phân nhóm và mã hóa các ICD trước đây ICD 10 đã được WHO triển khai xây dựng từ tháng 9 năm 1993 Toàn bộ danh mục được sắp xếp thành 21 chương, từ chương I đến chương XXI theo các nhóm bệnh Danh mục 21 chương gồm:

- Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng

- Chương II : Khối u

- Chương III : Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan

cơ chế miễn dịch

- Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng,và chuyển hóa

- Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi

- Chương VI : Bệnh của hệ thần kinh

- Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ

- Chương VII : Bệnh tai và xương chũm

- Chương IX : Bệnh hệ tuần hoàn

- Chương X : Bệnh hệ hô hấp

- Chương XI : Bệnh hệ tiêu hóa

- Chương XII : Bệnh da và mô dưới da

- Chương XIII : Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết

Trang 15

- Chương XIV : Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục

- Chương XV : Chữa, đẻ và sau đẻ

- Chương XVI : Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh

- Chương XVII : Dị tật, dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể

- Chương XVIII : Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng,

cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác

- Chương XIX : Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do

nguyên nhân bên ngoài

- Chương XX : Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong

- Chương XXI : Những yếu tố ảnh hướng đến tình trạng sức khoẻ và tiếp xúc dịch vụ y tế [8], [9]

1.2.3 Các yếu tố tác động đến mô hình bệnh tật và tử vong

1.2.3.1 Tuổi, giới, địa dư và các yếu tố di truyền

Tuổi và giới là một trong những yếu tố không biến đổi, quyết định về cơ cấu

dân số của một khu vực [57]

Bệnh học của người cao tuổi cũng có nhiều khác biệt so với người trẻ, nhiều bệnh chỉ có ở người già mà không có ở người trẻ và ngược lại Tỷ lệ một số bệnh giữa nam và nữ cũng khác nhau, có bệnh số nam và nữ tương đương, có bệnh nam nhiều hơn nữ hoặc ngược lại Ở các khu vực khác nhau thì bệnh lý của người cao tuổi cũng khác nhau, có bệnh chỉ xảy ra ở khu vực địa lý này mà không xảy ra ở khu vực địa lý khác

Yếu tố di truyền, hay nói rộng ra là chủng tộc nòi giống cũng có tác động đến

cơ cấu bệnh tật Ngày nay người ta phát hiện rất nhiều bệnh có liên quan ít nhiều đến yếu tố di truyền như tăng huyết áp, đái đường, béo phì…[57]

1.2.3.2 Các yếu tố cấu trúc thấp

Hòa bình, ổn định chính trị góp phần phát triển kinh tế, làm giảm đi đói nghèo, từ đó làm giảm đi các bệnh tật đặc trưng của đói nghèo như suy dinh dưỡng, các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, lao Phát triển kinh tế, mặt khác,

Trang 16

còn gây biến đổi về môi trường do tăng đô thị hóa làm gia tăng các bệnh do ô nhiễm như bệnh đường hô hấp trên, bệnh nghề nghiệp, các sang chấn tâm thần kinh, bệnh chuyển hóa…

Tăng công bằng giúp cho người nghèo có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế, làm giảm đi chỉ số bệnh tật và tử vong ở nhóm tuổi này

1.2.3.3 Các yếu tố cấu trúc cao

Ăn uống rất cần thiết đối với sức khỏe Khẩu phần ăn khác nhau cũng gây nên những bệnh tật đặc trưng khác nhau Khẩu phần ăn nhiều chất béo, nhiều đạm làm gia tăng bệnh béo phì, là nền tảng của các bệnh rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh

xơ vữa động mạch và các bệnh lý tim mạch khác

Nước sạch, nhà ở, mạng lưới y tế cơ sở phát triển, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe tốt sẽ hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong của các bệnh [57]

1.2.3.4 Các yếu tố thuộc về lối sống

Các yếu tố này càng được quan tâm vì những tác hại của nó trong việc làm tăng tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong của nhiều bệnh Thuốc lá được xem là liên quan đến nhiều bệnh như nhiễm khuẩn đường hô hấp, ung thư phổi, bệnh tim mạch, lao, làm nặng thêm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [24]

Rượu với số lượng thích hợp giúp cho tiêu hóa tốt, nhưng với số lượng vượt quá cho phép có thể gây nhiều tác hại cho cơ thể như xơ gan, loét dạ dày tá tràng, cao huyết áp, viêm dây thần kinh

Lối sống cũng tác động đến sức khỏe như lối sống tĩnh tại, ít hoạt động dễ gây các bệnh chuyển hóa, tim mạch Ngược lại quá bận rộn, stress cũng ảnh hưởng đến một số bệnh như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não [57]… Lạm dụng thuốc làm gia tăng các tai biến do thuốc và nghiêm trọng hơn là gia tăng tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn, khiến cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ngày càng khó khăn hơn

Ngoài các yếu tố trên các đặc điểm về địa lý và sinh thái của từng vùng cũng quy định nên mô hình bệnh tật đặc trưng của từng vùng địa lý đó

Trang 17

1.2.3.5 Ảnh hưởng của khí hậu đối với sức khỏe:

Chúng ta biết có nhiều bệnh do thời tiết và khí hậu gây nên Những đặc điểm

về dịch tễ học, cơ chế bệnh có liên quan đến thời tiết chưa được sáng tỏ Các yếu tố khí hậu thường có ảnh hưởng đến bệnh hen, viêm phế quản, thấp khớp, ung thư da, những thương tổn về tim mạch…Chúng ta cũng biết những loại gió như Midi ở Pháp, gió Phơn vùng núi Alpes gây tình trạng kích thích, thể trạng suy nhược, chóng mặt, chảy máu, ứ trệ tĩnh mạch, thay đổi huyết áp… Những loại gió như gió Lào, gió Ô Quý Hồ, gió Than Uyên làm cơ thể suy kiệt, mất nước, xuất huyết… [40] Đối với các yếu tố tổng hợp của khí hậu tác động đến việc hình thành và phát triển đến một số dạng bệnh Chúng ta thường lưu ý đến loại khí hậu nóng - khô và khí hậu nóng - ẩm, những loại khí hậu này hay gây nên những rối loạn quá mức về điều hòa nhiệt, dẫn đến tình trạng ngất, co rút, say nóng, suy kiệt do mất nhiều nước trong cơ thể Khí hậu nóng - ẩm còn làm những thương tổn da gây hậu quả lâu dài lên hệ tim mạch, lên thận ở những người sống trong vùng nóng ẩm (Lampert, 1968)

Tỷ lệ tử vong có xu hướng giảm khi nhiệt độ không khí chuyển từ lạnh sang nóng Nếu nhiệt độ không khí tăng cao đáng kể và khí hậu biến đổi đột ngột thì đó là nguyên nhân tăng tỷ lệ tử vong (Licht, 1964) Khí hậu chuyển từ lạnh sang nóng hoặc ngược lại là mối đe dọa đối với sức khỏe người già và người bị bệnh tim [40] Thậm chí ngay cả khi có sự chênh lệch vi khí hậu bên trong và bên ngoài phòng khi sử dụng điều hòa nhiệt độ cũng có thể là tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe, là yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não [25]

Vùng khí hậu lạnh tuy không gây những hậu quả gây gắt như vùng khí hậu nóng, nhưng những tác hại do khí hậu lạnh gây ra cũng không thể xem nhẹ Khí hậu lạnh thường gây cho con người bị cước các đầu ngón chân và ngón tay, da tím tái, chân cứng đờ, thân thể cóng lạnh Người già có thể chết khi nhiệt độ ở trung tâm cơ thể xuống dưới 300C (Mets, 1967) Khí hậu lạnh còn làm tăng tỉ lệ tử vong

và tỷ lệ các bệnh đường hô hấp, lao, thấp khớp Do các đợt rét kéo dài nhiệt độ không khí thay đổi quá lớn (5 - 60C) và quá nhanh thường đe dọa sức khỏe của người cao tuổi và có thể gây tử vong

Trang 18

Mùa khí hậu có tác động lên hoạt động sống của con người và ảnh hưởng tới các loại bệnh xuất hiện theo mùa, do cơ thể giảm sức đề kháng hoặc do khí hậu tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng lây lan Những mùa chuyển tiếp từ từ

ít gây nguy hiểm hơn nhờ những điều tiết kịp thời của cơ thể [40]

Khí hậu có ảnh hưởng đến bệnh tật nhưng chúng ta cũng có thể lợi dụng các yếu tố khí hậu để cải thiện điều kiện sống hàng ngày và chữa một số bệnh, dựa vào nguyên tắc sử dụng các yếu tố khí hậu khác nhau Dùng khí hậu để chữa bệnh, đó

là khí hậu liệu pháp Ở nhiều nước, người ta lợi dụng các vùng núi cao để chữa các bệnh hen, ho gà vì ở những vùng đó có điều kiện để tăng cường thông khí phổi, tăng cường lưu lượng máu ngoại biên, kích thích sản sinh hocmon tuyến thượng thận, giúp cân bằng điều hòa thân nhiệt Đặc biệt hơn cả vẫn là việc lợi dụng các điều kiện thiên nhiên, trong đó có các yếu tố khí hậu để xây dựng những nhà nghỉ

và những trại an dưỡng chữa bệnh [40]

1.2.4 Một số đặc điểm mô hình bệnh tật và tử vong trên thế giới [57]

Mô hình bệnh tật của mỗi nước phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của nước đó

- Mô hình bệnh tật ở các nước chậm phát triển: bệnh nhiễm trùng cao, bệnh mạn tính không nhiễm trùng thấp

- Mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển: bệnh nhiễm trùng thấp, bệnh mạn tính không nhiễm trùng là chủ yếu

- Mô hình bệnh tật của các nước phát triển: bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh lý người già là chủ yếu [24], [48]

- Đặc điểm bệnh tật của các nước phát triển là bệnh tật chủ yếu rơi vào nhóm tuổi đã quá tuổi lao động, chủ yếu là người già, tình trạng thiếu dinh dưỡng không phải là vấn đề quan trọng Các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng có tỷ lệ rất ít trong cộng đồng, ngược lại bệnh thoái hóa, ung thư, tim mạch, đái tháo đường là các bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu

- Ở các nước đang phát triển, bệnh tật chủ yếu rơi vào nhóm tuổi rất trẻ, đang trong độ tuổi lao động sản xuất Tình trạng thiếu dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao và là

Trang 19

vấn đề sức khỏe chủ yếu của quốc gia Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm

tỷ lệ lớn trong cộng đồng trong khi đó các bệnh thoái hóa, ác tính, ung thư lại có tỷ

lệ thấp [57]

1.3 TÌNH HÌNH BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

1.3.1 Biến đổi của cơ thể trong quá trình lão hóa [24], [29], [66], [67], [68]

Qua thời gian phát triển và tồn tại, cơ thể biến đổi dần đến tuổi già, cuối cùng

là cái chết, đó là một quy luật cho mọi sinh vật

1.3.1.1 Biến đổi của tế bào

Sự hóa già không xảy ra giống nhau ở mọi tế bào Tế bào biệt hóa càng cao khả năng sinh sản càng kém

Quá trình già hóa theo chương trình có tính di truyền khác nhau giữa các loài Chương trình này nằm trong thể nhiễm sắc của nhân, phân tử ADN Tuổi càng cao ADN càng giảm, sự chỉ huy tổng hợp protein quan trọng cho cơ thể có những sai lầm đưa đến những biến dị, những protein mang nhiều sai lầm được sinh ra, làm cho hệ miễn dịch của cơ thể không nhận ra, có khi đưa đến bệnh lý tự miễn

1.3.1.2 Sự hóa già của một số cơ quan

- Ở não: Càng lớn tuổi số lượng nơron càng giảm, nhất là vùng võ não, do đó trí tuệ sa sút kiểu Alzheimer

- Ở gan và đường ruột: Tuổi tăng, sự tổng hợp Enzym từ ADN ở gan giảm dần, do đó khả năng thích nghi của cơ thể giảm

- Ở thận: Giảm lượng đơn vị thận và tăng mô xơ ở kẻ, trọng lượng thận từ 30 tuổi bắt đầu giảm Đến 70 tuổi giảm mất 1/3 nhưng chức năng vẫn bình thường, đến 80 tuổi chức năng giảm 40 - 50% so với lúc trẻ Lưu lượng máu qua thận giảm

do đó mức lọc cầu thận giảm Quá trình tái hấp thụ bị hạn chế [51]

- Ở phổi: [78] Tế bào mô hô hấp giảm theo tuổi Thành phần chun ở vách phế nang bị thóai hóa làm giảm khả năng đàn hồi dẫn đến tình trạng ứ động ở phổi già Chức năng phổi bị giảm sút Suy hô hấp ở người có tuổi càng làm diễn tiến trên nhanh hơn

Trang 20

- Ở tim mạch: Màng đáy mao mạch dày lên theo tuổi Lớp dưới nội mô của thành động mạch chủ có nhiều nguyên bào sợi và sợi tạo keo, tế bào sợi mỡ, tế bào nội mô chứa nhiều giọt mỡ Chất chun ở thành mạch giảm do đó mạch bị cứng, kém đàn hồi

- Sự hóa già của mô liên kết: Thành mạch bị xơ cứng do tăng colagen và giảm thành phần chun Xơ vữa động mạch là do xơ cứng và thâm nhiễm lipide lớp

áo trong, tăng sinh tế bào lớp áo trong Ở bệnh đái tháo đường là bệnh phổ biến ở người già, tổn thương toàn bộ mô liên kết không chỉ riêng ở màng đáy

1.3.1.3 Biến đổi hệ thần kinh

Từ 20 - 49 tuổi trọng lượng của tế bào não giảm từ 10 - 20% Từ 50 - 90 tuổi

hằng năm trọng lượng não giảm khoảng 3,7g Ở người già khối lượng não giảm,

các hồi não nhỏ dần, các rãnh não rộng ra, não teo khá đồng đều Sự thoái hóa tơ thần kinh cũng gặp ở bệnh Alzheimer, loạn thần kinh lão và tiền lão trong hội chứng Parkinson, viêm não, xơ cứng cột bên teo cơ

1.3.1.4 Biến đổi chuyển hóa

Ở người cao tuổi có sự giảm chuyển hóa năng lượng Mức độ tiêu thụ oxy phụ thuộc vào lưu lượng máu đến não và trạng thái chức năng tế bào thần kinh Sự oxy hóa glucoza ở não bị giảm, lượng ADN giảm, thoái biến các khớp thần kinh Các men tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh giảm Hậu quả, người già chậm khởi động, động tác chậm, kém cảm giác, giảm sinh dục, giảm trí nhớ Các peptid thần kinh, hormon thần kinh có ảnh hưởng quan trọng tới mọi tác phong, cảm xúc, mất cân đối sẽ gây các rối loạn thần kinh tâm thần ADH giảm, ảnh hưởng đến trí nhớ Khả năng tạo lập các khớp thần kinh mới giảm theo tuổi Tốc độ dẫn truyền thần kinh mỗi năm giảm đi khoảng 0,4% Độ nhạy bén của các giác quan kém hơn trước Hội chứng thích nghi ở các cơ thể già bị kém đi rất nhiều

1.3.1.5 Biến đổi hệ miễn dịch [64]

Tuổi già làm suy yếu kiểm soát miễn dịch dẫn đến bệnh tự miễn, tạo thuận lợi cho một số ung thư phát triển Miễn dịch qua trung gian tế bào giảm sút dần Tế bào gốc vẫn có số lượng bình thường nhưng kém biệt hóa, kém chức năng Miễn

Trang 21

dịch qua trung gian thể dịch ít thay đổi và chậm theo tuổi tác Lượng tuyệt đối lympho B ít thay đổi Thường có tăng gamma globulin miễn dịch Chức năng thực bào vẫn bình thường, khả năng hợp tác với lympho T & B để sinh kháng thể vẫn được an toàn

Suy giảm miễn dịch dễ dẫn đến nhiễm trùng, tự miễn Nhiễm trùng là nguyên nhân gây tử vong cao nhất, đặc biệt viêm đường hô hấp, nhiễm trùng huyết, lao phổi [64]

1.3.1.6 Biến đổi hệ nội tiết

Giảm tổng hợp ADH kèm với giảm khả năng cô đặc ở thận gây tiểu nhiều, giảm ADH cũng ảnh hưởng đến trí nhớ, STH giảm, prolactin giảm và nhiệt điệu tiết đảo lộn ở phụ nữ mãn kinh do giảm oestrogen Ở nam tăng dần FSH và LH và giảm testosteron LH càng tăng càng hóa già tinh hoàn Càng già testosteron càng giảm Chức năng giáp giảm theo tuổi, giảm tỷ lệ tái hoạt động của iodine, giảm tiêu thụ thyroxin, thời gian nửa đời của T3 kéo dài gây suy giáp Giảm chuyển hóa

cơ bản Sự hằng định nội môi của calci nhờ hoạt động của 2 chất tăng calci (PTH

và 1-2-5 hydroxycalciferol) và một chất hạ calci (thyrocalcitonin) Calci được lấy

ở xương do đó có giảm 1/4 khối lượng ở nam từ 25 - 70 tuổi, ở nữ là 1/3, rõ nhất là sau khi mãn kinh

1.3.1.7 Biến đổi tổ chức liên kết

Các sợi tạo keo dày lên, rõ ở thận, chất căn bản xen giữa các sợi tạo keo tăng lên và không thuần nhất Tuổi già có sự giảm sút tổng hợp các đại phân tử của chất căn bản liên kết, do đó việc tạo ra các thành phần căn bản ngày càng giảm đi Các

cơ quan tổ chức ngày càng xơ cứng

1.3.2 Những nguyên lý chung trong y học tuổi già [30]

Đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình lão hóa của cơ thể là sự thu hẹp tuần tiến dự trữ ổn định nội môi của mọi hệ thống trong cơ thể Sự giảm sút này là tình trạng thu hẹp nội môi từ tuổi 30 trở đi và tiến triển dần theo tuyến tính Tuy nhiên cũng có đôi chút khác biệt giữa các cá thể Mỗi cơ quan của một hệ thống suy

Trang 22

giảm một cách độc lập với các cơ quan của hệ thống khác và chịu ảnh hưởng của dinh dưỡng, môi trường và lối sống

Nhận xét chung là những cá thể ngày càng khác biệt nhau khi tuổi càng cao, nhưng cũng không theo một mô hình cố định nào Tuy nhiên nếu có sự suy sụp đột ngột ở bất cứ một hệ thống nào trong cơ thể thì thường là do bệnh tật chứ không phải là “sự lão hóa thông thường” Lão hóa bình thường có thể bị đảo lộn do các yếu tố nguy hại như tăng huyết áp, nghiện thuốc lá, lối sống tĩnh tại…[30]

Hy vọng sống hiện nay trung bình là 17 năm ở tuổi 65; 11 năm ở tuổi 75; 6 năm ở tuổi 85; 4 năm ở tuổi 90 và 2 năm ở tuổi 100 Ở giai đoạn đầu của tuổi già không có sự suy yếu đáng kể, chỉ có 30% của người trên 85 tuổi có sự suy giảm trong hoạt động hàng ngày Nhìn bề ngoài phần đông có vẻ bình thường khi không

ốm đau nhưng họ vẫn có sự suy giảm dự trữ bảo đảm ổn định nội môi

Cùng với tuổi tác gia tăng, một số cá thể dễ mắc một số bệnh, dễ bị tác dụng phụ khi dùng thuốc Những yếu tố bất thường đó cộng với sự suy giảm dự trữ ổn định nội môi họ dễ bị thương tổn bệnh lý ở một số cơ quan trong cơ thể Sự hiểu biết về những yếu tố nguy hại là cần thiết để bảo vệ sức khỏe người cao tuổi một cách có hiệu quả hơn

1.3.3 Những nguyên lý của y học tuổi già [30]

1 Bệnh ở người cao tuổi thường gây tổn thương ở những cơ quan xung yếu của cơ thể Vì các cơ quan xung yếu thường khác nhau giữa các cá thể nên bệnh cảnh lâm sàng thường không luôn luôn điển hình Ở tuổi già cơ quan xung yếu, mắt xích yếu nhất thường là não, đường tiết niệu, hệ tim mạch, cơ xương khớp; mặt khác một số biểu hiện lâm sàng lại có nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên khi xác định bệnh phải có diện chẩn đoán phân biệt tương đối rộng, đề phòng bỏ sót bệnh

2 Do các cơ chế bù trừ bị suy giảm, bệnh của người già thường bộc lộ ngay

từ giai đoạn sớm Vì vậy, mới nghe có vẻ nghịch lý là việc điều trị bệnh ở người cao tuổi trong một số trường hợp có thể dễ hơn ở người trẻ vì bệnh mới ở giai đoạn đầu mặc dù biểu lộ có thể nặng hoặc rầm rộ Một khía cạnh khác cũng cần lưu ý là

Trang 23

các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra ngay với liều thấp, trong lúc bình thường không gặp ở người trẻ hơn

3 Do có nhiều cơ chế đảm bảo ổn định nội môi cũng đồng thời bị rối loạn nên có một số biểu hiện đáp ứng với điều trị và những kết quả điều trị đó lại tác động tốt đến toàn thân

4 Nhiều dấu hiện có thể là bất thường (bệnh lý) ở người trẻ lại tương đối phổ biến ở người già và không nên coi là triệu chứng của một bệnh thực thể Những biểu hiện đó chưa hẳn đã là do bệnh gây nên Nhận định sai sẽ dẫn đến xử lý sai

5 Vì những triệu chứng gặp ở người già thường do nhiều nguyên nhân nên chẩn đoán không nên quá đơn giản, không nên chỉ hướng độc nhất về một chẩn đoán mà phải nghĩ đến có nhiều khả năng khác Điều này đòi hỏi phải thăm khám

tỉ mỉ, có kiến thức và kinh nghiệm khá rộng

Hơn nữa khi đã chẩn đoán đúng, việc điều trị một bệnh duy nhất ở người già không chắc đã có kết quả nếu không đồng thời giải quyết các yếu tố Do không lưu

ý đến đặc điểm này mà nhiều người đã sử dụng nhiều thuốc chẳng những không có hiệu quả mà còn gây nhiều tác dụng không mong muốn, có hại

6 Hậu quả bệnh tật dễ thấy hơn ở người già so với người trẻ Cũng vì vậy tác dụng điều trị và phòng bệnh cũng đáng kể ở người già, có khi còn hơn ở người trẻ

Ví dụ luyện tập, dùng thuốc tiêu huyết khối, thuốc chẹn beta sau khi bị nhồi máu

cơ tim cũng có kết quả tốt như đối với người trẻ Việc phòng bệnh cần được coi trọng và có chỉ định rất rộng rãi Ví dụ, ai cũng biết trong loãng xương việc làm việc tăng tỉ trọng xương rất khó thực hiện nhưng đề phòng gẫy xương lại có thể làm được bằng cách hạn chế đến mức tối đa các yếu tố gây ngã, xử lý các rối loạn thăng bằng, luyện tập cho các cơ bắp được vững hơn, dinh dưỡng hợp lý, loại trừ các thuốc có hại và cải thiện môi trường sống

Tóm lại, phòng và chữa bệnh ở người già đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, không chỉ có quan tâm đơn thuần đến bộ phận bị bệnh

Những nguyên lý trên xuyên suốt trong quá trình khám, điều trị dự phòng và chăm sóc người cao tuổi

Trang 24

- Triệu chứng bệnh thường không điển hình Phản ứng của cơ thể già đối với tác nhân gây bệnh khác với cơ thể trẻ, hơn nữa lại mắc nhiều bệnh một lúc do

đó triệu chứng không còn điển hình nữa Ở tuổi già, ranh giới giữa sinh lý (quá trình lão hóa tự nhiên) với bệnh lý thường không còn rõ nữa Tiến triển bệnh không điển hình

- Tâm lý người già khác với người trẻ, có bệnh nhân tiếp xúc tốt, nhưng cũng

có người tính tình thất thường, khó tiếp xúc, ít hợp tác Trí nhớ giảm, kém minh mẫn nên trình bày triệu chứng không chính xác Có người bị trầm cảm không muốn tiếp xúc, không hợp tác thăm khám, xét nghiệm và điều trị Các loại bệnh khác với người trẻ

- Tỷ lệ các bệnh thoái hóa, ung thư, tự miễn, tai nạn do dùng thuốc tăng hơn người trẻ Có thể có nhiều bệnh mạn tính đang có trên bệnh nhân Do đó chẩn đoán phải lưu ý bệnh chính, bệnh phụ, giai đoạn, biến chứng của bệnh

Khi hỏi bệnh, tiếp xúc người bệnh phải thể hiện tinh thần yêu thương, kính trọng, thông cảm với người già Người gìa dễ tự ti, dễ mặc cảm, cần phải chú ý lắng nghe với thái độ quan tâm, không vội ngắt lời Được giải bày ý kiến cũng góp phần làm bệnh nhân yên tâm hơn Cần kiên nhẫn, tránh nổi nóng, thái độ lạnh nhạt, coi thường Cần hỏi người nhà, người cùng quen đi cùng bệnh nhân đến bệnh viện

để khai thác bệnh sử, các trường hợp này cần khám kỹ và dựa vào các xét nghiệm nhiều hơn để chẩn đoán Hỏi bệnh phải kiên nhẫn, phải khách quan

Khám bệnh: Cơ bản không khác với các đối tượng trẻ, chú ý thêm các điểm sau:

Trang 25

- Khám toàn thân và các bộ phận một cách đầy đủ, trọng tâm, tránh bỏ sót các triệu chứng, khi cần phải phối hợp với các chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác, phát hiện các bệnh kèm thường gặp ở người cao tuổi

- Đánh giá chức năng chung: Gồm xác định khả năng thực hiện các hoạt động

cơ bản hằng ngày, chủ yếu các hoạt động tự chăm sóc, cũng như những khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp hơn cho cuộc sống

- Xét nghiệm, X quang, thực hiện các thăm dò chức năng cần thiết Không

nên lạm dụng xét nghiệm trên một cơ thể đã già Ưu tiên chọn các kỹ thuật không xâm nhập, không gây chảy máu, ít gây sang chấn tâm lý

- Tổng hợp kết quả: Sau khi hỏi bệnh, thăm khám và có kết qủa xét nghiệm,

X quang, thăm dò chức năng cần tổng hợp, đánh giá, chẩn đoán và tiên lượng Tổng hợp chẩn đoán thường khó hơn bệnh nhân trẻ, vì người già thì có nhiều bệnh, bệnh lại ở nhiều giai đoạn khác nhau Quá trình lão hóa lại không đồng bộ

do đó phải cân nhắc kỹ trước khi có kết luận Có các tình huống sau:

- Đối tượng chỉ có các biểu hiện của sự thoái triển tương ứng với tuổi không đòi hỏi can thiệp gì đặc biệt

- Đối tượng có những bệnh mạn tính không cần thiết điều trị nội trú tại bệnh viện Điều trị nên kết hợp thuốc với phục hồi chức năng

- Đối tượng mắc một bệnh cấp tính trên cơ sở nhiễm nhiều bệnh mạn có sẵn, cần điều trị tại bệnh viện, săn sóc tích cực

- Đối tượng mắc một bệnh mới, ví dụ: ung thư cần điều trị kết hợp giữa các bệnh lão khoa và chuyên khoa

1.3.5 Đặc điểm bệnh lý tuổi già [7], [24], [27], [28]

1.3.5.1 Đặc điểm chung

- Già không phải là bệnh nhưng sự già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh Tuổi già làm giảm khả năng và hiệu lực các quá trình tự điều chỉnh thích nghi của cơ thể, giảm hấp thu và dự trữ các chất dinh dưỡng, rối loạn chuyển hóa, giảm sức đề kháng…

Trang 26

- Tính chất đa bệnh lý: Mắc nhiều bệnh một lúc, cần khám bệnh tỉ mỉ, toàn diện để tránh sai sót vốn thường gặp trong điều trị bệnh lão khoa

- Triệu chứng bệnh ít điển hình dễ làm sai chẩn đoán, nhất là trong điều kiện

cơ địa không thể thực hiện đầy đủ các thăm dò Tuy bệnh xuất hiện kín đáo, triệu chứng không rầm rộ nhưng bệnh ở người già ảnh hưởng đến toàn thân dẫn đến suy kiệt Ví dụ ít hơn 1/4 bệnh nhân cường giáp ở người già có các triệu chứng bướu giáp, run và mắt lồi Triệu chứng hay gặp là rung nhĩ, lẫn lộn, trầm cảm, ngất xỉu

và yếu

- Do dự trữ sinh lý bị giảm vì vậy các triệu chứng của bệnh ở người già thường xuất hiện ở các giai đoạn sớm của bệnh Ví dụ: suy tim xuất hiện ở người cường giáp vừa, ứ nước tiểu xảy ra ngay cả với tiền liệt tuyến không lớn lắm, tác dụng phụ của thuốc dễ xảy ra hơn ở người trẻ, kháng histamin có thể gây lẫn lộn, lợi tiểu có thể gây nên tiểu không tự chủ, digoxin có thể gây trầm cảm gây với cả liều thông thường

- Khả năng hồi phục bệnh ở người già: do có nhiều bệnh mạn, đã qua giai đoạn cấp nên phục hồi rất chậm Do đó ngày nằm viện thường lâu hơn, sau đó còn cần an dưỡng, điều dưỡng Song song với điều trị phải chú ý công tác phục hồi chức năng

1.3.5.2 Những bệnh thường gặp ở người có tuổi [45],[48],[55],[56],[75]

- Tim mạch: [34] thường gặp là cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch Ngoài ra còn gặp tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim tim, suy tim, huyết áp thấp, tắc nghẽn động mạch, giãn tĩnh mạch

- Bệnh hô hấp: Hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn man tính, viêm phổi, viêm phế quản cấp, mạn, giãn phế quản, lao phổi…

- Bệnh tiêu hóa: Viêm loét dạ dày tá tràng [31], viêm đại tràng mạn, táo bón, trĩ, ung thư gan, xơ gan, viêm gan mạn, sỏi mật, viêm túi mật, viêm tụy mạn…

- Bệnh thận và tiết niệu: [51] Viêm thận mạn, viêm thận bể thận mạn, sỏi tiết niệu, u xơ, ung thư tuyến tiền liệt, viêm đường tiết niệu, rối loạn nước điện giải nhất là đái không kiềm chế được

Trang 27

- Bệnh nội tiết chuyển hóa: [53] Đái tháo đường (hay có biến chứng thận), suy giáp trạng, suy sinh dục, tăng cholesterol máu, tăng acid uric máu, suy vỏ thượng thận

- Bệnh xương và khớp: [36] loãng xương, thóai khớp, viêm khớp dạng thấp, bệnh goutte [85], gãy xương các loại, hội chứng vai gáy, bệnh paget, biến dạng xương các loại

- Bệnh máu và cơ quan tạo huyết: Thiếu máu do thiếu sắt, hội chứng tăng đông máu, thiếu máu do thiếu acid folic hoặc vitamin B12, bệnh bạch cầu cấp và mạn, đa u tùy xương, ung thư hạch

- Bệnh tự miễn: Những loại có tự kháng thể kháng gamaglobulin, tự kháng thể kháng nhân, tự kháng thể đặc hiệu (kháng hồng cầu, kháng giáp, kháng niêm mạc dạ dày) Ngoài ra ở người già hay gặp tự miễn dịch tiềm tàng

- Bệnh mắt: Đục thủy tinh thể, glaucome, thoái hóa võng mạc và mạch máu,

xơ cứng tuần tiến các mạch võng mạc, teo dây thần kinh thị giác

- Bệnh tai mũi họng: Giảm thính lực (kiểu giác quan, thần kinh, chuyển hóa hoặc cơ học), rối loạn tiền đình, chảy máu cam, ung thư (xoang hàm, xoang sàng, tai, amydal, vòm mũi họng)

- Bệnh răng hàm mặt: Tổn thương ở răng, quanh răng, tổ chức niêm mạc, dưới niêm mạc và cơ, u lành, u ác tính, khoang miệng, viêm khớp thái dương - hàm

- Bệnh ngoài da: Ngứa tuổi già, dày sừng tuổi già, u tuyến mồ hôi, mụn cơm, rụng tóc, tổn thương tiền ung thư và ung thư bệnh hắc tố, ung thư biểu mô, teo niêm mạc sinh dục, nhất là nữ

- Bệnh tâm thần: Có 2 loại lớn, loạn tâm thần trước tuổi già và tâm thần tuổi già Trong loạn tâm thần trước tuổi già hay gặp bệnh Alzheimer, thể nhớ bịa, thể

mê sảng

- Bệnh thần kinh: [23] Rối loạn tuần tuần hoàn não nhiều dạng, nhiều mức

độ, u trong sọ, hội chứng ngoại thấp nhất là bệnh Parkinson, hội chứng Steele, run

tự phát, cơn động kinh, rối loạn mạch máu tiểu não, u tiểu não, bệnh tủy sống nguyên nhân mạch máu, viêm đa dây thần kinh, chèn ép dây thần kinh

Trang 28

1.3.6 Đặc điểm điều trị bệnh lý tuổi già [7], [24]

1.3.6.1 Nguyên tắc chung

Điều trị toàn diện, xác định rõ nguyên nhân để điều trị Ở người già đặc biệt chú ý vấn đề nâng đỡ cơ thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc chữa bệnh nhất là phải nuôi dưỡng tốt, hỗ trợ về tinh thần, tư tưởng

1.3.6.2 Sử dụng thuốc

Tác dụng thuốc ở người già khác người trẻ Ở người già hấp thu thuốc vào tổ chức kém hơn, tốc độ, mức độ chuyển hóa dược chất kém hơn, khả năng chống độc, bài xuất cũng kém do đó biến chứng nhiều hơn, dễ ngộ độc thuốc Vì vậy tác dụng chữa bệnh của thuốc ở người già chậm và kém hơn, tác dụng phụ hay gặp hơn, kéo dài Ngộ độc thuốc là nguyên nhân tử vong xếp hàng thứ tư sau bệnh tim, ung thư, đột quỵ [77]

Nguyên tắc dùng thuốc ở người có tuổi như sau: Nếu có thể chữa bằng cách không dùng thuốc mà bệnh có thể khỏi thì không nên dùng thuốc, dùng càng ít loại thuốc một lúc càng tốt, lựa chọn đường dùng an toàn, đơn giản, chọn liều thích hợp nhất, hiệu quả cao nhất, không gây tai biến, nhiễm độc đặc biệt cẩn thận với thuốc trợ tim, liệt thần kinh, hạ áp, nội tiết tố, các loại thuốc độc; nếu thuốc có khả năng gây độc: nên áp dụng các biện pháp hạn chế độc tính (chế độ ăn uống, ngừng thuốc tạm thời); dù thuốc không độc cũng đề phòng tai biến dị ứng, phản ứng thuốc theo từng cơ địa, dùng kéo dài phải theo dõi, kiểm tra, ghi chép, sơ kết, tổng kết từng đợt

1.3.6.3 Phẫu thuật đối với lão khoa

- Đối với mổ cấp cứu cần cân nhắc nguy hiểm do không mổ và do mổ

- Đối với mổ phiên cần chú ý 4 điểm: Kiểm tra toàn diện đánh giá tình hình sức khỏe chung; làm công tác tư tưởng giúp bệnh nhân yên tâm, hợp tác; nâng cao thể lực nhất là trước các cuộc mổ lớn; cần tiền mê tốt trước khi phẫu thuật

- Vấn đề gây mê: dự trữ các hoạt động chức năng, cơ cấu thích nghi kém hơn trẻ, ít nhất là khả năng tự điều chỉnh Thiếu máu cơ tim bất lợi lúc gây mê, giảm oxy và mất máu Người già ít nhiều có suy hô hấp nên dễ có biến chứng gây mê

Trang 29

1.3.6.4 Phục hồi chức năng ở người già

Nhằm đảm bảo hoạt động thể lực, tâm lý, tư duy, quan hệ gia đình xã hội, khả năng lao động, hoạt động nghề nghiệp Người lớn tuổi biết luyện tập phục hồi chức năng vẫn thu kết quả tốt, mà riêng thuốc men không thu được Cần bắt đầu thực hiện phục hồi chức năng càng sớm càng tốt; phải tiến hành tự giác trên cơ sở khoa học; chuẩn bị thật đầy đủ tư tưởng người bệnh đến kế hoạch thực hiện, các phương tiện cần thiết trước khi tiến hành điều trị phục hồi; kết hợp rèn luyện tự lực với tự chủ chuyên môn, từng đợt có kiểm tra, điều chỉnh, phòng tai nạn Tùy tình hình sức khỏe, bệnh tật và điều kiện để có thể thực hiện tại bệnh viện, ngoại trú, tại

cơ sở điều dưỡng, trại dưỡng lão, các câu lạc bộ người có tuổi hoặc tự rèn luyện tại nhà cho thích hợp [20]

1.3.6.5 Vệ sinh phòng bệnh ở người có tuổi [47], [62]

Ăn uống hợp lí, đảm bảo giấc ngủ, chú ý luyện tập thân thể thích hợp, vệ sinh tâm thần, rèn luyện để có tinh thần thư thái, điềm tĩnh trước cuộc sống, chuẩn bị tư tưởng trươc lúc về hưu, đã nghỉ hưu cũng nên tham gia một số việc phù hợp với sức khỏe; chú ý chống táo bón, năng tắm giặt, tránh các chất kích thích như chè đặc, cà phê, rượu, thuốc lá

1.3.7 Tình hình bệnh tật ở Việt Nam

1.3.7.1 Tình hình bệnh tật chung

Mô hình bệnh tật ở Việt Nam hiện nay là song song tồn tại hai loại bệnh, đó

là các bệnh nhiễm trùng, siêu vi trùng và ký sinh trùng (gọi chung là bệnh nhiễm trùng) vẫn chiếm tỷ lệ cao Đồng thời các bệnh không do nhiễm trùng như tăng huyết áp, ung thư, bệnh tâm thần, bệnh nghề nghiệp, các bệnh dị ứng, các tai nạn trong đời sống… Ngày càng tăng, các bệnh do thiếu dinh dưỡng, di chứng do chiến tranh và tật nguyền còn tồn tại nhiều Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm

2003, tỷ lệ mắc và tử vong của các nhóm bệnh theo ICD - 10, thì các bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất [57]

Trang 30

Bảng 1.1 Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2003)

(Thống kê của Bộ Y tế ) [57]

1 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật 15,48 17,62

3 Bệnh máu, cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch 0,42 1,14

4 Bệnh nội tiết - dinh dưỡng - chuyển hóa 1,61 1,08

5 Rối loạn tâm thần và hành vi 0,73 0,14

12 Bệnh của da và mô dưới da 1,58 0,14

13 Bệnh của hệ cơ xương khớp và mô liên kết 2,78 0,13

14 Bệnh hệ tiết niệu - sinh dục 5,35 1,43

15 Chửa đẻ và sau đẻ 11,28 0,38

16 Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh 0,81 9,77

17 Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc thể 0,27 3,30

18 Triệu chứng và các dấu hiệu bất thường phát hiện qua lâm

sàng và xét nghiệm 1,44 2,07

Trang 31

Bảng 1.2 Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2010)

(Thống kê của Bộ Y tế ) [10]

1 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật 13,66 22,13

3 Bệnh máu, cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch 0,60 0,62

4 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa 2,64 0,79

5 Rối loạn tâm thần và hành vi 0,48 0,20

12 Bệnh của da và mô dưới da 1,21 0,31

13 Bệnh của hệ cơ xương khớp và mô liên kết 1,97 0,11

14 Bệnh hệ tiết niệu - sinh dục 5,28 1,21

15 Chửa đẻ và sau đẻ 13,45 0,26

16 Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh 2,70 16,54

17 Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc thể 1,35 7,54

18 Triệu chứng và các dấu hiệu bất thường phát hiện qua

lâm sàng và xét nghiệm

1,34 1,61

Các bệnh nhiễm trùng vẫn còn là những vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng của Việt Nam Số liệu năm 1998 và năm 2003 thì tiêu chảy, sốt xuất huyết,

Trang 32

sốt rét và bệnh lao phổi vẫn thuộc nhóm 10 bệnh hay gặp nhất trong số người đi khám bệnh tại bệnh viện [57]

Trái lại, các bệnh không nhiễm trùng hiện nay đã chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nguyên nhân tử vong tại bệnh viện Năm 1998, xuất huyết não, viêm phổi, tai biến tim mạch, cao huyết áp là những nguyên nhân mắc bệnh hàng đầu và chiếm 2/3 tổng số tử vong tại bệnh viện [33]

1.3.7.2 Bệnh tật của người cao tuổi [24]

Trong số 13.392 người già được khám, các bệnh nội khoa thường gặp là:

Bệnh tai mũi hoạng: 2,09% có viêm tai giữa mạn tính; 2,38% có điếc

Bệnh thần kinh: thấy 0,22% có động kinh; 2,77% loạn thần chức năng

Trang 33

hơn một bệnh nội khoa Nếu tính cả các bệnh khác ngoài bệnh nội khoa thì trung bình mỗi cụ mắc 3,75 bệnh

- So sánh bệnh tật giữa nam và nữ: Có những bệnh nam nữ ngang nhau như bệnh tiêu hóa nói chung, có bệnh nam nhiều hơn nữ như bệnh hô hấp nói chung, có những bệnh nữ nhiều hơn nam như bệnh cơ xương khớp [24]

- Nhìn chung người cao tuổi là người mắc nhiều bệnh Sức khoẻ nói chung kém Các bệnh phần lớn thuộc loại thóai hóa, ung thư, tự miễn Ở thành phố và cán

bộ gặp loại bệnh tim mạch nhiều hơn, ở nông thôn hay gặp bệnh tiêu hóa

- So sánh giữa các vùng địa dư: Có những bệnh cao ở vùng đồng bằng như bệnh tim mạch, có những bệnh cao ở miền núi như bệnh bướu giáp

1.3.7.3 Một số bệnh nội khoa mạn tính thường gặp ở người cao tuổi

- Tăng huyết áp (THA): [35], [38], [41]

Tăng huyết áp là triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng có thể là một bệnh, bệnh tăng huyết áp, nếu không tìm thấy nguyên nhân Theo WHO người lớn bị THA khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và hoặc huyết áp tâm trương

≥ 90 mmHg trong tối thiểu 2 lần đo cách biệt Bệnh phổ biến ở người lớn hiện nay, nhất là NCT, là nguyên nhân hàng đầu của bệnh suất và tử vong với các biến chứng nặng như TBMMN, bệnh động mạch vành, suy tim, suy thận mạn… Ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trong nhân dân chiếm 15 - 20% ở người lớn Ở Mỹ là 6 - 8%, Ở Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp chung là 11,8% (Bộ Y

tế Việt Nam, 1989) Tỷ lệ này gia tăng đáng quan tâm và trở thành vấn đề sức khỏe của toàn cầu

- Tai biến mạch máu não [17], [20]

Đây là bệnh phổ biến trong 10 bệnh phổ biến nhất hiện nay là một thách thức

y học, một vấn đề thời sự cấp bách TBMMN là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ

ba sau bệnh ung thư và tim mạch, tỷ lệ tử vong cao, chi phí điều trị cao Ngoài ra bệnh thường để lại di chứng nặng nề Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tai biến mạch máu não nhất là xuất huyết não

Trang 34

có thống kê toàn dân nhưng các thống kê tại bệnh viện cho thấy hầu hết bệnh nhân

bị BMV có độ tuổi 50 trở lên

- Suy tim: [18], [35]

Suy tim là trạng thái bệnh lý, trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể, lúc đầu khi gắng sức rồi về sau cả lúc nghỉ ngơi

Tại châu Âu, tần suất mắc là 0,4 - 2% Tần suất chung là khoảng 1 - 3% dân

số trên thế giới và trên 5% nếu tuổi trên 75 Ở Mỹ có khoảng 18 triệu người - 7% dân số bị bệnh tim và hơn một nữa trong số đó là người trên 65 tuổi [87]

Tại nước ta chư có thống kê chính xác, nhưng nếu dựa vào dân số 70 triệu người thì có đến 280.000 đến 4.000.000 người suy tim cần điều trị [20]

- Nhiễm khuẩn huyết (NKH)

Là trình trạng nhiễm khuẩn biểu hiện lâm sàng đi từ hội chứng đáp ứng viêm toàn thể (SIRD) cho đến hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (MODS) Chủ yếu do vi khuẩn gram âm gây ra Choáng nhiễm khuẫn trên lâm sàng là một cấp cứu nội khoa thực sự, cần được điều trị tại những đơn vị hồi sức cấp cứu Là một trong những nguyên nhân gây tử vong trong các đơn vị hồi sức cấp cứu, được xếp thứ 10 về nguyên nhân gây tử vong (năm 2003) [54]

Hằng năm có đến hàng trăm ngàn đợt nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn gram

âm gây ra Những bệnh nhân đang mắc bệnh chính nặng (giảm bạch cầu hạt, suy giảm miễn dịch do bệnh hoặc do thuốc) dễ bị nhiễm trùng huyết [5]

Trang 35

- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

COPD bao gồm viêm phế quản mạn và khí phế thủng Bệnh có biểu hiện ho, khạc đàm, khó thở và hay là có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Sự chẩn đoán được xác định bằng phế dung kế với sự giới hạn lưu lượng khí không hoàn toàn hồi phục COPD là nguyên nhân hàng đầu của bệnh suất và tử vong trên thế giới Thuốc lá là nguyên nhân chính gây nên COPD Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi Tỷ lệ mắc ở 12 nước khu vực châu Á Thái Bình Dương thấp nhất là 3,5% (Hồng Kông và Singapore) và cao nhất là 6,7% ở Việt Nam Tại khoa Hô hấp của Bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân nội trú điều trị

bệnh này chiếm 26% [1], [2]

- Viêm phổi mắc phải cộng đồng [4]

Là bệnh thường gặp và nặng, mặc dù đã có những thuốc kháng sinh mới mạnh

và vaccin có hiệu quả Ở Mỹ viêm phổi mắc phải cộng đồng là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 6 và là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong số bệnh nhiễm trùng nhất là NCT [70] Bệnh gia tăng ở bệnh nhân lớn tuổi và những bệnh nhân có kèm

bệnh mạn tính như COPD, ĐTĐ, suy tim sung huyết, suy thận, bệnh gan mạn…

Bệnh được chẩn đoán dựa vào hội chứng nhiễm trùng, triệu chứng hô hấp (ho, khó thở, khạc đàm, có ran nổ) Ở bệnh nhân lớn tuổi hay bị suy giảm miễn dịch thì triệu chứng không phải là dấu hô hấp mà lại bị lơ mơ, bệnh mạn tính bên dưới xấu đi, không sốt nhưng thở nhanh thường gặp và kèm theo một bất thường về khám

lồng ngực kết hợp với phim X quang lồng ngực để chẩn đoán và phân biệt

- Ung thƣ:

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Mỹ, chiếm gần 25% số tử vong trong năm 1990 Hàng năm ở Mỹ có 1,2 triệu ca ung thư mới và 500.000 ca tử vong [55] Mặc dù nguyên nhân cuả hầu hết ung thư vẫn còn chưa

rõ, nhưng những nghiên cứu gần đây đã có những bước tiến đáng kể trong việc tìm hiểu cơ sở phân tử của các tăng sinh ác tính của tế bào Những đột biến trong các

Trang 36

chuỗi AND dẫn đến sự khuyếch đại hay kích thích “các gen ung thư” hay sự mất

đi của “gen ức chế khối u” hoặc cả hai quá trình trên đều liên quan đến sự tăng trưởng bất thường và biến đổi ác tính Phần lớn các trường hợp ung thư ở người lớn đều cho là sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường và gia tăng theo tuổi Các loại ung thư hay gặp nhất là ưng thư tiền liệt tuyến, ung thư vú ở nữ, phổi, đại trực tràng, cổ và thân tử cung, bàng quang, gan,

dạ dày, thận, buồng trứng, u lympho

- Đái tháo đường (ĐTĐ)

ĐTĐ là bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay Ở Việt Nam, tình hình mắc bệnh ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn Theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, năm 2006, tỷ lệ ĐTĐ của cả nước là 2,7%, ở khu vực thành phố là 4,4%, đồng bằng 2,7%, trung du 2,2%, miền núi 2,1% [6] Có đến 65% những bệnh nhân ĐTĐ thuộc lứa tuổi 60 trở lên, 8 lần nhiều hơn những người dưới

40 tuổi [32] Ở Mỹ có ít nhất 7 - 10% người cao tuổi bị đái tháo đường [86]

- Viêm gan mạn, xơ gan

Viêm gan mạn, xơ gan là các bệnh mạn tính ở hệ tiêu hóa, không hồi phục,

tiến triển xấu, có nhiều biến chứng và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe bệnh nhân Tình trạng suy dưỡng dần, giảm sức đề kháng ở các bệnh nhân viêm gan mạn, xơ

gan là các yếu tố thuận lợi để mắc các bệnh nhiễm trùng, nhất là ở người cao tuổi

Người cao tuổi có các bệnh như viêm gan mạn, xơ gan rất dễ bị tai biến với nhiều

loại thuốc được chuyển hóa, thải trừ do gan [52]

- Suy thận mạn

Chức năng thận thường suy giảm dần trong quá trình lão hóa Ở thận người già thường quan sát thấy một số mức độ về xơ thận kết hợp với giảm sút lưu lượng tưới máu Tăng huyết áp thúc đẩy nhanh cả hai quá trình trên [46]

Những biểu hiện của sự lão hóa ở thận xuất hiện sớm Về phương diện chức năng, mức lọc cầu thận giảm dần, cuối cùng chỉ còn 50 - 60% so với lúc trẻ Cùng

Trang 37

với những biến đổi này, nếu có sự thay đổi đột xuất trong điều kiện sống, hiện

tượng giảm thiểu hoạt động của thận dễ biến thành suy thận ở người cao tuổi [29]

Bệnh lý của thận ảnh hưởng và làm rối loạn chức năng nhiều cơ quan khác Bệnh

lý mạn tính của thận cũng gây ra tình trạng suy sụp chung cho toàn thân [16] Thận

là cơ quan thải trừ các chất cặn bã, chất chuyển hóa của các loại thuốc nên khi bị

suy thận thì ở người già rất dễ bị ngộ độc, các tác dụng phụ của thuốc nên khi dùng thuốc phải thật cẩn trọng

1.3.8 Một số nghiên cứu về tỷ lệ bệnh phối hợp (bệnh kèm)

- Nghiên cứu của Chang Yueng và cộng sự (2002) [79] tỷ lệ bệnh phổi hợp với lao phổi ở người cao tuổi: đái tháo đường 44,4%, bệnh phế quản phổi 14,1%

- Nghiên cứu của Huỳnh Định Nghĩa (2009) [39] người cao tuổi lao phổi có bệnh nội khoa khác đi kèm chiếm 60%, tỷ lệ các bệnh phối hợp như sau: bệnh phế quản phổi 20%, bệnh đái tháo đường 15%, bệnh loét dạ dày tá tràng 5%, bệnh viêm gan 6,7%, bệnh tăng huyết áp 10%, bệnh suy thận 3,3%

- Nghiên cứu của Lê Ngọc Dụng (2010) [15] nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lao phổi ở người cao tuổi có bệnh nội khoa khác đi kèm thấy người cao tuổi chiếm 37,83% Giới nam chiếm 64,96% (102/157), nữ chiếm 35,04% (55/157) Nông thôn chiếm 76,43% (120/157), thành thị chiếm 23,57% (37/157)

Có 164 bệnh nội khoa mạn tính đi kèm trên 157 người cao tuổi lao phổi vào viện chiếm 66,87% Trong đó nhóm 60 - 74 tuổi chiếm 57,96%, ≥ 75 tuổi chiếm 42,04% Bình quân mỗi người cao tuổi lao phổi có 1,04 bệnh nội khoa khác đi kèm Tính cả bệnh lao mỗi người cao tuổi lao phổi có 2,04 bệnh

1.4 GIỚI THIỆU SƠ BỘ VỀ NƠI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Bệnh viện Trung ƣơng Huế

Bệnh viện Trung ương Huế được thành lập năm 1894, là bệnh viện hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế là một trong 3 bệnh viện đa khoa trung ương lớn nhất nước,

có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung và Tây nguyên Đồng thời là cơ sở thực hành chính của Trường Đại học Y

Trang 38

Dược Huế, Trường Cao đẳng Y tế Thừa Thiên Huế… trong công tác đào tạo cán

bộ y tế từ trung cấp cho đến bác sĩ, thạc sĩ, CKI, CKII, tiến sĩ của miền Trung Bệnh viện Trung ương Huế còn là một trong ba trung tâm đào tạo thực hành của ngành Y tế, được Bộ Y tế chính thức phê duyệt ngày 6/9/2006

Hiện Bệnh viện TW Huế có 1400 giường kế hoạch, 45 khoa lâm sàng, 10 phòng chức năng và 4 trung tâm: Trung tâm Huyết học truyền máu khu vực, Trung tâm Tim mạch, Trung tâm đào tạo và Trung tâm Ung bướu Bệnh viện có đầy đủ các chuyên khoa được trang bị máy móc hiện đại, các lĩnh vực mũi nhọn chuyên sâu Bệnh viện có đội ngũ cán bộ có trình độ cao gồm: Giáo sư và Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ CK2, Bác sĩ CKI, thạc sĩ, bác sĩ Hầu hết cán bộ đều được tu nghiệp một hoặc nhiều lần tại các nước có nền y học tiên tiến

Bệnh viện đã triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu như phát triển lĩnh vực tim mạch kỹ thuật cao, ghép tạng, thụ tinh nhân tạo, điều trị ung thư, thận nhân tạo… Bệnh viện đã phát triển các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, nội soi can thiệp và phẫu thuật nội soi, phát triển các kỹ thuật xét nghiệm hiện đại giúp các khoa lâm sàng chẩn đoán đúng, điều trị đúng nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, hạn chế đến mức thấp nhất tai biến và tử vong

1.4.2 Các khoa liên quan trong nghiên cứu này

1.4.2.1 Khoa Nội tổng hợp - Lão khoa

Là khoa lâm sàng, đối tượng phục vụ là bệnh nhân cán bộ, BHYT, bệnh nhân cao tuổi, đảm nhận điều trị nội khoa tổng hợp và các bệnh của người cao tuổi Năm 2009 tiếp nhận và điều trị cho 1950 bệnh nhân, trong đó có 852 bệnh nhân cao tuổi Số ngày điều trị trung bình là 16,4 ngày

1.4.2.2 Khoa Nội tim mạch

Điều trị bệnh nhân nội khoa tim mạch (mỗi tuần lưu lượng vào ra từ 60 -70 bệnh nhân), khám ngoại trú tim mạch (mỗi tuần có từ 200 - 400 bệnh nhân), thực hiện các thăm dó chức năng (SA tim, ECG khi nghỉ ngơi và gắng sức, Holter ECG) Khoa có đủ các phương tiện để chẩn đoán, điều trị như: máy sock điện,

Trang 39

monitoring, máy đo ECG, siêu âm tim, trắc nghiệm gắng sức, Holter ECG Năm

2009 có 4406 bệnh nhân điều trị nội trú

1.4.2.3 Khoa Hồi sức cấp cứu

Tiếp nhận và điều trị tất cả bệnh nhân nặng cần hồi sức - cấp cứu của toàn bệnh viện Có 30 giường kế hoạch (thực kê 50 - 60 giường) Năm 2009 có 2866 bệnh nhân các độ tuổi Cơ sở khang trang, có đủ thiết bị phục vụ cho công tác hồi sức cấp cứu

Các khoa trên có đội ngũ cán bộ có trình độ cao, tâm huyết, nhiều kinh nghiệm cùng với những phương tiện chẩn đoán cận lâm sàng kỹ thuật cao của Bệnh viện giúp cho chẩn đoán bệnh chính xác, phát hiện đúng các bệnh kèm theo, chăm sóc điều dưỡng tốt nhằm nâng cao chất lượng khám và điều trị Đây là yếu tố quan trọng, tiên quyết giúp cho các số liệu trong luận án này có độ tin cậy cao

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng

2.1.1.1 Khoa nghiên cứu

Thực hiện tại 3 khoa: Khoa Nội tổng hợp - Lão khoa, khoa Nội tim mạch, khoa Hồi sức cấp cứu BVTW Huế

2.1.1.2 Đối tượng

Gồm toàn bộ bệnh nhân cao tuổi vào điều trị nội trú các bệnh nội khoa tại các khoa trên, tiến hành nghiên cứu trong 1 năm, từ ngày 1/3/2010 đến ngày 28/2/2011 + Xác định người cao tuổi: Người cao tuổi Việt Nam là công dân Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên [43]

+ Cùng một bệnh nhân nhưng vào viện nhiều lần trong đợt nghiên cứu xem như mỗi lần là một bệnh nhân mới và vẫn được thống kê như một đối tượng nghiên cứu

+ Bệnh nhân điều trị các bệnh được chẩn đoán phải có trong bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 theo khuyến cáo của WHO

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bệnh được chẩn đoán mà bệnh đó không có trong bảng phân loại quốc

tế về bệnh tật lần thứ 10 theo khuyến cáo của WHO, sẽ không được thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài này

- Các trường hợp chuyển khoa để điều trị, không trở lại khoa và do khoa mới điều trị và cho xuất viện thì không thuộc đối tượng của nghiên cứu này

- Bệnh nhân là người nước ngoài

Ngày đăng: 24/07/2014, 04:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Bàng, Trần Mẫn, Phan Thị Hồng Diệp (2008), “Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” Bệnh học nội khoa, tập 1, NXB Y học Hà Nội, tr. 315-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” "Bệnh học nội khoa
Tác giả: Lê Văn Bàng, Trần Mẫn, Phan Thị Hồng Diệp
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2008
2. Lê Văn Bàng (2009), “Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”, Giáo trình sau đại học Hô hấp học, NXB Đại học Huế, tr. 92-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”, "Giáo trình sau đại học Hô hấp học
Tác giả: Lê Văn Bàng
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2009
3. Lê Văn Bàng (2009), “Hen phế quản”, Giáo trình sau đại học Hô hấp học, NXB Đại học Huế, tr. 36-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hen phế quản”, "Giáo trình sau đại học Hô hấp học
Tác giả: Lê Văn Bàng
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2009
4. Lê Văn Bàng (2009), “Viêm phổi mắc phải cộng đồng”, Giáo trình sau đại học Hô hấp học, NXB Đại học Huế, tr. 186-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm phổi mắc phải cộng đồng”, "Giáo trình sau đại học Hô hấp học
Tác giả: Lê Văn Bàng
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2009
5. Nguyễn Văn Bàng (dịch từ tác giả Bs Henry) (2002), “Các bệnh nhiễm khuẩn”, Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại, tập 2, NXB Y học Hà Nội, tr. 1132-1135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh nhiễm khuẩn”", Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Bàng (dịch từ tác giả Bs Henry)
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2002
6. Tạ Văn Bình (2006), Dịch tễ học đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị và dự phòng, NXB Y học Hà nội, tr. 59, 253, 323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị và dự phòng
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: NXB Y học Hà nội
Năm: 2006
7. Bộ Y tế - Viện bảo vệ sức khỏe người có tuổi ( 1993), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Lão khoa cơ bản, Tài liệu kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Viện bảo vệ sức khỏe người có tuổi Hà Nội, tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Lão khoa cơ bản
8. Bộ Y tế (1998), Phân loại quốc tế bệnh tật lần X, Phòng thống kê tin học vụ Kế hoạch Hà Nội, tr. 3-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại quốc tế bệnh tật lần X
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1998
9. Bộ Y tế (1997), Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10, Hà Nội, tr. 24 - 108 10. Bộ Y tế (2010), Thống kê tình hình bệnh tật và tử vong theo ICD 10 năm 2010,tr. 1 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10
Tác giả: Bộ Y tế (1997), Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10, Hà Nội, tr. 24 - 108 10. Bộ Y tế
Năm: 2010
12. Trần Hữu Dàng (2007), “Đái tháo đường”, Bài giảng Bệnh học nội khoa tập II, NXB Y học, Hà nội, tr. 152-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường”, "Bài giảng Bệnh học nội khoa tập II
Tác giả: Trần Hữu Dàng
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
14. Trần Hữu Dàng, Nguyễn Hải Thủy (2008), “Đái tháo đường”, Giáo trình sau đại học chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa, NXB Đại học Huế, tr. 221-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường”, "Giáo trình sau đại học chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa
Tác giả: Trần Hữu Dàng, Nguyễn Hải Thủy
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2008
15. Lê Ngọc Dụng (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lao phổi ở người cao tuổi có bệnh nội khoa khác đi kèm, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược Huế, tr. 19-26, 41-43, 61-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lao phổi ở người cao tuổi có bệnh nội khoa khác đi kèm
Tác giả: Lê Ngọc Dụng
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Vinh Hà (2006), “Sinh lý bệnh chức năng thận”, Sinh lý bệnh - Miễn dịch, NXB Y học Hà Nội, tr. 105-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bệnh chức năng thận”, "Sinh lý bệnh - Miễn dịch
Tác giả: Nguyễn Thị Vinh Hà
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2006
17. Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia (2007), Tai biến mạch máu não, hướng dẫn chẩn đoán và xử lý, Nxb Y học Hà Nội, tr. 19-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai biến mạch máu não, hướng dẫn chẩn đoán và xử lý
Tác giả: Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2007
18. Châu Ngọc Hoa, Đặng Văn Phước (2000), “Dịch tễ học suy tim”, Suy tim trong thực hành lâm sàng, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học suy tim”, "Suy tim trong thực hành lâm sàng
Tác giả: Châu Ngọc Hoa, Đặng Văn Phước
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
19. Hội người cao tuổi Việt Nam (2007), Tài liệu tập huấn cán bộ hội, Hà Nội, tr. 45-46, 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn cán bộ hội
Tác giả: Hội người cao tuổi Việt Nam
Năm: 2007
20. Hội tim mạch học Việt Nam (2008), Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, NXB Y học, tr. 1, 235-245, 329-335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa
Tác giả: Hội tim mạch học Việt Nam
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
21. Phạm Gia Khải và các thành viên (2006), “Khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính”, Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010, Nxb Y học chi nhánh Hồ chí Minh, tr. 87-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính”, "Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Phạm Gia Khải và các thành viên
Nhà XB: Nxb Y học chi nhánh Hồ chí Minh
Năm: 2006
22. Hoàng Khánh (2008), “Động kinh, hôn mê, sa sút trí tuệ” Giáo trình sau đại học Thần kinh học, Nxb Đại học Huế, tr. 122-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động kinh, hôn mê, sa sút trí tuệ” "Giáo trình sau đại học Thần kinh học
Tác giả: Hoàng Khánh
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2008
23. Hoàng Khánh (2007), “Đau thần kinh toạ”, Giáo trình Nội thần kinh, Nxb Đại học Huế, tr. 136 -142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đau thần kinh toạ”, "Giáo trình Nội thần kinh
Tác giả: Hoàng Khánh
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2003) - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2003) (Trang 30)
Bảng 1.2. Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2010) - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 1.2. Tỷ lệ mắc và tử vong theo ICD - 10 (năm 2010) (Trang 31)
2.1.3. Sơ đồ nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
2.1.3. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.1. Tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi trên tổng số bệnh nhân chung  Khoa điều trị  Số bệnh nhân - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.1. Tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi trên tổng số bệnh nhân chung Khoa điều trị Số bệnh nhân (Trang 51)
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo giới và nhóm tuổi - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo giới và nhóm tuổi (Trang 52)
Bảng 3.5. Đối tượng chi trả viện phí - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.5. Đối tượng chi trả viện phí (Trang 53)
Bảng 3.7. Mười chương bệnh thường gặp nhất - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.7. Mười chương bệnh thường gặp nhất (Trang 55)
Bảng 3.9. Mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.9. Mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi (Trang 60)
Bảng 3.10. Mười bệnh thường gặp nhất phân theo nhóm tuổi - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.10. Mười bệnh thường gặp nhất phân theo nhóm tuổi (Trang 61)
Bảng 3.11. Phân bố mười bệnh thường gặp nhất theo giới tính  Thứ - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.11. Phân bố mười bệnh thường gặp nhất theo giới tính Thứ (Trang 63)
Bảng 3.12. Mười bệnh thường gặp theo vùng địa dư  Thứ - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.12. Mười bệnh thường gặp theo vùng địa dư Thứ (Trang 64)
Bảng 3.14. Số bệnh trung bình cho một bệnh nhân - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.14. Số bệnh trung bình cho một bệnh nhân (Trang 66)
Bảng 3.18. Phân bố bệnh chính theo chương bệnh và theo mùa  Tên chương - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.18. Phân bố bệnh chính theo chương bệnh và theo mùa Tên chương (Trang 67)
Bảng 3.15. Số bệnh nhân CBK và KCBK phân bố theo giới tính - Nghiên cứu tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện trung ương huế
Bảng 3.15. Số bệnh nhân CBK và KCBK phân bố theo giới tính (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w