Vài vét về các tổ chức của VNGO hoạt động tại Việt Nam
Trang 1Báo cáo tóm tắt
VÀI NÉT VỀ CÁC TỔ CHỨC VNGO HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Hà Nội tháng 10 năm 2008
Trang 23.3 Lĩnh vực hoạt động chuyên môn của các VNGO 10
3.4 Hình thức hoạt động của VNGO 11
3.5 Các phương pháp triển khai dự án 13
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Giới của nhân viên các tổ chức phi chính phủ, tính theo
Bảng 9: Loại thông tin cho là cần thiết được chia sẻ 15
Bảng 11: Hình thức hoạt động mạng lưới được cho là hiệu quả 19
Bảng 12: Nhu cầu tập huấn của các tổ chức tham gia trả lời phỏng
Bảng 13: Các khó khăn VNGO gặp phải 22
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2: Trình độ của nhân viên VNGO tách theo giới 8
Biểu đồ 4: Tuổi của nhân viên VNGO tách theo giới 9
Biểu đồ 5: Tuổi của giám đốc 10
Biểu đồ 7: Số nguồn thu khác nhau của các tổ chức tham gia nghiên cứu 14
Biểu đồ 8: Đánh giá hiệu quả hoạt động mạng lưới 18
Trang 5Lời nói đầu
Báo cáo này dựa trên kết quả phỏng vấn 51 tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGO) hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông thôn Việc thu thập thông tin do nhóm cán bộ của dự án ENABLE thuộc tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp tiến hành Phần phân tích thông tin và viết báo cáo do Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) thực hiện Tuy nhiên, mọi phân tích và ý kiến trong báo cáo này phản ánh quan điểm cá nhân của nhóm tác giả chứ không phải của tổ chức CARE quốc tế, VUSTA hoặc iSEE
Chúng tôi xin chân thành cám ơn nhóm cán bộ của dự án ENABLE đã cung cấp thông tin và hỗ trợ cho chúng tôi trong suốt quá trình phân tích và viết báo cáo Nếu không
có sự hợp tác của họ chắc chắn báo cáo này sẽ không được thực hiện Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã góp ý để chúng tôi có thể hoàn thành báo cáo này
Vì báo cáo chỉ dựa trên kết quả phỏng vấn một nhóm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông thôn nên không thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng VNGO ở Việt Nam Bên cạnh đó, do còn nhiều hạn chế trong suốt quá trình nghiên cứu nên báo cáo chắc chắn còn nhiều thiếu xót Mọi góp ý và nhận xét xin được gửi về cho nhóm tác giả theo địa chỉ lqbinh@isee.org.vn Xin chân thành cảm ơn
Nhóm tác giả:
Lê Quang Bình
Lê Nguyễn Thu Thuỷ Nguyễn Văn Tùng
Trang 61 Giới thiệu chung
Dự án Nâng cao Hiệu quả Hợp tác và Học hỏi của các Tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam (ENABLE) được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức phi chính phủ
Việt Nam (VNGO) về nâng cao năng lực phát triển và quản lý dự án thông qua việc tạo
cơ hội cho các tổ chức này tiếp cận tốt hơn với các nguồn thông tin, tham gia các khóa đào tạo nâng cao năng lực phù hợp, cải thiện cơ chế hoạt động phối hợp giữa các tổ chức cũng như tham gia đóng góp ý kiến về chính sách Dự án ENABLE được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp thực hiện
Để tiến hành thu thập các thông tin cơ bản phục vụ cho việc xác định các nhu cầu và
ưu tiên của các VNGO, ban quản lý Dự án đã tiến hành khảo sát, đánh giá nhu cầu nâng cao năng lực của 51 VNGO vào tháng Bảy và tháng Tám năm 2007 VNGO được chọn thuộc hai nhóm đối tượng là Liên hiệp hội các tỉnh/thành phố và các tổ chức phi chính phủ Việt Nam thuộc và không thuộc VUSTA
Mục đích của ENABLE khi tiến hành nghiên cứu là để tìm hiểu nhu cầu nâng cao năng lực, nhu cầu hợp tác giữa các tổ chức VNGO thông qua các hình thức chia sẻ thông tin, hoạt động nhóm/ mạng lưới Tuy nhiên, trong bảng hỏi có nhiều thông tin hữu ích vì vậy Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) đã hợp tác với dự
án ENABLE phân tích nhằm cung cấp thêm một số hiểu biết về các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam Cần lưu ý rằng mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm các tổ chức hoạt động
về phát triển nông thôn, sinh kế, nông lâm nghiệp và an toàn lương thực Vì vậy kết quả nghiên cứu chỉ đại diện cho một nhóm các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
2 Phương pháp nghiên cứu
Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin từ các tổ chức Các giám đốc được phỏng vấn trực tiếp bởi nhân viên dự án ENABLE hoặc gián tiếp thông qua việc tự điền vào bảng hỏi rồi gửi về dự án qua đường email Cụ thể nghiên cứu đã phỏng vấn
16 VNGO trong hệ thống VUSTA và 35 VNGO ngoài hệ thống VUSTA Nếu phân theo địa bàn thì có 38 tổ chức ở Hà Nội và 13 tổ chức có trụ sở đặt tại 5 tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Thanh Hóa Danh mục các tổ chức tham gia nghiên cứu được đính kèm trong phụ lục 1
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Nhân lực của VNGO
Các VNGO tham gia nghiên cứu nhìn chung có quy mô nhỏ, trung bình mỗi tổ chức
có 8,35 nhân viên Tổ chức có số nhân viên nhiều nhất là 22 (Trung tâm công nghệ sinh học Thanh Hoá) và có ba tổ chức chỉ có 3 người là Trung tâm tư vấn pháp luật, Trung tâm thông tin KHCN và dịch thuật Thanh Hoá, và PUSTA Thái Nguyên Tuy
số nhân viên ít nhưng không phải tất cả họ đều làm toàn thời gian Theo kết quả điều tra, chỉ có khoảng 76% nhân viên làm toàn thời gian, còn lại 24% là làm bán thời gian Tỉ lệ nhân viên làm toàn thời gian của các tổ chức ở Hà Nội cao hơn ( 85%) so với các tổ chức không có văn phòng ở Hà Nội (57%)
Trang 7Trung bình, số nhân viên nam chiếm 55% và nữ là 45% Các tổ chức đóng văn phòng
ở Hà Nội có số nhân viên nữ nhiều hơn nhân viên nam, tương ứng là 53% và 47% Ngược lại, các tổ chức không phải ở Hà Nội có số nhân viên nam cao hơn nhiều và chiếm tới 64% tổng số nhân viên Nếu tính theo tuổi của tổ chức thì những tổ chức còn trẻ (1-5 tuổi) có tỉ lệ nhân viên nữ cao hơn hẳn nhân viên nam Ngược lại, những
tổ chức có tuổi đời cao hơn thì tỉ lệ nhân viên nữ lại ít hơn như trình bày ở bảng dưới đây
Bảng 1: Giới của nhân viên các tổ chức phi chính phủ, tính theo tuổi tổ chức
tế (10%), luật (10%) và xã hội học (7%) Có lẽ do đây là các tổ chức làm về vấn đề nông nghiệp, phát triển cộng đồng và an ninh lương thực nên số nhân viên học về nông nghiệp khá lớn
Nhân viên của VNGO có trình độ khá cao như được trình bày trong biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 1: trình độ của nhân viên VNGO
Trang 8Theo kết quả nghiên cứu, 62% nhân viên có bằng đại học và 33% nhân viên có trình
độ sau đại học Hầu như không có sự khác biệt về trình độ của nhân viên giữa các tổ chức ở Hà Nội và tổ chức ở các tỉnh nghiên cứu Nếu tách theo giới, tỉ lệ nhân viên nam có trình độ sau đại học cao hơn hẳn nhân viên nữ như biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 2: Trình độ của nhân viên VNGO tách theo giới
Điều này cũng tương tự cho độ tuổi của tổ chức Khi tổ chức càng tồn tại lâu thì tỉ lệ nhân viên có bằng sau đại học càng cao như được trình bày ở bảng 2 dưới đây
Bảng 2: Trình độ nhân viên VNGO tách theo tuổi tổ chức
Tuổi của tổ chức
Tuổi từ 1 đến
5
Tuổi từ 6 đến 10
Tuổi từ 11 đến 15 Tuổi trên 16
Trình độ
Tần suất
Phần trăm
Tần suất
Phần trăm
Tần suất
Phần trăm
Tần suất
Phần trăm Trung cấp
độ tuổi lao động sung sức hoặc còn rất trẻ Một điều đáng lưu ý là độ tuổi trung bình
Trang 9của nhân viên nữ thấp hơn độ tuổi trung bình của nhân viên nam như trình bày ở biều
đồ 4 Có thể yếu tố tuổi cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ có trình độ sau đại học của nhân viên nữ Tuy nhiên, điều này không kiểm chứng được mà chỉ là một suy đoán của nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3: Tuổi của nhân viên VNGO
Biểu đồ 4: Tuổi của nhân viên VNGO tách theo giới
3.2 Giám đốc của VNGO
Trong 30 mẫu trả lời, 60% giám đốc là nam và 40% là nữ Tỉ lệ giám đốc là nam và
nữ là bằng nhau cho các tổ chức ở Hà Nội trong khi đó chỉ có 25% giám đốc của các
tổ chức không ở Hà Nội là nữ Chuyên môn của 30 giám đốc trả lời bảng hỏi cũng rất
Trang 10đa dạng và có tổng cộng 14 chuyên ngành, trong đó nông nghiệp và kinh tế chiếm nhiều nhất, tương ứng là 27% và 14% Không có giám đốc nào có bằng quản trị, quản
lý hoặc tương đương Theo nghiên cứu, 59% giám đốc có bằng sau đại học, 37% có bằng đại học và 4% có bằng trung cấp Không có sự khác biệt về tuổi giữa giám đốc
là nam và giám đốc là nữ Tuy nhiên các giám đốc trẻ thường làm cho tổ chức có tuổi đời trẻ hơn
Biểu đồ 5: Tuổi của giám đốc
Như trình bày ở biều đồ 5, chỉ có 21% giám đốc có độ tuổi lớn hơn 60 Điều này một lần nữa khẳng định VNGO không phải là do cán bộ về hưu thành lập lên
3.3 Lĩnh vực hoạt động chuyên môn của các VNGO
Trung bình một tổ chức hoạt động trong 5,7 lĩnh vực khác nhau Theo kết quả điều tra, 37 tổ chức có từ 1 đến 5 lĩnh vực hoạt động, 8 tổ chức tham gia vào 6 đến 10 lĩnh vực hoạt động và 6 tổ chức có từ 11 lĩnh vực hoạt động trở lên 100% các tổ chức không ở Hà nội có số lĩnh vực hoạt động từ 1 đến 5 – rõ ràng là tập trung hơn so với các tổ chức ở Hà Nội Khi xem xét quy mô của các tổ chức, trong tổng số 19 tổ chức
có số nhân viên từ 3 đến 9 người, số lĩnh vực hoạt động trung bình là 5,7 Điều này chứng tỏ các tổ chức này tuy nhỏ về quy mô nhưng đang dàn trải vào quá nhiều hoạt động chuyên môn khác nhau
Rõ ràng, một tổ chức mà hoạt động từ sáu lĩnh vực trở lên có thể gặp khá nhiều khó khăn về năng lực kỹ thuật cũng như quản lý, đặc biệt khi họ chỉ có quy mô nhỏ Có
lẽ, chính việc không ổn định về kinh phí phải chạy theo các nguồn tài trợ khác nhau là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng dàn trải về lĩnh vực hoạt động Bên cạnh đó, việc thiếu một chiến lược rõ ràng để định hướng hoạt động cũng như tìm kiếm đối tác và các nhà tài trợ đã góp phần vào việc phân tán này
Trang 11Bảng 3: lĩnh vực hoạt động của các tổ chức VNGO
Theo kết quả nghiên cứu trình bày ở bảng 3, lĩnh vực có nhiều tổ chức VNGO tham
gia nhất là bảo vệ môi truờng, phát triển cộng đồng, nông lâm nghiệp và nâng cao
năng lực Tiếp đến là các hoạt động liên quan đến dân chủ cơ sở và quản trị công, hay
giới và gia đình Rất ít tổ chức tham gia vào các hoạt động liên quan đến pháp luật và
phòng chống thiên tai
3.4 Hình thức hoạt động của VNGO
Các tổ chức VNGO cũng khá đa dạng trong hình thức hoạt động, từ nghiên cứu đến tư
vấn, đào tạo đến thực hiện dự án phát triển cộng đồng Các hình thức hoạt động và số
hình thức hoạt động được trình bày ở bảng 4 và biểu đồ 6 dưới đây
Trang 12Bảng 4: Hình thức hoạt động của VNGO
Theo kết quả nghiên cứu, khá nhiều VNGO đi làm nghiên cứu và tư vấn cho các tổ
chức INGO và các nhà tài trợ quốc tế Đây cũng là một trong các hoạt động tạo nguồn
thu cho các VNGO Nguồn thu này giúp họ có thêm kinh phí cho hoạt động của dự án
cũng như chi trả các chi phí của văn phòng, thường là không đủ từ các nguồn tài trợ
khác Nếu các hoạt động tư vấn này phù hợp với chuyên môn và chiến lược của tổ
chức thì bên cạnh việc tạo nguồn tài chính chủ động nó còn có ích cho hoạt động của
tổ chức Ngược lại, nếu không được quản lý tốt các hợp đồng tư vấn rất có thể làm
ảnh hưởng đển công việc chính của họ do nguồn lực bị phân tán
Trang 133.5 Các phương pháp triển khai dự án
Các tổ chức VNGO áp dụng các phương pháp triển khai dự án khác nhau nhưng phổ
biến nhất vẫn là phương pháp PRA Điều thú vị là có tới 52% tổ chức trả lời là có áp
dụng phương pháp tiếp cận theo quyền và 64% tổ chức có lồng ghép giới trong hoạt
động của họ Nếu tách theo địa bàn tổ chức thì có 56% và 76% tổ chức ở Hà Nội áp
dụng phương pháp tiếp cận theo quyền và lồng ghép giới; trong khi đó tỉ lệ này ở các
tổ chức không ở Hà Nội chỉ là 40% và 20%
Bảng 5: Tỉ lệ áp dụng các phương pháp khác nhau
Đánh giá nông thôn có sự tham gia 33 75%
Lập kế hoạch và phát triển thôn bản 23 52%
Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu không đánh giá được mức độ áp dụng các phương pháp
này đến đâu trong công việc của các VNGO Mức độ có thể giao động từ việc giới
thiệu các khái niệm trong tài liệu dự án đến lồng ghép vào hoạt động trên thực địa
Bên cạnh đó, các khái niệm có thể được hiểu khác nhau giữa các tổ chức khác nhau
nên cần cẩn trọng khi xem xét kết quả này
3.6 Nguồn tài chính
Tài chính là một trong những vấn đề hay được nhắc đến nhất trong các trở ngại mà
VNGO gặp phải Theo kết quả nghiên cứu, 79% tổ chức được hỏi có nguồn tài trợ từ
các dự án và tổ chức nước ngoài Tiếp đến là từ các chương trình của nhà nước (36%)
và dịch vụ nghiên cứu và đào tạo (31% và 27%) Tuy nhiên, tỉ lệ này là khác nhau
giữa các tổ chức ở Hà Nội và các tổ chức không ở Hà Nội như được trình bày ở bảng
6 dưới đây
Bảng 6: Nguồn thu của các tổ chức VNGO tách theo địa bàn
Địa bàn Nguồn thu
Hà Nội Không ở HN
Từ các chương trình, dự án của nhà nước 32% 45%
Trang 14Điều đáng lưu ý là sự đa dạng trong nguồn thu của các tổ chức tương đối thấp Ví dụ
có đến 45% tổ chức chỉ có một loại nguồn thu duy nhất, 26% có hai loại nguồn thu, 21% có ba loại nguồn thu và 7% còn lại có 4 loại nguồn thu như trình bày ở biểu đồ 7 dưới đây
Biểu đồ 7: Số nguồn thu khác nhau của các tổ chức tham gia nghiên cứu
Đáng tiếc là cuộc điều tra này không có được thông tin về tổng ngân sách và thu nhập
từ từng nguồn cụ thể Chính vì vậy không đánh giá được mức độ bền vững và độc lập
về tài chính của các VNGO tham gia nghiên cứu này
3.7 Hoạt động thông tin
Thông tin được các tổ chức VNGO khá chú trọng và khoảng 50% tổ chức có cán bộ thông tin hoặc cán bộ làm công tác lưu trữ thư viện Trong số 49 tổ chức trả lời thì có
39 tổ chức (71%) có ấn phẩm in và điện tử Tỉ lệ này cao hơn ở các tổ chức ở Hà Nội (79%) so với các tổ chức không ở Hà Nội (54%) Các hoạt động thông tin nhằm phục
vụ nhiều mục đích khác nhau và được trình bày trong bảng 7 dưới đây
Bảng 7: Mục đích ẩn phẩm thông tin tách theo địa bàn
Mục đích ấn phẩm
Số tổ chức Tỉ lệ Số tổ chức Tỉ lệ
Chia sẻ thông tin với bên ngoài 20 71% 2 29%
28 tổ chức ở HN và 7 không ở HN
Trung bình có 88% số tổ chức chia sẻ thông tin với các tổ chức khác và đa phần các tổ chức đều cho rằng việc chia sẻ thông tin là cần thiết Tuy nhiên, đối tượng chia sẻ
Trang 15thông tin là khác nhau Ví dụ, việc chia sẻ thông tin với các tổ chức VNGO và INGO
là nhiều nhất, trong khi đó việc chia sẻ thông tin với chính phủ là ít nhất như được
trình bày trong bảng 8 dưới đây
Bảng 8: Đối tượng chia sẻ thông tin của các tổ chức VNGO
Địa bàn
Tổ chức chia sẻ thông tin
Hà Nội Không ở Hà Nội
Trong các loại thông tin khác nhau, các chương trình tài trợ và các nguồn tài trợ được
quan tâm nhất Bên cạnh đó tập huấn, hội thảo và các chương trình dự án của nhà
nước cũng là loại thông tin được chú ý như trình bày ở bảng 9
Bảng 9: Loại thông tin cho là cần thiết được chia sẻ
Các chương trình dự án của nhà nước 15
Thông tin pháp lý liên quan đến hoạt động của NGOs/CBOs 10
Các chương trình tập huấn trong phát triển 16
Chuyên gia tư vấn 10
Các chương trình tài trợ và các nhà tài trợ 23
Hình thức đưa tin được ưu chuộng nhất là internet và bản tin (95%), sau đó là đĩa
CD_ROM (89%) Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa các tổ chức ở Hà Nội và không ở
Hà Nội về hình thức đưa tin dùng internet – 100% tổ chức ở HN cho là phù hợp trong
khi đó chỉ có 75% tổ chức không ở HN cho là phù hợp Hình thức nhận tin ưa chuộng
nhất là email (87%), sau đó là bưu điện (72%) và cuối cùng là fax (28%)
Trang 16Đa số các tổ chức đều sẵn sàng cung cấp thông tin miễn phí hoặc trao đổi (88%) và điều này không có sự khác biệt do địa bàn tổ chức đóng Trong 42 tổ chức trả lời có
27 tổ chức có kinh phí cho hoạt động thông tin, chiếm 64% Ngân sách trung bình cho hoạt động thông tin của một tổ chức là 20.500.000 đồng/năm Tổ chức có kinh phí lớn nhất cho hoạt động thông tin phân bổ 100.000.000 đồng, tổ chức có ngân sách ít nhất
là 3.500.000 đồng
3.8 Tập huấn
Các tổ chức VNGO nhìn chung rất quan tâm đến việc nâng cao năng lực cho nhân viên, đặc biệt kiến thức về phát triển cũng như các kỹ năng triển khai dự án Theo kết quả phân tích, 59% VNGO trả lời đã từng cử cán bộ tham gia các khóa tập huấn do các cơ quan khác hoặc các dự án phát triển khác tổ chức Các nội dung tập huấn được
nhiều VNGO đề cập nhất là “Thiết kế và viết đề xuất dự án” và “Quản lý chu trình
dự án” Đồng thời, các nội dung liên quan đến quản lý và phát triển tổ chức, các kỹ
năng mềm và vấn đề giới cũng được một số VNGO nêu ra Điều này cũng phù hợp với công việc chủ yếu của cán bộ VNGO là quản lý dự án phát triển cộng đồng
Tuy nhu cầu tập huấn cho nhân viên của các VNGO rất cao nhưng nguồn ngân sách phục vụ cho việc nâng cao năng lực của nhân viên còn nhiều eo hẹp Theo kết quả điều tra, đa số các tổ chức được hỏi chỉ có khả năng đóng góp từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng Điều này hiện tại chưa ảnh hưởng đến cơ hội đi học của nhân viên VNGO vì đa số các khoá học về phát triển và các chương trình nâng cao năng lực cho khu vực xã hội dân sự đều miễn phí do được tài trợ bởi các dự án Tuy nhiên, việc thiếu một chiến lược phát triển năng lực tổ chức và kế hoạch đào tạo cụ thể cho từng nhân viên có thể làm giảm tính hiệu quả của việc cử nhân viên đi học các khóa đào tạo (miễn phí)
Về cách thức thiết kế khoá học, nhìn chung, các hình thức tập huấn được ưa chuộng là tập huấn tại hiện trường, chia sẻ kinh nghiệm hoặc thăm quan chéo Đa số muốn tập huấn ngắn ngày, trung bình từ 3 đến 7 ngày một khoá Rất ít người muốn học dài hơn
vì công việc thường không cho phép Khi tìm hiểu về nhu cầu tập huấn trong thời gian tới thì ưu tiên lớn nhất của các VNGO vẫn là Kỹ năng quản lý dự án (theo chu kỳ dự án) và Phương pháp làm việc và nghiên cứu Mức độ ưu tiên theo năm ở đây được hiểu là tính thời sự/cấp thiết của nội dung đề nghị vào thời điểm được hỏi