1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên huế năm 2007

62 1,8K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tình Hình Nhiễm Khuẩn Hô Hấp Cấp Tính Ở Trẻ Em Dưới 5 Tuổi Tại Xã Phú Xuân, Huyện Phú Vang Tỉnh Thừa Thiên Huế Năm 2007
Tác giả Đặng Văn Tuấn
Người hướng dẫn Thạc Sỹ, Bs CK II Đoàn Phước Thuộc
Trường học Trường Đại Học Y Dược Huế
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 908,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em, đã và đang là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi quốc gia, là một trong những vấn đề mà tổ chức y tế thế giới quan tâm, nhất là tại các nước đang phát triển ở châu Á , châu Phi , châu Mỹ La tinh. NKHHCT là tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp cấp do virus hoặc vi khuẩn gây ra, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi 3,9,11,30, nhất là ở trẻ em dưới 1 tuổi .Cùng với suy dinh dưỡng và ỉa chảy, NKHHCT được xếp vào nhóm những bệnh có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe trẻ em. Theo Tổ chức Y tế thế giới ( TCYTTG ),hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết, trong đó có 5 triệu trẻ em chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp , chủ yếu là ở các nước đang phát triển. Trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em thì NKHHC chiếm hàng đầu (37,6%), tiếp đến là tiêu hóa ( 26,4%), bệnh máu (4,3% ), tim mạch (4,2%) và thận (1,7%) , số còn lại là do các nguyên nhân khác. Tại Việt Nam, NKHHCT cũng là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng nói chung và của trẻ em nói riêng , đặc biệt là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, là nguyên nhân hàng đầu gây mắc và tử vong ở trẻ em 21.Theo số liệu điều tra chung của toàn quốc thì tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHC chiếm 13 so với tổng số trẻ em vào khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế , ước tính hàng năm có từ 20.000 25.000 trẻ em chết vì bệnh lý đường hô hấp . Số lần mắc bệnh của một trẻ trong một năm cũng cao, trung bình một trẻ có thể mắc bệnh từ 35 lần năm . Vì tính chất phổ biến và nghiêm trọng của bệnh NKHHC, Tổ chức Y tế thế giới đề ra chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em và được triển khai trên phạm vi toàn cầu từ năm 1981. Việt Nam là một trong những nước trên thế giới sớm triển khai chương trình phòng chống NKHHC từ năm 1984, đến nay chương trình đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc , đã góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do NKHHC gây ra.Theo số liệu báo cáo hoạt động chương trình NKHHC giai đoạn 1996 2000, đến năm 2000 đã có 100% tỉnh, 100% số huyện , 97,9 % số xã triển khai chương trình và có 997,6% số trẻ em dưới 5 tuổi đuợc chương trình bảo vệ 4 Hiện nay tỷ lệ tử vong do NKHHC đã giảm một cách đáng kể, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao và việc sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn chưa được cải thiện nhiều 4. Xã Phú Xuân, huyện Phú Vang là một xã nghèo thuộc vùng đầm phá, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong nhiều năm qua đã được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên tình hình bệnh tật vẫn còn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và đời sống của nhân dân ,nhất là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, đặt biệt là bệnh NKHHCT, mặc dù tỷ lệ tử vong đã giảm rỏ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn tương đối cao. Xuất phát từ tầm quan trọng trên, nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang sau nhiều năm triển khai chương trình, chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dƣới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, Huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2007 với các mục tiêu : 1. Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú xuân, huyện Phú Vang . 2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

ĐẶNG VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ PHÚ XUÂN, HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ NĂM 2007

LUẬN VĂN CỦA BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH : Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số :

Người hướng dẫn khoa học : THẠC SỸ, BS CK II ĐOÀN PHƯỚC THUỘC

HUẾ -2007

Trang 2

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

1/ NKHH Nhiễm khuẩn hô hấp

2/ NKHHCT Nhiễm khuẩm hô hấp cấp tính

3/ K.NKHHCT Không nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

4/ TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới

5/ ARI Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 6/ NKĐHHT Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên

7/ NKĐHHD Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

9/ BVSKBMTE Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em

10/ RSV Vi rút hợp bào hô hấp

Trang 3

MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Tình hình NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới , tại Việt Nam, tại địa phương

1.2.Khái niệm và định nghĩa về NKHHCT

1.3.Một số phân loại NKHHCT

1.4.Nguyên nhân

1.5 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT

1.6.Tầm quan trọng của NKHHCT

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tượng nghiên cứu

2.2.Phương pháp nghiên cứu

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.5 Tổ chức thực hiện

2.6 Sai số và kiểm soát sai số

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em, đã và đang là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi quốc gia, là một trong những vấn đề mà tổ chức y tế thế giới quan tâm, nhất là tại các nước đang phát triển ở châu Á , châu Phi , châu Mỹ -La tinh

NKHHCT là tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp cấp do virus hoặc vi khuẩn gây ra, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [3,9,11,30], nhất là ở trẻ em dưới 1 tuổi Cùng với suy dinh dưỡng

và ỉa chảy, NKHHCT được xếp vào nhóm những bệnh có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe trẻ em

Theo Tổ chức Y tế thế giới ( TCYTTG ),hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết, trong đó có 5 triệu trẻ em chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp , chủ yếu là ở các nước đang phát triển Trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em thì NKHHC chiếm hàng đầu (37,6%), tiếp đến là tiêu hóa ( 26,4%), bệnh máu (4,3% ), tim mạch (4,2%) và thận (1,7%) ,

số còn lại là do các nguyên nhân khác

Tại Việt Nam, NKHHCT cũng là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng nói chung và của trẻ em nói riêng , đặc biệt là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, là nguyên nhân hàng đầu gây mắc và tử vong ở trẻ em [21].Theo

số liệu điều tra chung của toàn quốc thì tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHC chiếm 1/3 so với tổng số trẻ em vào khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế , ước tính hàng năm có từ 20.000- 25.000 trẻ em chết vì bệnh lý đường hô hấp

Số lần mắc bệnh của một trẻ trong một năm cũng cao, trung bình một trẻ có thể mắc bệnh từ 3-5 lần / năm

Vì tính chất phổ biến và nghiêm trọng của bệnh NKHHC, Tổ chức Y tế thế giới đề ra chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em và được triển khai trên phạm vi toàn cầu từ năm 1981 Việt Nam là một trong những nước trên thế giới sớm triển khai chương trình phòng chống NKHHC từ năm 1984,

Trang 5

đến nay chương trình đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc , đã góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do NKHHC gây ra.Theo số liệu báo cáo hoạt động chương trình NKHHC giai đoạn 1996 -2000, đến năm 2000 đã có 100% tỉnh, 100% số huyện , 97,9 % số

xã triển khai chương trình và có 997,6% số trẻ em dưới 5 tuổi đuợc chương trình bảo vệ [4] Hiện nay tỷ lệ tử vong do NKHHC đã giảm một cách đáng

kể, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao và việc sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn chưa được cải thiện nhiều [4]

Xã Phú Xuân, huyện Phú Vang là một xã nghèo thuộc vùng đầm phá, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong nhiều năm qua đã được

sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên tình hình bệnh tật vẫn còn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và đời sống của nhân dân ,nhất là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, đặt biệt là bệnh NKHHCT, mặc dù tỷ lệ tử vong đã giảm rỏ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn tương đối cao

Xuất phát từ tầm quan trọng trên, nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang sau nhiều năm triển khai chương trình,

chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, Huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2007 với các mục tiêu :

1 Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại

xã Phú xuân, huyện Phú Vang

2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới

5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình bệnh NKHHC ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới, tại Việt Nam và tại địa phương :

Trên thế giới :

Hiện nay tại các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm trùng chiếm 74% trường hợp ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó NKHHC là nguyên nhân hàng đầu, cao hơn nhiều so với các bệnh tiêu chảy và các bệnh phòng ngừa được bằng tiêm chủng Theo số liệu của Wajula (1991) tỷ lệ đến khám bệnh vì NKHHCT tại các cơ sở y tế ở một số nước như sau: ở Irak là 39,3%, Anh (30,5%), Brazil(41,1%), Australia(34,0%) và tại Việt nam là 30- 40% theo Nguyễn Đình Hường [16,25]

Năm 1991 tại hội nghị Washington đã thông báo số lần mắc bệnh viêm phổi mỗi năm trong 100 trẻ ở Ấn độ là 13,0, Kenia là 18,0, Thái lan là 7,0 ,

Mỹ là 3,0 Số lần mắc hàng năm ở Costarica là 5,9 (trẻ dưới 5 tuổi), và 7,2 (trẻ từ 1- 2 tuổi), ở Nigeria là 7,5, Ấn Độ là 5,6 và 5,3, Mỹ là 4,5 và 5,0

Chúng ta thấy tỷ lệ mắc NKHHCT mọi thể (nặng, nhẹ ) không có sự chênh lệch nhiều giũa các quốc gia nhưng số lần mắc viêm phổi là những thể nặng dể đưa đến tử vong ở các nước nghèo đang phát triển cao gấp 5 lần so với Hoa Kỳ [16] Các số liệu trên chứng tỏ NKHHC là bệnh phổ biến các nước đang phát triển, bệnh có tỷ lệ mắc nhiều và tỷ lệ tử vong cao

Mặc dù tỷ lệ mắc NKHHCT cao nhưng có hơn 70% các trường hợp chỉ

là nhiểm khuẩn hô hấp trên ( ho sốt đơn thuần), tức là không viêm phổi, còn khoảng 25 - 30 % trường hợp là viêm phổi ( theo phân loại của TCYTTG) [4 ].Theo số liệu thônh báo tại hội nghị Washinton (1999 ) chương trình NKHHC trẻ em

Tại Việt Nam:

Tại Việt Nam NKHHC ở trẻ em cũng là bệnh có số lần mắc nhiều nhất trong năm, trung bình 3-5lần / trẻ / năm, hàng năm tính trên 1000 trẻ có

Trang 8

khoảng 3000- 5000 trẻ mắc bệnh ( Tổng kết hoạt động NKHHCT trẻ em giai đoạn 1996- 2004 ) Theo số liệu cập nhật của Phạm Quốc Vượng thì hàng năm tại Việt Nam có khoảng hơn 30 triệu lượt trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính các thể, trong đó có khoảng hơn 6 triệu lượt trẻ bị viêm phổi hoặc viêm phổi nặng [17 ]

Tại viện bảo vệ sức khỏe trẻ em (Nguyễn Thu Nhạn và Nguyễn Văn Lộc,1981), tỷ lên bệnh đường hô hấp so với bệnh nhân chung là 44%[23] Theo Thái thành Nhơn 1991 , tại Thành phố Hồ Chí Minh : số trẻ đến khám bệnh do hô hấp 138.020, do tiêu chảy 31.092, vào điều trị do hô hấp 24.258

và ỉa chảy 12.182, tại Huế tỷ lệ mắc NKHHCT trong tổng số trẻ em vào điều trị ở bệnh viện là 54,52% ( theo báo cáo của chương trình NKHHC năm 1998)

Theo Nguyễn Tấn Viên và cộng sự , viêm phổi chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi, trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong càng cao 67,95%, trẻ có thể mắc bệnh nhiều lần trong năm

Trên cơ sở thu thập số liệu của một số nghiên cứu , Phạm Quốc Vượng đưa ra số lượt mắc của trẻ em là :

Bảng 1.1 Số lƣợt mắc NKHHC tại Việt Nam

Người nghiên cứu Năm nghiên

cứu

Lượt mắc NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi

Đỗ Hứa và cộng sự 1989 1,6 lượt/trẻ/ năm ( trẻ <2 tuổi ) Hoàng Thị Hiệp và cộng sự 1995 3,3 lượt/trẻ/ năm

Ở Việt Nam NKHHC ở trẻ em là bệnh đứng hàng đầu về tỷ lệ mắc và

tử vong Theo Nguyễn đình Hường tỷ lệ mắc NKHHC đến khám tại các cơ sở

y tế là 30- 40 %, theo báo cáo của Viện BVBMTE thì tỷ lệ mắc NKHHC vào điều trị là 44% và tử vong do đường hô hấp là 37,6% (cao nhất ) [31]

Trang 9

NKHHCT là nguyên nhân hàng đầu nhập viện tại khoa nhi bệnh viện Bắc Ninh chiếm 49,72% ( Nguyễn Minh Hiệp, 1995), khoa nhi bệnh viện Thanh Hóa dao động từ 36-47% (Lê Văn Kế và cộng sự,1995) [25], khoa nhi bệnh viện Thái Bình 39,1% (Nguyễn Ngọc Duyên, 1995) [13]

Nguyễn Cồ Việt và cộng sự (2000) điều tra tại 3 tỉnh Hà Nam- Đà Nẵng- Tây Ninh NKHHCT 65,8%, tiêu chảy 10,1%, các bệnh nhiễm trùng khác 9,4%, chấn thương tai nạn 2,1%, bệnh khác 12,6% ở trẻ dưới 5 tuổi [10]

Điều tra về mắc bệnh NKHHCT trẻ dưới 5 tuổi tại Phú Xuân- Hà Tây trẻ mắc Bệnh NKHHCT là 22,5%, tiêu chảy 2,1%, nguyên nhân khác 2,7% đa

số là NKĐHHT [12]

Tại địa phương nghiên cứu :

Tỉnh Thừa thiên Huế là một tỉnh như một số tỉnh miền trung ,tình hình phát triển kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn , thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước , tình hình thời tiết khá khắt nghiệt, luôn chiệu nhiều hậu quả của lụt bảo ,nhất là ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưởng còn cao 18,5% ( năm 2005 ), tỷ lệ trẻ em mắc NKHHCT còn phổ biến

Phú Xuân là một trong những xã của huyện Phú Vang, là một xã ven đầm phá ,là vùng thấp trủng, chiụ nhiều ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết khắc nghiệt, đời sống của nhân còn gặp nhiều khó khăn , thu nhập bình quân đầu người thấp , trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, sự hiểu biết của các

bà mẹ về các vấn đề chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế, do đó tỷ lệ trẻ mắc các bệnh, nhất là tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị NKHHCT còn khá cao

1.2 Khái niệm và định nghĩa NKHHCT :

Trang 10

* Tai giữa

* Mũi Họng

* Nắp thanh quản , mốc chia đường hô hấp trên và dưới

- Đường hô hấp dưới, bao gồm :

1.2.2 Định nghĩa NKHHC :

NKHHC là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn hoặc do víut gây ra trên toàn bộ đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng , thanh khí phế quản đến nhu mô phổi Một số bệnh thường gặp như cảm cúm, đau họng, đau tai, viêm phế quản và viêm phổi

1.3 Một số phân loại NKHHCT :

1.3.1 Phân loại theo vị trí giải phẫu :

Theo TCYTTG đưa ra là lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân chia nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (NKĐHHT) và nhiễm khuẩn đường hô

hấp dưới (NKĐHHD)[4,25]

NKĐHHT: Tổn thương ở phía trên nắp thanh quản, thường là nhẹ, bao gồm các trường hợp như ho cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi họng, phần lớn các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em là viêm đường hô hấp trên chiếm 70-80 %[25]

Trang 11

NKĐHHD : Tổn thương ở phía dưới nắp thanh quản, thường là nặng, bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, NKĐHHD ít gặp hơn (20-30 %) nhưng thường là nặng , là nguyên nhân gây tử vong [25]

1.3.2 Phân loại theo mức độ nặng nhẹ :

NKHHCT ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như : sốt, viêm họng, chảy mủi nước, ho, nhịp thở nhanh, rút lỏm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, thở khò khè, tím tái [25]

Nhưng theo TCYTTG thì có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lỏm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xếp theo mức độ nặng nhẹ của bệnh[25] Gồm có 4 mức độ :

* Không viêm phổi( NKHHCT thể nhẹ ) :Trẻ chỉ có dấu hiệu chảy mủi

nước, ho, không cần dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà

* Viêm phổi (NKHHCT thể vừa) : Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, dùng

kháng sinh, có thể điều trị tại nhà ( trừ trẻ dưới 2 tháng tuổi )

* Viêm phổi nặng ( NKHHCT thể nặng ) : Trẻ có dấu hiệu rút lỏm lồng

ngực, cần đưa trẻ dến ngay bệnh viện điều trị

* Bệnh rất nặng : Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu sau được phân loại

là bệnh rất nặng, cần đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời :

+ Không uống được + Bỏ bú hoạc bú kém + Co giật

+ Sốt hoặc hạ nhiệt (đối với trẻ dưới 2 tuổi ) + Ngủ li bì khó đánh thức

+ Thở rít khi nằm yên + Suy dinh dưỡng nặng

1.3.3 Ho:

Trang 12

Ho là một phản xạ của cơ quan hô hấp để tống đờm giải ra ngoài làm thông thoáng đường thở khi bộ phận hô hấp bị viêm nhiểm Phản xạ bắt đầu bằng sự kích thích thụ thể ho nằm dọc đường hô hấp Nếu có vật lạ kích thích đường thở hoặc đường thở bị viêm nhiểm thì những thụ thể này bị kích thích

và truyền lên trung tâm điều khiển ho ở vỏ não( hành tủy) bởi dây thần kinh phế vị và nhánh thần kinh thanh quản gây ho Như vậy về mặt nào đó thì ho là

có lợi ( tống đờm giải ra ngoài làm thông thoáng đường thở ) Các thụ thể ho phần lớn nằm ở vị trí có khả năng tiếp xúc lớn các ngã ba đưồng thở có kích thước lớn và vừa nằm ở đường hô hấp trên Vì vậy trong viêm phổi thường ho không nhiều Trên cơ sở đó có thể dựa vào ho dể phát hiện sớm các trường hợp NKHH khi trẻ bị viêm nhiểm đường hô hấp trên [5 ]

1.3.4.Thở nhanh:

Thở nhanh là một phản ứng sinh lý đối với hiện tượng thiếu ôxy trong viêm phổi đồng thời khi phổi bị viêm lâu sẽ mất tính mềm mại và sự giãn nở của phổi kém, vì vậy buộc phải tăng nhịp thở

Muốn xác định nhịp thở nhanh phảo dựa trên cơ sở nhịp thở bình thường của trẻ tùy theo lứa tuổi Trẻ càng nhỏ tuổi nhịp thở càng nhanh, lúc thức thở nhanh hơn lúc ngủ [7]

Từ nhịp thở bình thường của trẻ tùy theo lứa tuổi cộng thêm 10 nhịp ta sẽ

có ngưỡng thở nhanh của 3 độ tuổi theo TCYTTG như sau :

+ Trẻ dưới 2 tháng tuổi : Trên 60 lần / phút

+ Trẻ từ 2 tháng - 12 tháng tuổi : Trên 50 lần / phút

+ Trẻ từ 12 tháng - 60 tháng tuổi : Trên 40 lần / phút

Để xác định nhịp thở phải đếm nhịp thở trong 1 phút Nếu nghi ngờ cần đếm lại lần thứ 2 Thở nhanh là dấu hiệu quan trọng và có giá trị để phát hiện sớm các trường hợp viêm phổi ở cộng đồng cũng như ở bệnh viện

1.3.5 Rút lõm lồng ngực:

Trang 13

Là lồng ngực ở phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới xương ức rút lỏm khi trẻ hít vào Nếu chỉ có phần mềm giữa các xương sườn hoặc vùng trên xương sườn rút lỏm thì không phải là rút lỏm lồng ngực Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán vì lồng ngực của trẻ nhỏ còn mềm, khi thở bình thường cũng có thể hơi rút lõm Vì vậy rút lõm lồng ngực mạn mới có giá trị

Sở dĩ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực là do phổi bị tổn thương nhiều làm mất tính mềm mại, trẻ khó thở phải gắng sức để thở , các cơ hô hấp phải tăng cường hoạt động co bóp làm cho lồng ngực bị lõm vào

Vì vậy khi xuất hiện các dấu hiệu này chứng tỏ trẻ bị viêm phổi nặng

1.3.6 Các dấu hiệu nguy kịch:

Ngoài các dấu hiệu chính để phát hiện viêm phổi nói trên,TCYTTG còn hướng dẫn thêm cán bộ y tế cơ sở một số dấu hiệu nguy kịch khác Nếu có một trong các dấu hiệu đó chứng tỏ trẻ bị bệnh rất nặng và cần phải đưa trẻ bệnh viện để chẩn đoán xác định và xử trí ngay

- Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi các dấu hiệu nguy kịch là : Bỏ bú hoặc bú kém,

co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, sốt hoặc hạ nhiệt độ, thở khò khè

- Ở trẻ 2- 5 tháng tuổi các dấu hiệu nguy kịch là : không uống được, co

giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên và suy dinh dưỡng ( SDD) nặng

Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm nói trên là để giúp cán bộ y tế cơ sở và các bà mẹ biết theo dỏi phát hiện kịp thời để đưa trẻ đến bệnh viện ngay, chưa cần chẩn đoán chính xác là bệnh gì

1.4 Nguyên nhân :

1 4.1.Vi rus:

Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là do do nguyên nhân vius, chiếm 70 % , virus gây nhiểm khuẩn hô hấp chủ yếu là NKĐHHT trên, phổ biến là vào mùa

Trang 14

đông, loại và mức độ trầm trọng của bệnh chịu ảnh hưởng bởi một vài yếu tố bao gồm : tuổi, mùa trong năm, tình trạng miễm dịch của vật chủ, yếu tố môi trường

Hơn 200 virut có thể gây nên NKHHCT và Rhinoviruses chiếm hơn 1/3 của tất cả các loại virut Những virut thường gặp gây bệnh NKHHCT ở trẻ em

1.5.Một số yếu tố ảnh hưởng đến NKHHCT

1.5.1 Thuốc lá:

Viện hàn lâm nhi khoa Hoa kỳ cảnh báo rằng thuốc lá là một trong những nguồn ô nhiễm môi trường quan trọng nhất đe dọa đáng kể đến sức khỏe trẻ em theo David M Orestein (2000) Gần 90% những người không hút thuốc lá phát hiện có Nicôtin trong huyết tương do phơi nhiễm (PN) với môi

Trang 15

trường khói thuốc theo Nguyễn Văn Phượng (2001)[30] Leeder cho biết số mắc viêm phổi hàng năm ở trẻ em nếu bố mẹ không hút thuốc lá 6,2% nếu có

1 người hút tỷ lệ viêm phổi tăng lên 9,7%, nếu cả hai cùng hút thì tăng lên đến 15,4% [25]

Gần đây Gurkaaf và cộng sự (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc thụ động lên sự sự phát triển viêm phế quản do virus hợp bào hô hấp (RSV) cho thấy trẻ em có viêm phế quản do RSV đã tìm thấy mức nicotin cao khi

mẹ hoặc cả cha mẹ hút hơn trẻ cha mẹ không hút thuốc lá [32]

Nguy cơ viêm phổi cao gấp 2 lần ở trẻ thường xuyên phơi nhiễm khói thuốc lá (Tạ Thị Ánh Hoa, 1997) [16 ]

1.5.2 Trọng lượng sinh dưới 2500gram:

Hiện nay mỗi năm có khoảng 120 triệu trẻ em mới sinh, phần lớn ở các nước đang phát triển (85% ) , trong đó trẻ có cân nặng dưới 2500g vào khoảng 22 triệu (21 triệu ở các nước đang phát triển ), tử vong phần lớn ở những trẻ này Cân nặng lúc đẻ rất quan trọng vì nó xác định được khả năng thích nghi với môi trường mới xung quanh và phát triển của trẻ

Theo Bùi Đức Dương, Tô Anh Toán (2001) trẻ khi sinh cân nặng dưới 2500g mắc NKHHCT cao hơn 1,3 lần trẻ có cân từ 2500g trở lên [12]

Tìm hiểu yếu tố nguy cơ quanh đẻ ảnh hưởng đến NKHHCT ở trẻ sơ sinh cho thấy trẻ đẻ non, cân nặng thấp, nước ối bẩn, ngạt ngoài nguy cơ tử vong còn có nguy cơ mắc NKHHCT 2-3 lần so với trẻ đủ tháng, đẻ thường (Tô Thanh Hương,1994) [18] và Nguyễn Đình Hường,1999) [19] Theo Lê thị Nga (2001) trẻ đẻ thấp cân có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 75,9%, đẻ ngạt 62,5%, ối vỡ sớm 53,6%, trong đó tỷ lệ này thấp hơn 33,2% ở nhóm chứng [22]

Kết quả các nghiên cứu cho thấy chết do NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi nếu khi sinh nặng dưới 2500g chiếm 2,64% của trẻ sống, trong khi nếu sinh nặng trên 2500g chỉ là 0,68% ( Trần Quỵ,2001)[25]

Trang 16

SDD dễ bị viêm phổi và thời gian viêm phổi kéo dài hơn trẻ không bị SDD (Tạ Thị Anh Hoa, 1997), (Nguyễn Trung Trực, 1999) SDD làm tăng nguy cơ NKHHCT [28]

1.5.4 Thiếu sữa mẹ:

Một nghiên cứu ở Brazin (1985) cho thấy nếu nguy cơ tương đối của tử vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 1 thì trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và sữa bò là 1,2 và trẻ chỉ được nuôi bằng sữa bò là 3,3 [25] Bú sữa

mẹ trong thời gian ngắn (0-6 tháng ) làm tăng nguy cơ NKHH dưới và nhiểm trùng tại bệnh viện so với trẻ bú sữa mẹ dài hơn

Hoàng Minh Thu, Trần Thị Biền (1994) nghiên cứu thiếu sữa mẹ là yếu

tố nguy cơ cao cho NKHHCT ở trẻ em dưới 12 tháng tại khoa nhi bệnh viện Xanhphôn - Hà Nội [27]

Trang 17

1.5.6 Tiêm chủng không đầy đủ:

Hàng năm ở các nước đang phát triẻn có khỏng 6 triệu trẻ em chết do 6 bệnh được bảo vệ trong chương trình tiêm chủng mở rộng (CT TCMR) trong

đó có 2,2 triệu trẻ em chết do sởi, 1,6 triệu trẻ chết do ho gà, 1,2 triệu chết do uón ván sơ sinh Do vậy hiện nay TCYTTG kêu gọi tất cả các quốc gia bằng mọi nỏ lực chủng ngừa cho trẻ em dưới 1 tuổi đối với 6 bệnh hiểm nghèo: Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván ,Sởi và bại liệt Chương trình TCMR ở Việt Nam đã dược bắt đầu từ năm 1981 đến nay thực hiện trên toàn quốc, đã tiến đến thanh toán bệnh Bại liệt và loại trừ bệnh Uốn ván sơ sinh,đã đưa thêm vaccin Viêm ganB, Viêm não Nhật Bản Bvà CTTCMR cho trẻ em [2]

Nhóm trẻ tiêm chủng không đầy đủ có nguy cơ NKHHCT cao hơn trẻ tiêm chủng đầy đủ, theo Hoàng Minh Thu và cộng sự (1994) đối với trẻ em dưới 12 tháng [27] Bùi Đức Dương, Tô Anh Toàn (2001) nhóm trẻ tiêm chủng không đầy đủ mắc 25,5% so với nhóm tiêm chủng đầy đủ mắc 22,4% đối với trẻ dưới 5 tuổi [12]

1.5.7 Tuổi nhỏ:

Tuổi trẻ càng nhỏ thì tỷ lệ mắc NKHHCT càng cao, trẻ từ 0-3 tuổi chiếm 60,60% ( chương trình ARI tỉnh Lạng Sơn- 1994 ) Một nghiên cứu của Lê Thị Nga và cộng sự (1998) về tình hình bệnh NKHHCT ở trẻ em dân tộc Sán Dìu và Mông (Thái Nguyên và Hà Giang) tuổi từ 0-12 tháng là chiếm cao nhất 62,9% [21] Tại khoa nhi bệnh viện Bắc Ninh 81% là trẻ 2-11 tháng, 15% trẻ 1-4 tuổi mắc NKHHCT theo Nguyễn Minh Hiệp (1998) [15]

1.5.8 Số con đông trong gia đình:

Gia đình đông con từ 3 con trở lên mác NKHHCT 38,20% [5] Gia đình

có từ 5con trở lên mắc NKHHCT cao 2,47 lần hơn gia đình có 1 con và 2,06 lần hơn gia đình có 2 con (Bùi Đức Dương , Tô Anh Toàn, 2001) [12]

1.5.9 Các yếu tố chăm sóc trẻ:

Trang 18

Nhà trẻ là một giai đoạn quyết định của sự phát triển nhân cách trẻ trong mức độ nó phủ kín các thời kỳ nhạy cảm như Montessori đã nói, những thời

kỳ cho phép tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách đặt biệt mãnh liệt với trẻ , mọi cái đều hứng thú và sống động Nhưng nhà trẻ cũng là môi trường đông đúc cho nên sự chăm sóc trẻ tại nhà trẻ cũng làm tăng nguy cơ NKHHCT Đối với những trường hợp trẻ không được mẹ chăm sóc ( do mẹ đi làm việc ngoài gia đình ) thì nguy cơ NKHHCT tăng lên Nguy cơ NKHHCT tăng lên theo thời gian người mẹ vắng nhà kể từ lúc sinh trẻ , thời gian ít hơn 25% so với thời gian trong ngày

Ngoài ra, môi trường chung quanh làng mạc, khu phố, nơi trẻ sinh hoạt, tuổi và kiến thức của bà mẹ, điều kiện kinh tế gia đình cũng đều ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em và trẻ dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là NKHHCT

Suy dinh dưỡng Kinh tế gia đình

Tiếp xúc với không khí Trẻ đẻ non, sinh khó,

bị ô nhiễm : Khói thuốc lá, Yếu tố nguy cơ của thiếu sữa mẹ

Tiêm chủng không đầy đủ

Ăn dặm sớm, ỉa chảy

Trang 19

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố nguy cơ đến NKHHCT

1.6 Tầm quan trọng của NKHHCT:

NKHHCT là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh và tử vong ở trẻ em, tại hội nghị tổng kết hoạt động chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI) quốc gia năm 1998 theo Nguyễn Thanh Vân ở Việt Nam số liệu thống kê tại các tuyến bệnh viện cho thấy NKHHCT chiếm khoảng 1/3 tổng số trẻ đến khám ở các phòng khám và chiếm khoảng 30- 40 % tổng số trẻ phải nhập viện , số tử vong do viêm phổi tại các bệnh viện từ tuyến Huyện đến Trung ương chiếm 30-50 % trong tổng số tử vong chung [38]

Với tầm quan trọng như vậy, TCYTTG đề xuất tổ chức chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em từ năm 1981 Ở Việt nam chương trình được triển khai từ năm 1984 là chương trình quốc gia thứ 2 được thành lập trên thế giới và là chương trình đầu tiên ở châu Á [6]

Mục tiêu của chương trình là :

Giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi của trẻ em dưới 5 tuổi bằng cách trước mắt là tổ chức TCMR ngừa 6 bệnh lây nguy hiểm (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi và bại liệt) , thực hiện tốt chương trình phòng chống SDD, hướng dẫn cán bộ y tế cơ sở điều trị tốt các bệnh về tai mũi họng để hạn chế vi trùng vào phổi, lâu dài tùy điều kiện kinh tế , cải thiện môi trường sống sạch , ít bụi , ít khí độc, thoáng mát [16]

Giảm tỷ lệ tử vong của viêm phổi nặng bằng cách phát hiện sớm bệnh viêm phổi, tích cực điều trị ngay tại tuyến y tế cơ sở và cấp cứu kịp thời các trường hợp nặng tại bệnh viện gần nhất Đây cũng là mục tiêu của chương trình quốc gia phòng chống NKHHCT trẻ em

Việc điều trị các trường hợp viêm phổi nặng khá phức tạp và tốn kém, trong khi đó việc phát hiện sớm viêm phổi cũng như việc phòng chống

Trang 20

NKHHCT có thể thực hiện được ngay tại cộng đồng nhờ các biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu

Chương trình ARI tại Việt Nam ,có thể nói là đã đạt được những kết quả nhất định trong việc giảm tỷ lệ cho trẻ em mắc NKHHCT qua hàng năm, mặc

dù cho đến nay tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi do NKHHCT vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tử vong chung ở trẻ em Số liệu tổng kết năm 2001, toàn quốc có 7.345.835 trẻ dưới 5 tuổi được bảo vệ, trong đó mắc bệnh NKHHCT là 2.350.227 với tần suất 0,3/ trẻ và tử vong do NKHHCT là 625/1700 tử vong chung[17]

Chiến lược hoạt động của chương trình để đạt các mục tiêu gồm các hoạt động sau: huấn luyện cho cán bộ y tế các tuyến về khả năng xữ trí NKHHC theo phát đồ của tổ chức y tế thế giới , truyền thông giáo dục cho các bà mẹ

để nhận biết các dấu hiệu của bệnh cũng như chăm sóc trẻ bệnh tại nhà , giám sát các hoạt động của chương trình, cung cấp thuốc và các trang thiết bị tại các tuyến y tế cơ sở Trong những năm trở lại đây chương trình đã thực hiện được cơ bản các hoạt động trên một cách khá tốt , góp phần đem lại những kết quả khả quan Một vấn đề hiện nay là cần đi sâu vào việc loại bỏ các yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT đối với trẻ em, đây là một vấn đề có ý nghĩa trước mắt cũng như lâu dài , đó là việc xác định cụ thể từng loại nguy cơ tại từng vùng , dựa vào điều kiện , hoàn cảnh từng nơi mà có các biện pháp giãi quyết triệt để các yếu tố nguy cơ để phòng bệnh và góp phần làm giảm tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở trẻ em, nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 21

Gồm trẻ dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân , huyện Phú Vang, tỉnh Thừa thiên Huế

* Đặc điểm tình hình xã Phú Xuân :

Xã Phú xuân là một xã thuộc vùng đầm phá của huyện Phú Vang , là một xã thuộc dự án xã bãi ngang Diện tích tự nhiên là 3020 ha, diện tích canh tác là 1310 ha, diện tích đầm phá 1022 ha Có 2/3 dân số làm nghề nông , 1/3 làm ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Xã có 8 thôn, 2 trường tiểu học, 1 trường THCS , 8 lớp mẫu giáo

Dân cư sống tập trung dọc theo đường liên xã qua 6 thôn và có 2 thôn cách trung tâm xã hơn 6 km

Dân số toàn xã là 8.168 người, trong đó nam 3.962, nữ 4.206, số hộ là 1.626 , số trẻ dưới 5 tuổi là 622

Trạm y tế nằm ở trung tâm xã , biên chế có 5 cán bộ :

Là trạm y tế được công nhận xã đạt chuẩn quốc gia về y tế năm 2003

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Đề tài được tiến hành theo thiết kế nghiên cứu ngang mô tả có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu :

Gồm 306 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được tính theo công thức ước lượng

tỷ lệ:

N = Z P (1-P) / eTrong đó :

Trang 22

- e : sai số ước đoán, chọn e = 0,5

Như vậy cỡ mẫu cần lấy trong nghiên cứu như sau:

(1,96 ) x 0,26 (1- 0,26 )

N = = 306

( 0,5 )

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu:

Tiến hành chọn mẫu theo cách chọn mẫu hệ thống, theo các bước sau:

- Lập danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi Có được 612 bà mẹ có con từ 0 đến 5 tuổi, sau đó đánh số thứ tự từ 1 đến 612

- Lập khoảng cách K = N / n = 612 / 306 = 2

- Dựa vào bảng số ngẫu nhiên, tôi chọn cột thứ 3, hàng thứ 2 từ phải sang trái, chọn chữ số đầu tiên từ phải sang trái của dãy số để lấy một giá trị T sao cho 1 < T < K, ở đây giá trị T =2 Các phần tử được chọn là 3, 5,7,9 , chọn đủ số bà mẹ theo yêu cầu

2.3 Nội dung nghiên cứu :

Trang 23

+ Xác định NKHHCT ( theo chương trình ARI ) theo tiêu chuẩn: ho,

thở nhanh, sò sè, rút lõm lồng ngực, sốt, sổ mũi, nghẹt mũi, đau tai, đau họng, chảy nước tai

- Không bệnh: khi trẻ không có các dấu hiệu trên

- Tình trạng nặng hơn trẻ có thể không uống được, bỏ bú hoặc bú kém,

co giật, ngủ li bì, khó đánh thức và các dấu hiệu khác

- Tuy nhiên để dễ nhận biết và phát hiện sớm, phân loại dễ dàng, cán bộ

y tế cơ sở và các bà mẹ cần chú ý ba dấu hiệu đơn giản và quan trọng là: ho, thở nhanh và rút lõm lồng ngực Cùng với các dấu hiệu khác để xếp loại và

xử lý đúng, kịp thời các trường hợp ho hoặc khó thở, các trường hợp đau tai

và đau họng ở trẻ em

2.3.2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan:

2.3.2.1 Hiểu biết của bà mẹ về NKHHCT:

- Kiến thức về phòng bệnh: bao gồm cho trẻ bú ngay sau khi sinh trong

vòng 1 giờ, ăn dặm sau 4 tháng, cai sữa sau 18 tháng, tiêm chủng đầy đủ, làm sạch môi trường, giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ

- Nhận biết các dấu hiệu khi trẻ bị NKHHCT: bao gồm các dấu hiệu ho, sốt, thở nhanh, khó thở, bỏ bú, không uống được, co giật, ngủ li bì, thở khò khè, tím tái, rút lõm lồng ngực

- Xữ trí và chăm sóc khi trẻ bị bệnh: bao gồm theo dỏi nhịp thở, nhiệt

độ, ăn uống, các dấu hiệu bệnh nặng, cho trẻ ăn tốt hơn, uống nước nhiều hơn, dùng thuốc đúng chỉ dẫn, giữ ấm cho trẻ, biết làm thông thoáng đường thở

2.3.2.2 Yếu tố môi trường: môi trường mà trẻ tiếp xúc và sống

thường xuyên, có liên quan đến sức khỏe của trẻ, được xác định :

Trang 24

- Nhà bán kiên cố: Là nhà có nửa dưới xây, nửa trên dựng bằng gỗ, mái lợp bằn tôn hoặc ngói

- Nhà kiên cố: Là nhà xây

2.3.2.2.2 Tiếp xúc khói bếp:

Là trẻ ở trong gia đình mà bếp nấu ăn được đặt trong nhà chính và sử dụng loại bếp có khói, bụi như bếp củi, bếp than , bếp được xem là không

có khói như bếp ga, bếp dầu

2.3.2.2.3 Khói thuốc lá: Trẻ em phơi nhiễm với khói thuốc lá được xác

định khi khói thuốc lá tiếp xúc với bề mặt nhạy cảm của cơ thể ( biểu mô mũi,

miệng, họng và đường hô hấp)

2.3.2.3 Yếu tố kinh tế:

Yếu tố kinh tế dựa vào mức tính thu nhậpbình quân đầu người/tháng/hộ/năm, dựa vào thông tư số 1751/ LĐTBXH về việc thông báo định mức hộ nghèo của Bộ lao động thương binh xã hội Việt Nam ban hành gồm:

- Nghèo là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ/năm dưới 100.000 đồng

- Trung bình là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ/năm từ 100.000 đến 200.000 đồng

- Khá, giàu là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ /năm lớn hơn 200.000đ

Trang 25

2.3.2.5 Tiêm chủng:

Xác định dựa vào phiếu tiêm chủng của trẻ hoặc hỏi gia đình chắc chắn con mình đã được tiêm chủng đủ hay chưa Đánh giá tiêm chủng theo lịch tiêm chủng của chương trình TCMR

Đối với chủng BCG kiểm tra sẹo ở cơ Delta cánh tay trái và lịch tiêm chủng đối với trẻ dưới 1 tuổi :

Được tính theo quy định của TCYTTG và nước ta hiện nay

Khi tiến hành điều tra, tuổi của trẻ cần xác định tuổi thật của trẻ khi tiếp xúc với người mẹ Nếu tuổi khai sinh không đúng với tuổi thật hoặc đứa trẻ không có tờ khai sinh Bà mẹ xác định ngày sinh dương lịch hoặc âm lịch Trường hợp này cần phải đối chiếu sao cho phù hợp

Trong điều tra nghiên cứu này, chia làm 3 nhóm tuổi như sau:

≤ 1 tuổi , 2 - 3 tuổi , 4- 5 tuổi

2.3.2.7 Thiếu sữa mẹ

Thiếu sữa mẹ được định nghĩa : Trẻ không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu hoặc bị cai sữa sớm hơn 18 tháng

2.3.2.8 Ăn dặm sớm:

Ăn dặm sớm là trẻ được cho ăn trước 4 tháng kể từ lúc sinh

2.3.2 9 Số con trong gia đình:

Số con đông trong gia đình : Gia đình có từ 3 con trở lên

Trang 26

2.3.2.10 Trình độ văn hóa mẹ :

Mù chữ : Không biết đọc và viết chữ

Căn cứ vào học vấn của người mẹ, theo các cấp học tiểu học, trung học cơ

sở, Phổ thông trung học Ngoài ra còn xác định địa điểm sinh hoạt của trẻ ( nhà trẻ và tại nhà ) và người chăm sóc trẻ tại nhà

2.3.3 Định nghĩa các thuật ngữ trong nghiên cứu :

- Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ( NKHHCT):

Là tất cả các trường hợp viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp từ mũi, miệng, thanh khí phế quản đến phế nang- nguyên nhân do virut hoặc vi khuẩn gây ra

- Các dấu hiệu để nhận biết trẻ mắc NKHHCT tại cộng đồng:

Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến những dấu hiệu mà bà mẹ có thể phát hiện được theo nội dung hướng dẫn truyền thông của chương trình là :

ho, sốt, thở nhanh, khò khè, bỏ bú hoặc bú kém, tím tái, không uống được, rút

lõm lồng ngực

- Đánh giá kiến thức bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh NKHHCT :

Kiến thức của bà mẹ được đánh giá theo 3 nhóm câu hỏi, bao gồm : + Phòng bệnh : câu 12 có 9 ý, nếu có > 5 / 9 ý là " Đạt"

+ Nhận biết các dấu hiệu bệnh : từ câu 13 đến câu 14 có 18 ý, nếu có >

9 / 18 ý là " Đạt "

+ Chăm sóc và nuôi dưỡng: từ câu 15 đến câu 16 có 10 ý, nếu có > 5 /

10 ý là " Đạt"

* Kiến thức bà mẹ về NKHHCT là :

+ "Đạt " : khi cả 3 nhóm câu hỏi đều "Đạt "

+ " Không đạt " : khi trong 3 nhóm có từ một nhóm " Không đạt "

* Môi trường sống của trẻ:

Được đánh giá bằng các câu hỏi từ 17 đến câu thứ 20, bao gồm các nội dung sau:

Trang 27

+ " Đạt " : Là nhà ở bán kiên cố hoặc kiên cố, nhà bếp riêng biệt, nấu

ăn thường xuyên bằng bếp ga, bếp dầu, trong nhà không có người hút thuốc

+ " Không đạt ": Là khi có một trong các yếu tố sau: nhà tạm, nhà gỗ, bếp để ở nhà chính, nấu ăn thường xuyên bằng bếp củi, rác, trong gia đình có người hút thuốc lá

2.4 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phỏng vấn các bà mẹ: Dùng bộ câu hỏi sẵn có, điều tra viên trực tiếp hỏi tất cả các bà mẹ có con đuợc đưa vào mẫu

- Cân trẻ dưới 5 tuổi tại nhà bằng 01 bàn cân xách tay được chỉnh chuẩn trước mỗi lần cân

* Phương pháp cân:

- Cân trẻ em tốt nhất là nên cởi hết quần áo Nhưng thực tế trẻ em trong đối tượng nghiên cứu mặc quần áo mỏng

Trong trường hợp trẻ nhỏ hoặc quấy khóc, không hợp tác, có thể cân

mẹ cháu sau đó cân mẹ bế cháu, trừ ngay để lấy cân nặng thực tế của cháu

Trẻ được cân đứng giữa bàn cân , không cử động , trọng lượng phân bố đều cả 2 chân

Cân nặng được ghi đơn vị kg có chia vạch trên bàn cân, mỗi vạch tương ứng với 0,1 kg và sử dụng một số lẻ Cân được chỉnh chuẩn trước mỗi lần cân, đọc kết quả trên bàn cân và ghi vào phiếu điều tra

Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0 hằng ngày kiểm tra dộ nhạy và độ chính xác của cân Cân toàn

bộ trẻ dưới 5 tuổi dược đưa vào mẫu

Trang 28

2.5.2 Tập huấn cho ĐTV:

Trước khi tiến hành điều tra , tổ chức tập huấn 01 buổi cho ĐTV

Nội dung tập huấn là các bộ câu hỏi , nội dung phỏng vấn, kỹ thuật cân và ghi chép vào phiếu điều tra

2.5.3 Triển khai thu thập số liệu tại thực địa:

Sau khi tập huấn tôi sẽ cùng ĐTV đi quan sát và phỏng vấn mẫu , cân mẫu mỗi thôn 2- 3 hộ gia đình , sau đó ĐTV sẽ tự phỏng vấn,cân trẻ Số phiếu phỏng vấn của các ĐTV sẽ được thu gộp hàng ngày để xem xét bất cứ lúc nào để chỉnh sửa

2.5 4 Thời gian điều tra : từ 20 / 7 / đến 20 / 8 / 2007

2 6 Xữ lý số liệu :

- Phương tiện:

- Sử dụng phần mềm EPLINFO.604

- Các bước tiến hành thống kê và xử lý số liệu

- Tạo bảng câu hỏi từ EPED

- Thu thập và nhập số liệu vào ENTER DATA

- Phân tích trên chương trình ANALYSIS, EPINUT

- Đọc kết quả và nhận định

Với số liệu thu được qua kết quả điều tra, tiến hành xữ lý số liệu rồi phân tích kết quả Thống kê mô tả tình hình chung của quần thể nghiên cứu thông qua các biến số, chỉ số, số liệu có được từ chương trình Analasis, dùng biểu

Trang 29

Sử dụng công thức tính nhanh (áp dụng cho bảng 2x2 ) [21]

X = N (ad-bc)/efgh

Với X = 3,84

* Luận văn này sử dụng hai loại biến số :

- Biến số định tính : Trình độ văn hóa mẹ, nghề nghiệp mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, tình trạng thiếu sữa, ai là người chăm sóc trẻ, sinh hoạt tại nhà trẻ, phơi nhiễm khói thuốc lá, thời gian ăn dặm của trẻ

Biến số định lượng : Tuổi trẻ, cân nặng, số con trong nhà, số lần ỉa chảy, tiêm chủng và bệnh NKHHCT, mẹ theo dõi bệnh của trẻ và phát hiện được số lần NKHHCT

2.6 Sai số và kiểm soát sai số:

- Sai số do thông tin : Hạn chế bằng cách tập huấn kỹ cho nhóm điều tra

- Sai số do người điều tra : Hạn chế bằng cách kiểm tra sai sót trong từng bảng câu hỏi, loại bỏ các bảng câu hỏi ghi không đạt yêu cầu

Trang 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua điều tra cắt ngang mẫu nghiên cứu gồm 306 trẻ, trong đó số trẻ được chẩn đoán NKHHCT theo tiêu chuẩn của TCYTTG gồm:

Trang 31

Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh NKHHCT theo giới

Nhận xét:

Tình hình NKHHCT ở nam là 57,3%, ở nữ là 42,7% , sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê( P> 0,05)

Ngày đăng: 24/07/2014, 02:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi An Bình, Phan Thị Kim Ngân (2001), “Dinh dưỡng trẻ em”, Giáo trình giảng dạy nhi khoa, bộ môn nhi Đại học Y Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trẻ em
Tác giả: Bùi An Bình, Phan Thị Kim Ngân
Năm: 2001
2. Lê Thanh Bình (2001), “Chương trình tiêm chủng mở rộng”, Giáo trình giảng dạy nhi khoa, bộ môn nhi Đại học Y Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tiêm chủng mở rộng
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 2001
3. Bộ Y tế (1992), “Chương trình NKHHCT”, Tập huấn về quản lý các chương trình, Hà Nội tr1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình NKHHCT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1992
4. Bộ Y tế (1994), “chương trình NKHHCT trẻ em”, Tài liệu hướng dẫn cán bộ y tế thực hiện tại tuyến xcã, phường, Hà Nội, tr 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chương trình NKHHCT trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1994
5. Bộ Y tế (2003), “Chương trình NKHHCT trẻ em”,Tài liệu hướng dẫn Xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em ở bệnh viện huyện”, Hà Nội, tr. 3 - 4.X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình NKHHCT trẻ em”,Tài liệu hướng dẫn Xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em ở bệnh viện huyện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2003
6. Bộ Y tế (1996), “Chương trình viêm phổi trẻ em”, Tài liệu huấn luyện dành cho cán bộ tuyến tỉnh, huyện, Hà Nội, tr 1-11. X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình viêm phổi trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Tài liệu huấn luyện dành cho cán bộ tuyến tỉnh, huyện
Năm: 1996
8. Nguyễn Đức Chính, Hoàng Hiệp và ban thư ký (1995), “kết quả điều tra tại nhà về NKHHCT trẻ em”, Hội nghị tổng kết sinh hoạt khoa học ARI, Bộ Y tế, Hà Nội, tr 97-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết quả điều tra tại nhà về NKHHCT trẻ em
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Hoàng Hiệp và ban thư ký
Năm: 1995
9. Nguyễn Việt Cồ (1990), “Chuyên đề nhiễm cấp dưỡng thở”, Kỷ yếu chương trình viện vệ sinh dịch tể học, Hà Nội, tr 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nhiễm cấp dưỡng thở
Tác giả: Nguyễn Việt Cồ
Năm: 1990
10. Nguyễn Việt Cồ, Bùi Đức Dương (2000), “Tình hình sử dụng dịch vụ y tế cơ sở và khả năng tiếp cận của trẻ em với chương trình NKHHCT”, Hội nghị tổng kết hoạt động ARI, hà Nội, tr 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng dịch vụ y tế cơ sở và khả năng tiếp cận của trẻ em với chương trình NKHHCT
Tác giả: Nguyễn Việt Cồ, Bùi Đức Dương
Năm: 2000
11. Lê Thị Cúc (2000), “Ngiên cứu mối tương quan tần số thở của trẻ em lúc nằm yên và lúc đang bú”, Hội nghị nhi khoa Pháp - Việt lần thứ 2, Bộ Y tế, tr 186-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngiên cứu mối tương quan tần số thở của trẻ em lúc nằm yên và lúc đang bú
Tác giả: Lê Thị Cúc
Năm: 2000
12. Bùi Đức Dương, Nguyễn Đức Chính (2001), “ Tình hình sử dụng dịch vụ y tế cơ sở và khả năng tiếp cận của trẻ em với chương trình NKHHCT”, Hội nghị khao học về lao và bệnh phổi, Bộ Y tế, tr 103- 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng dịch vụ y tế cơ sở và khả năng tiếp cận của trẻ em với chương trình NKHHCT
Tác giả: Bùi Đức Dương, Nguyễn Đức Chính
Năm: 2001
13. Bùi Đức Dương, Tô Anh Toán (2001), “Điều tra về mắc bệnh và tử vong NKHHCT trẻ em tại huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây và huyện Quảng Xương tỉnh Than Hóa”, Hội nghị khoa học về lao và bệnh phổi, Bộ Y tế, tr 101-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về mắc bệnh và tử vong NKHHCT trẻ em tại huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây và huyện Quảng Xương tỉnh Than Hóa
Tác giả: Bùi Đức Dương, Tô Anh Toán
Năm: 2001
14. Nguyễn Tiến Dũng, Hoàng Kim Huyền, Phan Quỳnh Lan (2000), “Nghiên cứu dịch tể học và sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa nhi bệnh viện Bạch Mai”, Nội san Lao và Bệnh phổi, Tập 37, tr. 71- 77.X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tể học và sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa nhi bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Hoàng Kim Huyền, Phan Quỳnh Lan
Năm: 2000
15. Nguyễn Ngọc Duyên (1995), “Viêm phế quản phổi sơ sinh trong 5 năm 1989 - 1993 tại khoa Nhi bệnh viện Thái Bình”, Hội nghị tổng kết sinh hoạt khoa học ARI, Bộ Y tế, hà Nội, tr 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm phế quản phổi sơ sinh trong 5 năm 1989 - 1993 tại khoa Nhi bệnh viện Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duyên
Năm: 1995
16. Hàn Trung Điền, Bùi Đức Dương (2001), “Tìm hiểu tần suất mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng”, Hội nghị khoa học về lao và bệnh phổi, Bộ Y tế, tr 113-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tần suất mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng
Tác giả: Hàn Trung Điền, Bùi Đức Dương
Năm: 2001
17. Hoàng Hiệp, Hàn Trung Điền (1994), “Thông báo số 1 tình hình mắc bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 1 tuổi tại cộng đồng”, Hội nghị sinh hoạt khoa học ARI, Bộ Y tế, tra 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 1 tình hình mắc bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 1 tuổi tại cộng đồng
Tác giả: Hoàng Hiệp, Hàn Trung Điền
Năm: 1994
18. Nguyễn Minh Hiệp (1998), “Hoạt động chương trình ARI tại khoa Nhi bệnh viện Bắc Ninh”, Họi nghị tổng kết hoạt động ARI, Bộ Y tế, Hà Nội, tr 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chương trình ARI tại khoa Nhi bệnh viện Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Minh Hiệp
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 1998
19. Nguyễn Minh Hiệp (2001), “Giá trị tần số thở nhanh trong chẩn đoán viêm phổi - Một số yếu tố liên quan đến viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Bắc Ninh”, Nội san Loa và bệnh phổi, Tập 37, tr. 19 - 27. X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tần số thở nhanh trong chẩn đoán viêm phổi - Một số yếu tố liên quan đến viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Minh Hiệp
Năm: 2001
20. Nguyễn Minh Hiệp (1998), “Tình hình viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện Bắc Ninh”, ”, Hội nghị tổng kết hoạt động ARI, Bộ Y tế, Hà Nội, tr 91-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện Bắc Ninh”
Tác giả: Nguyễn Minh Hiệp
Năm: 1998
21. Tạ Thị Anh Hoa (1997), “Chương trình quốc gia phòng chống NKHHCT trẻ em”, Bài giảng nhi khoa, tập 1, Trường Đại học Y dược TP HCM, Đà Nẵng, tra 484-486 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia phòng chống NKHHCT trẻ em
Tác giả: Tạ Thị Anh Hoa
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Phân bố NKHHCT theo giới - Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên   huế năm 2007
Bảng 3.2. Phân bố NKHHCT theo giới (Trang 31)
Bảng 3.3. So sánh tỷ lệ NKHHCT và các bệnh khác - Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên   huế năm 2007
Bảng 3.3. So sánh tỷ lệ NKHHCT và các bệnh khác (Trang 32)
Bảng 3.4. Phân bố NKHHCT theo số lần mắc bệnh / năm - Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên   huế năm 2007
Bảng 3.4. Phân bố NKHHCT theo số lần mắc bệnh / năm (Trang 33)
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về NKHHCT và NKHHCT - Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên   huế năm 2007
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về NKHHCT và NKHHCT (Trang 33)
Bảng 3.8. Sự liên quan giữa NKHHCT và S D D - Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên   huế năm 2007
Bảng 3.8. Sự liên quan giữa NKHHCT và S D D (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w