ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay bệnh hen phế quản là một vấn đề y tế được quan tâm đặc biệt vì tỷ lệ mắc bệnh cao trong cộng đồng và ngày càng có xu hướng tăng lên trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Sự phát triển của công nghiệp, quá trình đô thị hoá đã làm môi trường thay đổi, không khí bị ô nhiễm, đã tác động đến tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản. Ở trẻ em, hen phế quản ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ đến sự phát triển và khả năng học tập nếu như không được phát hiện và điều trị đúng đắn. Ở nước ta trong những năm gần đây, hen trẻ em có khuynh hướng gia tăng cả về tần suất mắc bệnh và độ nặng nhưng chưa được chẩn đoán sớm cũng như chưa được điều trị đầy đủ. Để chẩn đoán, đánh giá độ nặng của hen và đánh giá đáp ứng của hen đối với một chế độ điều trị một cách khách quan, dễ thực hiện, có thể sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh (PeaK Flow Meter PFM). PFM đã được sử dụng từ lâu trên thế giới và khẳng định được vai trò của nó trong việc đánh giá và theo dõi tiến triển của bệnh hen. Gần đây PFM cũng đã bắt đầu được sử dụng ở nước ta. Hiện nay nhiều Quốc gia trên thế giới người ta có thể sử dụng bảng trị số lưu lượng đỉnh thở ra (PeaK Expiratory Flow: PEF) bình thường do Golfrey và cộng sự xây dựng năm 1970 28. Đây là bảng trị số PEF bình thường được Viện Quốc gia Tim phổi và Huyết học thuộc Bộ Y tế Hoa Kỳ sử dụng. Trong thời gian gần đây một số tác giả Việt Nam đã khảo sát trị số PEF trên người bình thường ở khu vực Thượng Đình và Thanh Trì, Hà Nội và ở một số trường học thuộc 2 khu vực Thành Phố Huế 3, 7, 11, 12, 22. Trong những nghiên cứu này các tác giả chủ yếu nghiên cứu ở lứa tuổi trên 6 tuổi. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng cần nghiên cứu thêm về PEF ở trẻ 5 6 tuổi, góp phần xây dựng bảng trị số PEF bình thường cho trẻ em Thừa Thiên Huế với những nét đặc thù riêng. Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Tìm hiểu trị số lưu lượng đỉnh của trẻ em từ 5 6 tuổi tại Trường Mầm Non Thành Phố Huế với các mục tiêu nghiên cứu như sau: 1. Xây dựng bảng trị số PEF bình thường ở trẻ em từ 56 tuổi thuộc Trường Mầm Non I và Mầm Non II Thành Phố Huế. 2. Xác định mối tương quan giữa trị số PEF với chiều cao ở trẻ 5 6 tuổi. Hy vọng sẽ góp phần xây dựng bảng trị số PEF bình thường cho trẻ em Việt Nam.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi dưới sự hướng dẫn và dìu dắt của cô ThS.BS Lê Thị Cúc Các kết quả trong luận văn trung thực được thực hiện tại Trường Mầm Non I và Mầm Non II, Thành Phố Huế từ tháng 11 - 2007 đến tháng 2 năm 2008 và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 2NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
COPD : Chronic obstructive Pulmonary Disease FEV1 : Flow Expiratory Volume
FVC : Forced Vital Capacity
MMF : Maximum Midexpiratory Flow
PEF : Peak Expiratory Flow
PFM : Peak Flow Meter
Trang 3MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược về bệnh hen trẻ em 3
1.2 Đánh giá chức năng phổi trong hen phế quản 8
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thống kê chungvề giới, tuổi, chiều cao và PEF 20
3.2 Thống kê về tuổi, chiều cao, PEF và PEF theo giới của hai Trường 24
3.3 Tương quan giữa PEF và chiều cao 27
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 28
4.1 Nhận xét và bàn luận chung về giới, tuổi, chiều cao, trị số trung bình PEF cho cả hai giới nam và nữ 28
4.2 Nhận xét về tuổi, chiều cao, trị số PEF trung bình giữa hai Trường Mầm Non I và Mầm Non II Thành Phố Huế 30
4.3 Nhận xét về mối tương quan giữa PEF với chiều cao 32
4.4 Một số nhận xét và so sánh kết quả nghiên cứu với các tác giả trong và ngoài nước 33
KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 41
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay bệnh hen phế quản là một vấn đề y tế được quan tâm đặc biệt
vì tỷ lệ mắc bệnh cao trong cộng đồng và ngày càng có xu hướng tăng lên trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam
Sự phát triển của công nghiệp, quá trình đô thị hoá đã làm môi trường thay đổi, không khí bị ô nhiễm, đã tác động đến tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản
Ở trẻ em, hen phế quản ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ đến sự phát triển và khả năng học tập nếu như không được phát hiện và điều trị đúng đắn
Ở nước ta trong những năm gần đây, hen trẻ em có khuynh hướng gia tăng cả về tần suất mắc bệnh và độ nặng nhưng chưa được chẩn đoán sớm cũng như chưa được điều trị đầy đủ
Để chẩn đoán, đánh giá độ nặng của hen và đánh giá đáp ứng của hen đối với một chế độ điều trị một cách khách quan, dễ thực hiện, có thể sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh (PeaK Flow Meter - PFM) PFM đã được sử dụng từ lâu trên thế giới và khẳng định được vai trò của nó trong việc đánh giá và theo dõi tiến triển của bệnh hen
Gần đây PFM cũng đã bắt đầu được sử dụng ở nước ta Hiện nay nhiều Quốc gia trên thế giới người ta có thể sử dụng bảng trị số lưu lượng đỉnh thở
ra (PeaK Expiratory - Flow: PEF) bình thường do Golfrey và cộng sự xây dựng năm 1970 [28] Đây là bảng trị số PEF bình thường được Viện Quốc gia Tim phổi và Huyết học thuộc Bộ Y tế Hoa Kỳ sử dụng Trong thời gian gần đây một số tác giả Việt Nam đã khảo sát trị số PEF trên người bình thường ở khu vực Thượng Đình và Thanh Trì, Hà Nội và ở một số trường học thuộc
Trang 5Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Tìm hiểu trị số lưu lượng
đỉnh của trẻ em từ 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm Non Thành Phố Huế" với các
mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Xây dựng bảng trị số PEF bình thường ở trẻ em từ 5-6 tuổi thuộc Trường Mầm Non I và Mầm Non II Thành Phố Huế
2 Xác định mối tương quan giữa trị số PEF với chiều cao ở trẻ 5 - 6 tuổi
Hy vọng sẽ góp phần xây dựng bảng trị số PEF bình thường cho trẻ em Việt Nam
Trang 63
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH HEN TRẺ EM
1.1.1 Một vài nét về lịch sử của bệnh hen phế quản ở trẻ em
Hen phế quản là một bệnh được mô tả từ thời cổ đại cách đây gần 3000 năm Các nhà Y học Trung Quốc, Cổ Hilạp và Ai Cập đã thông báo về chứng bệnh khó thở Sau đó Hippocrat đề xuất và giải thích từ "Asthma" (thở vội vã) Năm 1698 John Floyer giải thích dấu hiệu khó thở này là do co thắt phế quản J.Cullen (1777) mô tả cơn khó thở về đêm, có liên quan đến thời tiết và di truyền Lacnnec (1819) khẳng định khó thở là do co thắt cơ Reissessen
Phát hiện của Richet về sốc phản vệ năm 1902 (được giải thưởng Nobel 1913) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về hen phế quản và các bệnh
dị ứng Năm 1914 Widal đưa ra thuyết dị ứng về hen phế quản và đến năm
1932 mới có hội nghị lần thứ I về hen phế quản Từ sau hội nghị này (1936 - 1945) nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các thuốc điều trị hen phế quản và các bệnh dị ứng, phát hiện ra thuốc kháng histamin Từ 1962-1972 nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bệnh sinh như Burnet, Miller Roitt nghiên cứu vai trò của tuyến ức, các tế bào T và B trong hen phế quản, Ishisaka phát hiện IgE (1972)
Từ năm 1985 đến nay nhiều tác giả đã nghiên cứu và chứng minh rằng viêm đóng vai trò chủ yếu trong hen phế quản dẫn đến tình trạng co thắt phế quản, tăng tính phản ứng phế quản và đã có nhiều nghiên cứu để cải thiện một bước quan trọng trong điều trị hen phế quản Năm 1992 chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen (Global Initiative for Asthma - GINA) ra đời nhằm mục đích đề ra chiến lược quản lý, khống chế và dự phòng bệnh hen phế quản Chiến lược toàn cầu quản lý và dự phòng bệnh hen ra đời là do sự
cố gắng hợp tác giữa Viện Quốc gia Tim phổi và Huyết học (National Lung and Blood Institute) ở bang Maryland (Hoa Kỳ) và Tổ Chức Y Tế Thế
Trang 71.1.3 Dịch tễ học
Hen phế quản là một trong những bệnh mạn tính thường gặp ở trẻ em, xuất hiện ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) ở trẻ em thay đổi từ 0 - 30% tuỳ theo vùng dân cư (tại Việt Nam khoảng 5-10%) Hen
có mặt ở mọi quốc gia dù ở trình độ phát triển nào, có vẻ trội hơn ở những nước đã phát triển Sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc đặc biệt đáng kể ở một số nước như Anh Quốc, xứ Wales, Israel, New Zealand và Australia [9], [23]
Bảng 1.1 Tỷ lệ hen trẻ em
NC
Lứa tuổi
TLHM
NC
Lứa tuổi
TLH
M %
Úc 1982 8-10 5,4 Indonesia 1981 7-15 1,2 Tân Tây Lan 1981 9 11,1 Trung Quốc 1988 11-17 1,9
Đan Mạch 1887 7-16 5,3
Trang 85
1.1.4 Nguyên nhân
1.1.4.1 Những nguyên nhân chủ yếu
Hen phế quản thường do những nguyên nhân sau đây
- Các dị nguyên hô hấp như: Bụi nhà (chủ yếu là dị ứng nguyên từ loài
ve Acariens) khói, lông súc vật, phấn hoa, các chất hoá học và các chất có mùi mạnh, các khí lạnh
- Các dị nguyên thức ăn: Cua, tôm, cá, sò, hến, trứng, các loài thịt thú rừng
- Yếu tố nhiễm khuẩn như: Viêm phế quản, viêm phổi tái phát, viêm phổi kẽ, viêm xoang, viêm amidan, VA và các bệnh hô hấp mạn tính khác đều
có thể là nguyên nhân gây hen phế quản sau này
+ Do virus: Một số virus ái hô hấp cũng có thể gây hen thông qua sự tăng sản xuất IgE đặc hiệu đối với virus đó hoặc kích thích thụ thể phản xạ trục
+ Do nấm: Các nấm mốc gây hen phế quản thường có ở trong các ngôi nhà ẩm thấp
- Các yếu tố thuận lợi
+ Tuổi: Hen phế quản có thể bắt đầu xuất hiện vào bất kỳ lứa tuổi nào, 30% bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng lúc 1 tuổi, trẻ dưới 6 tháng ít gặp, hen hay gặp ở trẻ trên 1 tuổi, 80 - 90% số trẻ em xuất hiện triệu chứng hen trước 5 tuổi
- Giới: Trước tuổi dậy thì hen phế quản thường gặp ở con trai, nhưng sau tuổi dậy thì tỷ lệ con trai và con gái như nhau
- Địa dư: Có sự liên quan giữa môi trường địa lý, khí hậu với hen phế quản Các yếu tố khí hậu, thời tiết, độ ẩm, môi trường sinh thái ở từng vùng
có ảnh hưởng đến việc xuất hiện bệnh hen
- Yếu tố gia đình: Qua nghiên cứu phả hệ của các gia đình có người bị hen và nhận thấy những bệnh dị ứng sau đây có tính chất gia đình hen phế
Trang 91.1.5 Lâm sàng
1.1.5.1 Cơn hen cấp điển hình
Cơn hen cấp điển hình thường gặp là hen dị ứng, có triệu chứng lâm sàng giống như ở người lớn
- Giai đoạn khởi phát: Bệnh xuất hiện đột ngột thường là nửa đêm về sáng, bắt đầu với những triệu chứng báo trước như ngứa mũi, hắt hơi, chảy mũi nước, nước mắt, ho từng cơn, bồn chồn nhưng các triệu chứng không phải lúc nào cũng có
- Giai đoạn lên cơn: Cơn khó thở xảy ra, với khó thở chậm kỳ thở ra Trong cơn hen lồng ngực bệnh nhân căng ra, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, có thể
có tím ở đầu tay chân sau đó lan ra mặt và toàn thân Trẻ sò sè nghe phổi có nhiều rales rít và rales ngáy Cơn khó thở dài hay ngắn tuỳ theo từng bệnh nhân
- Giai đoạn lui cơn: Các triệu chứng trên không còn, lúc này khám lâm sàng bình thường Tuy nhiên nếu làm một số trắc nghiệm gắng sức, dùng acetycholine thì vẫn phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản [1], [9], [10]
1.1.5.2 Hen không điển hình
Thường gặp ở trẻ nhỏ
- Hen đi kèm nhiễm virus đường hô hấp, khởi đầu bằng ho, sốt, sổ mũi, sau đó trẻ bắt đầu sò sè, khó thở, ho thành cơn Khám thực thể phát hiện hội
Trang 107
chứng khí phế thủng và nghe phổi có nhiều ran ngáy, ran rít lẫn ran ẩm vừa to hạt Triệu chứng thường kéo dài theo diễn tiến của bệnh nhiễm virus hô hấp
và ít đáp ứng với thuốc dãn phế quản
- Hen ở những trẻ trào ngược dạ dày thực quản Trẻ hay bị những đợt
sò sè khó thở và ho nhất là ban đêm Khám phổi vào những lúc lên cơn có nhiều ran ngáy ,ran rít kèm hội chứng khí phế thủng Những trẻ này thường
có tiền sử hay bị nôn trớ và chậm lên cân
- Hen ẩn với biểu hiện những cơn ho kéo dài về ban đêm Trẻ chỉ có ho dai dẳng thành cơn nhất là ban đêm Khám phổi không phát hiện triệu chứng gì đặc biệt Thể này đáp ứng tốt với Theophylin uống [4], [5],[6], [9], [18], [21]
Trang 118
+ Test lẫy da dương tính
+ Test gây hen với dị ứng nguyên nghi ngờ dương tính
1.1.7.2 Hen không dị ứng
* Các triệu chứng gợi ý
+ Không có tiền sử về hen và dị ứng của bản thân và gia đình
+ Cơn hen xuất hiện từ từ và liên quan đến nhiễm virus đường hô hấp hoặc các kích thích không đặc hiệu hay do trào ngược dạ dày thực quản
+ Cơn hen thường không nặng nề nhưng kéo dài
+ Điều trị ít đáp ứng với thuốc giãn phế quản
* Chẩn đoán xác định
+ Hen có liên quan đến nhiễm virus đường hô hấp và được xác định khi
đã loại trừ hen dị ứng và các nguyên nhân khác
+ Hen do trào ngược dạ dày thực quản được chẩn đoán khi bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản được xác định và điều trị bệnh lý này thì tình trạng của hen cải thiện rõ rệt, chẩn đoán cũng cần dựa vào đo pH thực quản [9], [15]
1.2 ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG PHỔI TRONG HEN PHẾ QUẢN
Việc đánh giá bệnh hen phế quản phải căn cứ vào triệu chứng và các dấu hiệu trên lâm sàng Tuy nhiên việc đánh giá đó còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của mỗi cá nhân đánh giá, vào thời điểm đánh giá và các giai đoạn của bệnh, chưa kể những trường hợp tắc nghẽn phế quản thể ẩn rất khó phát hiện trên lâm sàng Do vậy, cần có những phương tiện đo lường chức năng phổi để có thể đánh giá các bệnh tắc nghẽn phế quản một cách khách quan
Đối với trẻ em, việc thăm dò chức năng phổi trước đây có thể thực hiện bằng máy phế dung kế (Spirometer) Chức năng phổi và tình trạng tắc nghẽn khí đạo có thể được đánh giá thông qua các chỉ số như:
Trang 12- Đo FEV1 và PEF trước và sau phun thuốc giãn phế quản 15 phút Nếu chỉ
số tăng ≥ 15% so với trước phun thuốc, xác định hen phế quản [2], [8], [20], [30]
- Lưu lượng quãng giữa của FVC
- Đường biểu diễn lưu lượng theo thể tích
Các chỉ số đo lường trên tuy chính xác nhưng dụng cụ đo (Spirometer) lại cồng kềnh và mất nhiều thời gian, hơn nữa nó không thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng Như vậy là việc áp dụng chúng rất hạn chế, không thể đáp ứng với tình hình bệnh hen hiện nay Để thay thế chức năng của phế dung kế nhưng phạm vi áp dụng rộng rãi hơn, gọn nhẹ và dễ sử dụng tại nhà bệnh nhân, máy đo lưu lượng đỉnh đã được WRIGHT và KERROW sử dụng lần đầu tiên vào năm 1958 [24] đến nay đã trở thành dụng cụ phổ thông, được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, từ một mẫu máy ban đầu đến nay đã có hàng chục PFM với những mẫu mà đa dạng khác nhau
1.2.1 Nguyên lý hoạt động của PFM
Khi ta đặt một vật cản trong luồng không khí, vật cản này sẽ tạo ra một
sự giảm áp suất (đằng sau nó) tỷ lệ với diện tích vật cản, chiều dài của khoảng cách từ đầu ống đến vật cản, lưu lượng luồng khí đi qua [33]
Trang 1310
1.2.2 Cấu tạo của PFM: có hình vẽ minh hoạ
Hình 1.1 Cấu tạo của PFM
Hình 1.2 Máy đo PFM hiệu Vitalograph sản xuất tại EC
1.2.3 Công dụng của PFM
PFM dùng để đánh giá trị số lưu lượng đỉnh kỳ thở ra (PEF) Trị số này giảm tỷ lệ với sự giảm thể tích phổi, sự hẹp và tắc nghẽn trong lòng phế quản Vậy PFM dùng để đo trị số PEF nhằm:
+ Đánh giá mức độ tắc nghẽn, mức độ nặng nhẹ của hen, của viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính COPD
+ Nhẹ: PEF > 80%
+ Vừa: PEF 60 - 80%
+ Nặng: PEF < 60% [29]
Trang 141.2.4 Cách đo PEF với máy PFM
Để có kết quả chính xác khi đo PEF với máy PFM, cần chấp hành những nguyên tắc sau
Hình 1.3 Cách đo PEF với PFM
1 Lắp vòi thổi vào máy
2 Đưa kim chỉ về vạch 0
3 Đứng thẳng, giữ máy đo không cản trở con chạy di chuyển trên thước đo Kiểm tra để đưa con chạy về vị trí gốc trên thước
4 Hít vào một hơi thật sâu, đặt đầu ống thổi của máy vào miệng, ngậm kín đầu thổi
và thổi ra thật mạnh và thật nhanh Chú ý không để lưỡi chắn vào đầu thổi
5 Ghi kết quả đưa con chạy về vị trí gốc
6 Đo lại hai lần nữa Chọn kết quả cao nhất trong ba lần đo
Trang 1512
1.2.5 Những hạn chế của PFM
Tuy PFM có thể đánh giá PEF một cách đơn giản, tiện lợi, qua đó có thể đánh giá được mức độ tắc nghẽn khí đạo, nhưng PFM không hoàn toàn thay thế được vai trò của phế dung kế cổ điển (Sprirometer) vì:
+ PFM không thể phát hiện được bệnh lý tắc nghẽn ở các khí đạo nhỏ trên những bệnh nhân hen kín đáo Vì vậy PEF giảm có thể là một triệu chứng chỉ điểm quá muộn của một bệnh lý tắc nghẽn tiềm tàng đã đến giai đoạn quá trầm trọng [32]
+ Không thể chỉ dựa vào trị số PEF đơn độc để chẩn đoán hen
+ Không thể đánh giá được vị trí tắc nghẽn hoặc tình trạng trao đổi khí [25] + PEF có thể giảm do những nguyên nhân không do tắc nghẽn khí đạo (ví dụ do giảm cường tính hô hấp, những bất thường về hình thái lồng ngực )
+ Không thể đo PEF cho trẻ quá nhỏ (≤ 4 tuổi) vì thao tác tuy đơn giản nhưng đòi hỏi phải có sự hiểu biết và thực hiện đúng những động tác theo yêu cầu [31]
1.2.6 Bảo quản máy PFM
Máy được chế tạo chính xác với chất lượng tốt để dùng lâu dài Tuy nhiên cần phải giữ máy sạch sẽ, vòi thổi hay các ống nối có thể sát trùng bằng cách ngâm trong các dung dịch sát trùng thông thường sau khi đã được rửa sạch bằng nước sạch, không được sát trùng bằng cách đun sôi hoặc hơ nóng trên 750
C
Sau mỗi đợt sử dụng nên ngâm PFM trong nước ấm có pha một ít chất tẩy nhẹ khoảng 30 phút để tẩy sạch các chất bẩn có thể đọng lại bên trong máy (bụi, chất nhầy trong nước bọt ) chất tẩy không được chứa các chất sát khuẩn hoặc phénol
Trang 1613
Khi máy được sử dụng quá nhiều cần định kỳ tháo rời máy để kiểm tra
và lau chùi bên trong Nếu không được giữ sạch sẽ, nấm mốc sẽ nhanh chóng phát triển bên trong máy
1.2.7 Trị số PEF bình thường ở trẻ em
Bảng 1.2 Trị số PEF bình thường ở nam giới theo Godfrey và cộng sự (1970) Brit J.Dis chest 64.15 [28]
Tuổi Chiều cao
Trang 1714
Bảng 1.3 Trị số PEF bình thường ở nữ giới theo Godfrey và cộng sự (1970) Brit J.Dis chest 64.15 [28]
Tuổi Chiều cao
Trang 1815
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG
- Tiêu chuẩn chọn lựa:
Tất cả trẻ em 5-6 tuổi của Trường Mầm Non I và Mầm Non II Thành Phố Huế mà không có các bệnh ở mục tiêu chuẩn loại trừ
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ em bị bệnh mãn tính như hen phế quản, viêm phế quản mãn, tim bẩm sinh
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra dịch tễ ngang
Trang 194) Đứng thẳng, cằm nâng cao, giữ máy như hình 2.1 Hít vào thật sâu
và thở ra thật mạnh và nhanh Đọc số kim chỉ trên thước Đưa kim chỉ về lại
số 0 Thổi 3 lần và lấy trị số cao nhất
Trang 2017
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu:
- Máy đo PEF hiệu Vitalograph của EC (xem hình 2.2)
- Thước đo chiều cao
Hình 2.2 Máy đo hiệu Vitalograph của EC
2.2.4 Xử lý thống kê:
- Các phương pháp xử lý thống kê:
Số liệu được nhập và xử lý bằng chương trình SPSS for WINDOW 10.0 sử dụng các phép tính thống kê sau:
* Thống kê tổng quát, tính tỉ lệ, tính trị số trung bình và độ lệch chuẩn
* Phép kiểm định T - test cặp đôi
* Phép tính tương quan r
- Các công thức được sử dụng:
+ Công thức tính trị số trung bình:
Trang 2118
X x / n
+ Công thức tính độ lệch chuẩn:
2(X X) SD
Trong đó: k là tần suất, n là cỡ mẫu
+ Công thức kiểm định t - test cặp đôi:
- d x: Là trung bình của chênh lệch
- Sd: là độ lệch chuẩn của chênh lệch
+ Trong tất cả các phương pháp kiểm định đều lấy ( = 0,05 hoặc 0,01 trong đó: 0 là số quan sát, E là số tính toán
- Hệ số tương quan Pearson (r):
n xy x y r
+ x là trị số của biến x, y là trị số của biến y
Kiểm định hệ số tương quan theo công thức sau:
2
n 2 t
1 r
Trang 2219
Tương quan có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Đánh giá tương quan như sau:
* Trị số r > 0: gọi là tương quan thuận
* Trị số r < 0: gọi là trị số tương quan nghịch
* r ≥ 0,7: tương quan rất chặt
* 0,5 ≤ r < 0,7 : tương quan khá chặt
* 0,3 ≤ r < 0,5: tương quan vừa
* r < 0,3: rất ít tương quan