MÔ HÌNH DỰ BÁO THUẾ Dự báo số tiền thuế thu được đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách tài khóa và đánh giá hiệu quả hoạt động ngành thuế cũng như quá trình thực t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC MÔ HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG
1 Tên môn học: MÔ HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG
2 Tổng số tiết môn học: 30 tiết
Trong đó: - số tiết lý thuyết: 30
3 Danh sách giảng viên
mô, Kinh tế vi mô, Tài chính công, Thuế
5 Mục tiêu môn học
Mục tiêu nhận thức:
Sau khi nghiên cứu xong môn học này, học viên sẽ:
- Hiểu rõ mối liên hệ logic giữa các biến số thuộc khu vực công
- Nghiên cứu những mô hình phổ biến trên thế giới
- Đo lường/định lượng hoặc là xác định rõ năng lực cũng như giới hạn của khu vực công trong việc cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho xã hội
Mục tiêu kỹ năng:
Sau khi nghiên cứu xong môn học này, học viên sẽ:
- Xem xét một cách toàn diện mọi nhân tố phái sinh hoặc những tác động phụ không mong muốn khi đề ra một chính sách công
- Truy nguyên những thất bại của chính phủ và chính quyền các cấp khi thực thi nhiệm vụ của mình
6 Tài liệu tham khảo chính
6.1 Tiếng Anh
1 Fiscal Policy and Economic Growth, Alfred Greiner, Published by Avebury, 1996
2 Modern Public Finance, Edited by John M Quigley and Eugene Smolensky,
1997
3 Economic Growth, Robert J Barro and Xavier Sala-I-Martin, 1995 by
McGraw-Hill Inc
4 K ế hoạch hóa đầu tư khu vực công cho những nước đang phát triển, E V K
Fitzgerald, biên dịch bởi Nguyễn Trọng Hoài, 3-2000
Tiếng Việt
Trang 25 Phân tích chi phí và l ợi ích cho các quyết định đầu tư, Sách hướng dẫn, Glenn P
Jenkins và Arnold C Harberger, Harvard Institude for International Development, Chương trình Fulbright Việt Nam, tháng 2 năm 1995
6 Phân tích kinh t ế các hoạt động đầu tư, Pedro Belli, Viện Ngân hàng thế giới
thuộc Ngân hàng thế giới, bản dịch tiếng Việt bởi Vũ Cương, Nxb Văn Thông tin, Hà Nội – 2002
hóa-7 Báo cáo phát tri ển hàng năm của Ngân hàng thế giới
8 Kinh t ế Việt Nam và thế giới, Phụ trương của Thời báo kinh tế Việt Nam
7 Phương pháp đánh giá
Điểm cuối kỳ của môn học là tổng số điểm của hai phần:
1 Đánh giá quá trình (trọng số = 30% tổng số điểm)
2 Thi viết cuối môn học (trọng số = 70% tổng số điểm)
8 Nội dung
Gồm các phần sau:
§1 Giới thiệu chung
§2 Mô hình cân bằng ngân sách
§3 Mô hình nợ
§4 Mô hình dự báo thuế
§5 Mô hình xác định lợi ích kinh tế trong đầu tư công
§6 Mô hình xác định chi phí cơ hội kinh tế của vốn công
Trang 3§1 GIỚI THIỆU CHUNG
- Khái niệm về mô hình tài chính công
Mô hình được hiểu một cách tổng quát là những tác động logic giữa các biến số chính liên quan một vấn đề nào đó
Mô hình tài chính chính phủ là một bộ phận của mô hình kinh tế tập trung nghiên cứu những tác động hữu cơ giữa các đại lượng như: tổng thu ngân sách nhà nước, tổng chi ngân sách nhà nước, nợ công, thâm hụt, đầu tư của chính phủ,…
- Chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến ngân sách nhà nước, nợ công và đầu tư công
Trang 4§2 MÔ HÌNH CÂN BẰNG NGÂN SÁCH
2.1 Dạng đơn giản từ Lý thuyết phát triển của Harrod-Domar
Xuất phát từ Lý thuyết phát triển Harrod – Domar :
ICOR
m a t t s
G Y (1 )( ) (2.1a)
Triển khai: GY ICOR = s(1 – t) + (t – a) + m
GY ICOR – s(1 – t) – m = (t – a) = 0
st = s + m – GY ICOR Suy ra:
t =
s
ICOR G
s : tỉ lệ tiết kiệm tư nhân
s = S p /(Y T) , với Sp là tiết kiệm của khu vực tư, Y là GDP và T là tổng thu của chính phủ
t : tỉ lệ thu ngân sách so với GDP; t = T/Y
a : tỉ lệ chi ngân sách so với GDP; a = G/Y , với G là tổng chi ngân sách
m : tỉ lệ nhập khẩu biên
m = (M – X)/Y , với M là tổng kim ngạch nhập khẩu và X là tổng kim ngạch xuất khẩu ICOR: tỉ lệ giữa vốn biên và GDP biên
ICOR = K/Y , với K là số vốn gia tăng và Y là số GDP gia tăng
GY : tốc độ tăng trưởng GDP; GY = Y/Y
2.2 Mô hình giới hạn ngân sách
Trang 52.2.2 Domar [1957]
B: nợ công
i: Lãi suất vay nợ
Ý nghĩa: Chính phủ phải giảm chi tiêu khi nợ công gia tăng vì tổng chi tiêu của
chính phủ là hằng số
X = T – iB
2.2.3 Barro [1979]
X – T + iB = gB (2.2.3) với X Cp + TRp +
Gpublic capital g: Tỷ lệ tăng nợ công
Suy ra:
X – T = gB – iB
Ý nghĩa: chính phủ chấp nhận quy mô nợ công tăng theo một tỉ lệ không đổi
2.3 Mô hình cân bằng ngân sách có vay nợ [Alfred Greiner, 1996]
Bảng 1: Bốn mô hình cân bằng ngân sách
2 (C p + TR p )+ 4 iB T Đầu tư công + (1 – 4)iB
C p : Tiêu dùng của khu vực công
TR p : Chuyển giao cho cá nhân
4 : Tỉ phần thu ngân sách chi trả lãi vay từ nợ công
G : Đầu tư công = 3(1 – 0)T, với 0 là tỉ phần thu ngân sách chi cho những hoạt động không sinh lợi và được xác định như sau:
])1[(
1)
Trang 7dt: Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP năm t
Gọi Bt+1 là tổng số nợ công trong năm (t + 1) thì nó được xác định như sau:
t t t
Y t t
t
Y G
Y d Y
G
B i Y
B
)1()1(
)1(1
d b G
1
(2.4b)
Với mục tiêu ổn định tỷ lệ nợ so với GDP, tức là bt+1= bt = bt-1=….= b
Như vậy, phương trình (2.4b) được thay thế như sau:
b =
Y t Y
t
d b i G
d b G
1
1
Trang 8
Chuyển vế và đơn giản, ta có:
b =
i G
1 Các chỉ tiêu chính được đánh giá, giám sát theo ngưỡng an toàn nợ:
a) Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài (PV FD):
Là tổng các nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) trong tương lai của tổng số nợ nước ngoài hiện có được quy về thời điểm hiện tại
Công thức tính giá trị hiện tại của nợ nước ngoài (PV FD) như sau:
n DSi
PV FD bằng (=) ∑ _
i = 1 (1 + r)iTrong đó: - DSi là nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) của năm thứ i
- r là hệ số chiết khấu để tính toán giá trị hiện tại của nợ nước ngoài
- n là số năm đưa vào tính toán b) Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài so với GDP (PV FD/GDP) được tính tại thời điểm cuối mỗi năm như sau:
Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài cuối kỳ
PV FD /GDP bằng (=) x100%
GDP trong kỳ (năm) c) Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ (PV FD/EX):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP Tốc độ tăng GDP – Lãi suất nợ vay
Trang 9Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài cuối kỳ
PV FD/EX bằng (=) _ x 100%
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trong kỳ (năm) d) Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài so với thu ngân sách nhà nước (PV FD/Thu NSNN):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài cuối kỳ
PV FD/Thu NSNN bằng (=) _ x 100%
Thu Ngân sách Nhà nước trong kỳ (năm)
e) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (DS/EX):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm DS/EX bằng (=) x 100%
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trong kỳ (năm) f) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm so với thu ngân sách nhà nước (DS/GR):
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm DS/GR bằng (=) _ x 100%
Thu ngân sách nhà nước trong kỳ (năm)
g) Dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng số nợ nước ngoài ngắn hạn (FR/STD): Chỉ tiêu này được tính như sau:
Dự trữ ngoại hối nhà nước cuối kỳ FR/STD bằng (=) _ x 100%
Tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn cuối kỳ
2 Nhóm chỉ tiêu nợ nước ngoài của Chính phủ và của khu vực công
a) Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài của khu vực công so với GDP (PV PD/GDP): Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài của khu vực công là là tổng các nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) trong tương lai của tổng số nợ nước ngoài hiện có của khu vực công được quy về thời điểm hiện tại
Chỉ tiêu này được tính tại thời điểm cuối mỗi năm như sau:
Giá trị hiện tại của nợ nước ngoài của khu vực công cuối kỳ
PV PD/GDP bằng (=) _ x 100%
GDP trong kỳ (năm)
Trang 10b) Nghĩa vụ trả nợ hàng năm của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước (DS GD/GR):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nghĩa vụ trả nợ hàng năm (kể cả trả nợ trong nước) của Chính phủ
DS GD/GR bằng (=) x 100%
Thu ngân sách nhà nước (năm)
c) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước (DSExt/GR): Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm của Chính phủ
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nghĩa vụ nợ dự phòng cuối kỳ (năm) của Chính phủ CL/GR bằng (=) _ x 100%
Thu ngân sách nhà nước (năm)
Trang 11§4 MÔ HÌNH DỰ BÁO THUẾ
Dự báo số tiền thuế thu được đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách tài khóa và đánh giá hiệu quả hoạt động ngành thuế cũng như quá trình thực thi chính sách thuế bao gồm cả những kiến nghị sửa đổi thuế Nếu việc dự báo số thu kém chính xác sẽ dẫn đến hoạch định ngân sách thoát ly thực tế và phải nhiều lần điều chỉnh trong trong năm vì các kiến nghị về ngân sách không thể hiện dữ liệu liên quan đến số thu một cách chính xác Điều này có ý nghĩa sống còn đối với những quốc gia mà số thu
từ thuế tài trợ hơn 90% chi tiêu của chính phủ Ngoài ra nếu dự báo thuế yếu kém còn gây ra những tác động không tốt trong điều hành thu và tạo những căng thẳng không đáng có trong nội bộ ngành thuế và giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế
Nội dung chương này gồm các nội dung:
- Vai trò của công tác dự báo thuế
- Vai trò của độ nổi và hệ số co giãn
- Phương pháp luận
- Kinh nghiệm dự báo tại một số quốc gia
1 Vai trò của công tác dự báo thuế
1.1 Khái niệm
Dự báo thuế là một hoạt động của cơ quan chuyên môn nhằm dự đoán số thuế sẽ thu được trong ngắn hạn và dài hạn
Nếu xét một cách chặt chẽ có hai khái niệm gần giống nhau Một là ước tính thuế và hai
là dự báo thuế Ước tính thuế nhằm xác định số thuế sẽ thu được trong năm thực hiện Chẳng hạn bây giờ là tháng 10 của năm x1, cơ quan thuế tiến hành ước tính số thuế sẽ
thu được trong năm x1 dựa vào số thu đến tháng 9 của năm x1, tình hình thu các năm gần đây, tính hình kinh tế của năm hiện hành và những nhân tố khác Như vậy ước tính thuế diễn ra trong năm hiện hành để đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch thu Dự báo thuế nhằm đưa ra một con số thuế sẽ thu được trong một hoặc nhiều năm tới nhằm cung cấp thông tin xây dựng dự toán thu cho năm ngân sách sắp đến
Không chỉ có cơ quan thuế các cấp mới tiến hành dự báo mà những cơ quan của quốc hội
và các tổ chức, cá nhân cũng tiến hành dự báo thuế phục vụ cho hoạt động của mình Phương pháp và mục đích dự báo của mỗi chủ thể khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ thảo luận dự báo thuế từ góc độ cơ quan thuế
1.2 Đặc điểm
- Gắn liền với hoạch định ngân sách nhà nước
Khác nhau ở các quốc gia Những quốc gia mà hệ thống thuế gắn với nền kinh tế
thể hiện ở độ nổi ổn định xung quanh số 1, sẽ có những ước đoán với độ tin cậy cao hơn
Trang 12
1.3 Yêu cầu
Phương pháp dự báo phải có cơ sở khoa học vững chắc nhưng đủ đơn giản để có thể nâng cao năng lực phân tích đồng thời sử dụng được bởi công chức thuế mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở
Phương pháp dự toán phải có khả năng kết tập được những thay đổi của các đại lượng kinh tế vĩ mô và phải linh hoạt để đáp ứng được yêu cầu quản lý
Phương pháp dự toán phải thống nhất với các phương pháp chính thống được sử dụng trong bộ chủ quản nói riêng và trong chính phủ nói chung
1.4 Vai trò
- Việc dự báo nguồn thu và sau đó tổ chức thu một cách có hiệu quả là các bộ phận cấu thành quan trọng của quá trình hoạch định ngân sách Nhà nước Dự báo thu một cách chính xác đảm bảo cho ngân sách Nhà nước có được tác động kinh tế một cách có kế hoạch Việc bội thu hoặc bội chi ngân sách ngoài dự kiến do dự báo thu không chính xác có thể gây ra các tác động kinh tế vĩ mô không lường trước Thí dụ, bội thu ngân sách có kế hoạch là phương tiện để kiềm chế sức ép lạm phát đối với nền kinh tế, nhưng nếu bội thu theo kế hoạch đó lại xuất phát từ việc đánh giá quá cao về nguồn thu và do đó, kết quả thực tế là bội chi thì tác động tiếp theo sẽ là thúc đẩy hơn nữa lạm phát Một sự bội chi ngoài dự kiến như vậy còn có thể gây nên các vấn đề về dòng luân chuyển tiền tệ cho nhà nước
- Dự báo một cách chính xác nguồn thu còn có vai trò quan trọng trong việc xác định kinh phí hoạt động của bộ máy thu bởi hạn mức kinh phí mà cơ quan này nhận được dựa trên cơ sở tổng số thu từ thuế đã được dự tính Bất cứ một sự không chính xác nào của việc dự báo thu đều có thể tạo ra các vấn đề về thanh toán cho bản thân cơ quan này Ở Việt Nam, theo đề nghị của Bộ Tài chính, giai đoạn 2005-2007, mức kinh phí giao khoán từ nguồn ngân sách nhà nước của Tổng cục Thuế là 2% và Tổng cục Hải quan là 1,6% trên tổng số thu nộp vào ngân sách nhà nước hàng năm do hai ngành này thực hiện1 Hai con số này sẽ được Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội nâng thành 2,2% và 2% cho giai đoạn 2008 – 2010.2 Ở Singapore, kinh phí hoạt động của Cơ quan thu nội địa Singapore (IRAS) đơn vị quản lý 50% số thu ngân sách nhà nước, cũng được Chính phủ cung cấp căn cứ vào số thuế thu được
- Dự báo là một căn cứ quan trọng để đo lường khả năng thụ thuế của nền kinh tế
và những nỗ lực thu của cơ quan thuế, tức là đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế
Trang 13t là tỷ lệ phần trăm thuế thực thu trong năm đang xét so với GDP
Nỗ lực thu thuế là tỉ số giữa tỷ lệ phần trăm thuế thực thu trong năm đang xét so với GDP với khả năng thụ thuế của nền kinh tế
Nỗ lực thu thuế = *
t t
Nếu nỗ lực thu thuế lớn hơn 1 thì nền kinh tế đang phải chịu áp lực thu thuế vượt quá sức mình
Nếu nỗ lực thu thuế nhỏ dưới 0,6 thì cơ quan thuế hoạt động không hiệu quả hoặc chính phủ đánh giá quá cao khả năng thụ thuế của nền kinh tế
- Thông qua khâu lập dự toán thuế, các nhà hoạch định chính sách thảo luận và đề xuất những cách thức phân phối hợp lý gánh nặng thuế (distribution of tax burden) cho các nhóm dân cư: những người có vốn (capitalists), những người có quyền sử dụng đất (land lords) và những người chỉ có sức lao động (labourers)
Sơ đồ 1: Phân phối gánh nặng thuế giữa ba nhóm dân cư: người có vốn, người có
quyền sử dụng đất và người chỉ có sức lao động
Thu nhập của ba nhóm dân cư có những tên gọi khác nhau Thu nhập của người có vốn gọi là lợi nhuận, thu nhập của người có quyền sử dụng đất gọi là tiền cho thuê đất
và thu nhập của người chỉ có sức lao động gọi là lương Khi chính phủ thu được một đồng thuế cũng có nghĩa những người này sẽ mất đi một đồng thu nhập Vậy nhóm nào nên mất nhiều hơn và nhóm nào thực tế mất nhiều hơn? Khoảng chênh lệch giữa gánh nặng thuế theo ý định phân phối của chính phủ và gánh nặng thuế thực tế cho thấy những dấu hiệu gì?
Người chỉ có sức lao động (Labourers)
Lợi nhuận (Profit) Tiền thuê đất
(Land Rent)
Tiền lương (Wage/Salary) Khu vực tư
Trang 14- Kiểm soát nguồn của thuế, qua đó kiểm soát thu nhập xã hội và lành mạnh hóa đời sống xã hội Nguồn của các khoản thuế đánh vào tiêu dùng là giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ Nguồn của thuế thu nhập là thu nhập kinh doanh và tiền lương Nguồn của thuế tài sản là giá trị tài sản cá nhân Nguyên tắc hàng đầu của thuế là minh bạch nên các nguồn này cũng phải minh bạch và hợp pháp Hơn nữa
dự báo thuế tất yếu bao gồm cả dự báo độ lớn của nguồn thuế Thông qua quá trình này mà toàn thể thu nhập và tài sản xã hội đượng kiểm soát một cách phù hợp với mong muốn của dân chúng
2 Vai trò của độ co giãn thuế (tax elasticity) hay độ nổi thuế (tax buoyancy)
Độ co giãn thuế (tax elasticity) và độ nổi của thuế (tax buoyancy) là hai con số đo sự thay đổi của tổng thuế thu được khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một lượng nào đó Chúng đóng vai trò quan trọng trong dự báo thuế Độ co giãn thuế đo sự thay đổi tự nhiên của thuế Độ nổi đo sự thay đổi thuế có tính đến những can thiệp của chính phủ về mặt thuế suất và hoặc cơ sở tính thuế
Độ co giãn thuế =
dY
dT T
Y Y
0 0
- T0 và Y0 là tổng thuế thu được hiện hành và tổng sản phẩm trong nước hiện hành
- dT*/dY là đạo hàm T* theo tổng sản phẩm trong nước
Độ co giãn thuế =
dY
dT T
Y Y
- T0 và Y0 là tổng thuế thu được hiện hành và tổng sản phẩm trong nước hiện hành
- dT/dY là đạo hàm T theo tổng sản phẩm trong nước
Ý nghĩa chung của độ co giãn và độ nổi: tổng số thuế thu được sẽ thay đổi bao nhiêu phần trăm (%) khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một phần trăm (1%)
Phần trăm thay đổi tự nhiên của tổng thuế thu được
Độ co giãn thuế =
Phần trăm thay đổi tổng sản phẩm trong nước
Phần trăm thay đổi tổng thuế thu được
Độ nổi của thuế =
Phần trăm thay đổi tổng sản phẩm trong nước
Trang 15Giả sử số thuế nhà nước thu được (T) là một hàm theo GDP Khi đó, quan hệ đơn giản giữa thuế với GDP có dạng
T = a × GDPbHoặc viết dưới dạng logarithm, ta có
log T = log a + b logGDP
Để biết sự thay đổi của GDP ảnh hưởng như thế nào đến số thuế thu được, ta lấy đạo hàm thuế theo GDP
dT
GDP
GDP b
Như vậy, số mũ b trong phương trình tuyến tính đơn giản T = a × GDPb chính là hệ số
độ nổi thuế Thông qua phương trình này ta cũng thấy vai trò của độ nổi trong ước tính số thu thuế
Ví dụ, những năm gần đây quốc gia X có hệ số độ nổi thuế so với GDP vào khoảng 1,04 Sang năm tới, GDP của đất nước này được dự báo vào khoảng 1.200.000 đơn vị tiền Giả
sử tỉ lệ thuế so với GDP mong muốn đạt tỉ lệ 23% Vậy số thu về thuế tính được như sau
T = a × GDPb = 23% × 1.200.0001,04 = 483.144 đơn vị tiền
Trang 16Nếu hệ số độ nổi bằng 0,9 và các nhân tố khác không đổi thì số thuế thu được chỉ còn
T = a × GDPb = 23% × 1.200.0000,9 = 68.075 đơn vị tiền
3 Phương pháp luận
Việc sử dụng các tỷ lệ tăng trưởng trong thu thuế truyền thống là phương pháp tương đối đơn giản và phổ biến để xây dựng số thu trong ngắn hạn nếu không có thay đổi lớn trong chính sách, quản lý thuế hoặc nền kinh tế Nói một cách khác, số liệu lịch sử là biện pháp hợp lý cho đến khi còn tồn tại các xu hướng của giai đoạn trước và hiện nay Tuy nhiên, cách tiếp cận đó không đưa ra tín hiệu cảnh báo và thay đổi tiềm năng về số thu
Việc áp dụng tỷ lệ tăng trưởng hàng năm tương đối đơn giản và được sử dụng phổ biến
để liên kết các đại lượng kinh tế vĩ mô với sự báo số thu Thực tế việc tính toán số thu dựa trên độ co dãn (ví dụ: biện pháp xác định sự phản hồi về số thu đối với các thay đổi trong nền kinh tế) phần lớn dựa trên tỷ lệ tăng trưởng này Các phương pháp phức tạp và chặt chẽ hơn tạo ra mối quan hệ nghiệp vụ hoặc thống kê giữa số thu và các đại lượng kinh tế có liên quan Ví dụ nhiều chính phủ sử dụng hàm hồi quy trong thống kê để dự báo và phân tích số thu trên cơ sở tương quan với tăng trưởng GDP hoặc những biến động trong kim ngạch xuất nhập khẩu, việc làm, thu nhập cá nhân và các yếu tố khác liên quan đến chính sách thuế Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các hàm số thống kê dù tinh xảo đến đâu chăng nữa thì chúng cũng vẫn là những hàm lý thuyết và không thể giải thích hết những nhân tố tác động đến số thu
3.1 Dự báo khả năng thụ thuế
Khả năng thụ thuế là số tiền thuế hoặc tỉ lệ thuế tối đa so với một cơ sở thuế (tax base) như GDP, giá thị trường của tài sản, giá trị gia tăng, thu nhập công ty và cá nhân,… mà chính phủ có thể thu được trong một năm hay một giai đoạn nhất định Nói chi tiết, khả năng thụ thuế của nền kinh tế được hiểu ở ba góc độ: (1) Độ lớn đo bằng tiền của các cơ
sở thuế; (2) Tỷ lệ thu tối đa mà chính phủ có thể áp lên một cơ sở tính cụ thể; và (3) Tổng
số thuế tối đa mà toàn thể dân cư của đất nước có thể gánh chịu mà không gây ra những biết động kinh tế - xã hội lớn đối với quốc gia
Như đã trình bày, một cách tổng quát có ba cơ sở mà chính phủ có thể đánh thuế: (1) giá trị gia tăng do nền kinh tế sáng tạo trong năm, (2) thu nhập của tổ chức và cá nhân, và (3) giá trị tài sản Từ những cơ sở này, chính phủ xây dựng các sắc thuế đánh vào tiêu dùng, thuế đánh vào thu nhập và thuế tài sản Mỗi sắc thuế có một cơ sở tính rộng đến đâu và chính phủ có khả năng trích xuất bao nhiêu ? Những con số này khả năng thụ thuế, không cố định mà thay đổi theo những thời kỳ nhất định của nền kinh tế
Phương pháp dự báo khả năng thụ thuế tiến hành như sau:
- Bước 1: Ước tính quy mô của cơ sở thuế (the size of tax base)
Trang 17- Bước 2: Ước tính tỷ lệ phần trăm cơ sở thuế có khả năng chịu thuế
- Bước 3: Ước tính thuế suất bình quân của một loại thuế nào đó
- Bước 4: Ước tính tổng số thu về thuế của một loại thuế nào đó
Ví dụ sau đây mô tả một cách đơn giản quá trình ước tính khả năng thụ thuế
Năm 2007 vừa qua, các số liệu ước tính của Việt Nam thu nhận được như sau:
- GDP: 1.050.000 tỉ đ, trong đó GDP có thể đánh thuế là 80%
- Tỷ lệ thu nhập doanh nghiệp so với GDP chịu thuế: 60% Doanh nghiệp nói ở đây gồm các đơn vị sản xuất, xây dựng, thương mại, vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư tài chính, dịch vụ khác,…, tức là toàn thể các cơ sở kinh doanh
- Tỷ lệ tiền lương và các khoản thu nhập cá nhân so với GDP chịu thuế: 40%, trong
đó thu nhập có thể đánh thuế chiếm 30%
- Giá trị nhập khẩu quy ra tiền Việt Nam là 688.000 tỉ đ, trong đó giá trị nhập khẩu chịu thuế nhập khẩu chiếm khoảng 50%
- Thuế suất thuế giá trị gia tăng luật định bình quân: 7,5%
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp luật định: 28%
- Thuế suất thuế thu nhập cá nhân luật định bình quân: 10%
- Thuế suất bình quân của các khoản thuế đánh vào hàng nhập khẩu: 30%
- Việt Nam chưa ban hành thuế tài sản cá nhân
Ta có bảng ước tính khả năng thụ thuế dưới đây:
Bảng 1: Ước tính khả năng thụ thuế
Đơn vị tính: Nghìn tỉ đồng
Giá trị chịu thuế
Thuế suất luật định bình
3.2 Dự báo số thu thuế (tax revenue)
Nhìn chung có hai phương pháp được sử dụng nhằm dự báo thuế: phương pháp định tính (qualitative method) và phương pháp định lượng (quantitative method) Phương pháp định tính dựa vào những phán đoán chủ quan (subjective judgment) còn phương pháp định lượng dựa trên cơ sở phân tích thống kê một mẫu thu thập được Trong chương này chúng tôi không chủ trương trình bày toàn thể những phương pháp định lượng mà chủ yếu đề cập đến một số phương pháp định lượng thích hợp ở góc độ ứng dụng Vấn đề quan trọng nhất là phải lựa chọn một phương pháp thích hợp Điều này phụ thuộc rất nhiều không chỉ vào các số liệu thu nhận được mà còn vào bản lĩnh và tầm nhìn của người lãnh đạo cơ quan chuyên môn
Trang 183.2.1 Dự báo số thu trong năm hiện hành
Thường vào khoảng giữa năm tài khóa (fiscal year), cơ quan thuế tiến hành ước tính số thu những tháng còn lại Phương pháp luận tổng quát cho rằng: khi dự báo số thu tương lai, các yếu tố đã ảnh hưởng đến số thu trong quá khứ và hiện tại được giả định tiếp tục tác động đến số thu các tháng còn lại của năm tài khóa theo cách thức và cường độ giống hoặc gần giống như những tháng trước
3.2.1.1 Phương pháp điều chỉnh (phương pháp kinh nghiệm)
Phương pháp này chủ yếu xây dựng trên cơ sở kinh nghiệp của người dự báo Căn cứ vào
số thu thực tế đến tháng thứ sáu, bằng kinh nghiệm người dự báo sẽ đưa ra số thu trong
ba tháng tiếp theo và ba tháng cuối của năm tài khóa Cứ mỗi số thu cho từng tháng là một con số điều chỉnh theo thực tế
Các bước ước tính cụ thể như sau
+ Số thu ước tính tháng 7, tháng 8 và tháng 9 theo tiến độ năm trước: xxx
Điều chỉnh số thu tháng 7, tháng 8 và tháng 9 theo đặc thù năm nay: xxx + Số thu ước tính tháng 10, tháng 11 và tháng 12 theo tiến độ năm trước: xxx Điều chỉnh số thu tháng 10, tháng 11 và tháng 12 theo đặc thù năm nay: xxx
3.2.1.2 Phương pháp san bằng số mũ (exponential smoothing method)
Phương pháp này được sử dụng để dự báo số thu hàng tháng trong trường hợp số thu biến
động không đáng kể theo thời vụ
Gọi yˆt1 là số thu dự báo ở tháng (t + 1);
y t là số thu thực tế ở tháng t,
w là tầm quan trọng của y t thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm (%); thực chất w là
quyền số của y t trong dự báo
Ví dụ số thuế thu (nghìn tỉ đồng) sáu tháng đầu năm ghi nhận được như sau, theo thứ tự:
25, 28, 28, 30, 29 và 27 Các chuyên gia thuế đánh giá cao tầm quan trọng của thông tin của tháng mới nhất Vì thế, quyền số (weighting factor) của tháng này là 0,4 Khi đó số thu tháng bảy được tính dưới đây
Trang 19ˆy = 0,4 × 27 + 0,4(1– 0,4)129 + 0,4(1– 0,4)230 + 0,4(1– 0,4)328 + 0,4(1– 0,4)428 + 0,4(1– 0,4)525 = 26,73 nghìn tỉ đồng
Cách thứ hai, sử dụng con số trung bình của bình phương sai số (MSE4) để chọn quyền
số Trình tự gồm các bước dưới đây
Bước 1: chọn ngẫu nhiên nhiều quyền số và dùng chúng tính ra số dự báo
Bước 2: ứng với mỗi quyền số ta tính MSE
n
y y MSE
n t
t t
Bước 3: chọn quyền số tại MSE nhỏ nhất
3.2.2 Dự báo số thu cho năm tới
3.2.2.1 Dự báo dựa vào tốc độ phát triển trung bình
3
6
ˆy = 0,4 × 29 + 0,4(1– 0,4)130 + 0,4(1– 0,4)228 + 0,4(1– 0,4)328 + 0,4(1– 0,4)425 = 26,55 nghìn tỉ đồng 4
Mean square error
Trang 20Phương pháp tốc độ phát triển trung bình được áp dụng cho trường hợp số thu thuế hàng năm biến động với một nhịp độ tương đối ổn định, tức lệ tỷ lệ phần trăm (%) tăng trưởng từng kỳ chênh lệch không đáng kể
Công thức chung của phương pháp này như sau:
y m = y 0 × (1+g) m
trong đó: ym: Tổng số thu thuế tại thời điểm m
y0: Số thuế thu tại thời điểm 0
g: Tốc độ (%) tăng trung bình hàng năm của số thuế thu được m: Tầm xa dự báo (số năm dự báo sau năm 0, m = (1,n))
Ví dụ, tổng số thuế thu được trong năm 2007 là 240 đơn vị tiền Tốc độ tăng thu thuế bình quân ba năm gần đây là 14%/năm Dự báo số thuế thu được trong các năm 2008,
2009 và 2010 như sau
y2008 = 240 × (1 + 14%)1 = 273,6
y2009 = 240 × (1 + 14%)2 = 311,9
y2010 = 240 × (1 + 14%)3 = 355,6 Phương pháp này chỉ nên sử dụng để dự báo số thu trong khoảng 2 đến 3 năm tới vì nếu dài hơn nữa thì nó không còn thích hợp
3.2.2.2 Dự báo bằng hàm số
Dự báo bằng hàm số là khái quát hóa xu hướng biến động của số thu thuế bằng một hàm
số toán học nhằm thể hiện gần đúng nhất biến động thực tế của số thu thuế Nói cách khác, trên cơ sở điều tra, ghi nhận và thu thập số liệu về số thuế thu và các đại lượng lớn trong nền kinh tế có liên quan như GDP, kim ngạch xuất nhập khẩu,…chúng ta khái quát hóa bằng một hàm số mang tính lý thuyết trong đó số thuế thu là hàm số và những đại lượng còn lại là biến số độc lập
Những hàm số thường được sử dụng gồm:
- Hàm tuyến tính một biến: y = a + bx+
- Hàm tuyến tính nhiều biến: y = a + b 1 x 1 + b 2 x 2 +…+ b n-1 x n-1 + b n x n +
- Hàm bậc hai: y = a + bx + cx 2 +
- Hàm số mũ, hàm logarithm: y = ab n + hay log y = log a + n log b +
Các ký hiệu trong những công thức trên được giải thích như sau:
- y : là số thu thuế
- x, x 1 , x 2 , x n-1 , x n : giá trị của các đại lượng kinh tế liên quan như GDP, GDP/người dân,
kim ngạch nhập khẩu, lạm phát, …
- a : là số thu không tùy thuộc vào các đại lượng kinh tế liên quan Trên đồ thị, a là điểm
cắt của đường y với trục tung
Trang 21- b: hệ số hồi quy hay độ dốc của đường hồi quy một biến Nó cho biết khi x thay đổi 1
đơn vị thì y thay đổi bao nhiêu đơn vị b chính là hệ số độ nổi của số thu thuế so với GDP
- b 1 , b 2 , b n-1 , b n và c : là những hệ số hồi quy riêng (partial regression coefficients) hay
hằng số thống kê phản ánh mức thay đổi của số thu khi đại lượng kinh tế thay đổi một đơn vị
- : là sai số ngẫu nhiên thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố khác (chưa nghiên cứu) đến
số thu thuế
3.2.2.2.1 Hàm hồi quy một biến
Trên cơ sở thu thập một mẫu về số thuế thu được và GDP của đất nước trong những năm gần đây (càng nhiều càng chính xác), ta có hàm hồi quy một biến tổng quát của mẫu nghiên cứu như sau:
n
j
j j
x x
y y x x b
1
2 1
)(
))(
(
và a yb x
Sử dụng công cụ phân tích dữ liệu hồi quy trong Excel5 ta cũng tính được b và a Không những thế mà Excel còn cung cấp nhiều thông tin về mối liên hệ tuyến tính giữa biến độc lập và hàm
Ví dụ: giả sử từ năm 2000 đến năm 2007 ta ghi nhận được GDP và số thuế thu của một quốc gia như ở bảng dưới đây (một mẫu gồm 8 quan sát)
Bảng 2: GDP và số thuế thu của quốc gia ABC
Đơn vị tính: 1000 đơn vị tiền
Trang 222001 740 190
Sử dụng công cụ phân tích dữ liệu hồi quy trong Excel ta thu nhận được các số liệu thống
kê tiến hành trên mẫu quan sát như sau:
b = 0,4746
a = – 151
R2 = 0,9377 Significance F = 0,0000773
Hàm hồi quy của thuế theo GDP trên mẫu quan sát có dạng:
y = – 151 + 0,47x
Giải thích:
– 151: là điểm cắt trục tung của đường tuyến tính mẫu
0,47: khi GDP thay đổi 1000 đơn vị tiền thì số thuế thu được thay đổi thuận chiều một lượng là 470 đơn vị tiền
R 2 = 0,9377: đến 93,77% biến thiên của số thu có thể được giải thích bởi mối liên hệ
tuyến tính giữa thay đổi GDP và thay đổi thuế
R2 gọi là hệ số xác định (coefficient of determination), cho biết bao nhiêu phần trăm (%) sự biến thiên của hàm có thể giải thích bởi sự phụ thuộc tuyến tính của nó vào biến độc lập
0 R2 1 và R2 càng gần 1 càng chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính vừa tìm được càng thích hợp
Significance F = 0,0000773: giá trị đủ nhỏ để kết luận tồn tại mối quan hệ tuyến tính
giữa sự thay đổi GDP và sự thay đổi thuế
Trang 23Sử dụng hàm hồi quy của mẫu ta có thể dự báo số thu thuế trong trương lai khi đã xác định được GDP
Ví dụ, sau khi xây dựng được hàm hồi quy một biến của thuế theo GDP, nước cộng hòa
X dự báo GDP năm tới là 1200 đơn vị tiền Như vậy giả sử các nhân tố khác không xét đến, số thuế thu được ở năm tới theo GDP sẽ là:
y = – 151 + 0,47x = y = – 151 + (0,47× 1200) = 413 đơn vị tiền
Tuy nhiên, nhằm đảm bảo tính khả tín và thực tế, chúng ta cần tiến hành thêm các thao tác về kiểm định khoảng tin cậy của hệ số hồi quy và ước lượng khoảng giá trị thực tế (actual value) của y với độ tin cậy thông dụng, 95%
3.2.2.2.2 Hàm hồi quy nhiều biến
Số thu thuế của một quốc gia là một đại lượng không chỉ phụ thuộc vào GDP mà có thể còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như: kim ngạch nhập khẩu, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thành lập mới doanh nghiệp….Do đó, cần phải sử dụng thêm nhiều biến nữa để giải thích một cách đầy đủ và toàn diện số thuế thu được
Gọi Y là số thuế thu được của đất nước Y chịu ảnh hưởng bởi n biến độc lập X1, X2,…,
Xn-1, Xn Mô hình tuyến tính nhiều biến tổng quát như sau
y = + 1 x 1 + 2 x 2 +…+ n-1 x n-1 + n x n +
Cũng như trong hồi quy một biến, ta khó thể xác định chính xác các hệ số , j (j = 1,
2,…, k) của tổng thể mà chỉ có thể ước lượng chúng từ các giá trị quan sát của mẫu ghi nhận được Gọi các hệ số a, bj (j = 1, 2,…, k) là những ước lượng cho , j (j = 1, 2,…,
k) Phương trình hồi quy nhiều biến của mẫu có dạng
tỷ lệ lạm phát của một quốc gia như trong bảng dưới đây
Bảng 3: Tốc độ tăng thuế, tốc độ tăng GDP theo giá hiện hành, tốc độ tăng kim ngạch
Trang 24Intercept -0.914647 3.494526 -0.261737 0.798360 -8.606046 6.776752 X1 0.236399 0.118394 1.996722 0.071203 -0.024183 0.496982 X2 0.153135 0.177354 0.863443 0.406327 -0.237218 0.543487 X3 0.380738 0.249303 1.527212 0.154937 -0.167974 0.929450
Như vậy, ta thu được các giá trị của a, b1, b2 và b3:
a = 0,915
Trang 25b1 = 0,236
b2 = 0,153
b3 = 0,381 Phương trình tuyến tính mẫu có dạng:
y = – 0,915 + 0,236x 1 + 0,153x 2 + 0,381x 3
với R2 = 0,8199 cho biết 81,99% những thay đổi trong tốc độ tăng thuế được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính với tốc độ tăng GDP theo giá hiện hành, tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu và tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên tầm quan trọng của mỗi biến đến tốc độ tăng thuế không phải bằng nhau
R2 hiệu chỉnh = 0,770789 cũng cho ý nghĩa tương tự như R2 nhưng không quá khuyếch đại như R2
Sử dụng phương trình hồi quy mẫu ta dự báo tốc độ tăng thuế trong những năm tương lai nhu sau Giả sử, tỷ lệ tăng GDP theo giá hiện hành (x1) = 17%, tốc độ tăng kim ngạch nhậ khẩu (x2) = 34% và tỷ lệ lạm phát (x3) = 12%, thì tốc độ tăng thu về thuế trong năm sắp đến (y) được tính dưới đây
y = – 0,915 + 0,236(17%) + 0,153(34%) + 0,381(12%)
y = 12,87%
4 Kinh nghiệm dự báo tại một số quốc gia
(Tham khảo tại trang web của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn/ )
Trang 26§5 MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG ĐẦU TƯ CÔNG
5.1 Mô hình xác định lợi ích kinh tế trong thị trường không biến dạng
Từ chương này trở đi chúng ta sử dụng phương pháp kinh tế để thẩm định các dự án công Chi phí kinh tế của các yếu tố đầu vào và giá đầu ra có thể chênh lệch nhiều so với con số tài chính Chẳng hạn các dự án như: cung cấp nước sạch nông thôn, xây dựng trường phổ thông ở vùng sâu, đường nông thôn, …thường có giá trị đối với xã hội lớn hơn nhiều so với mức giá tài chính mà người dân chi trả Nếu dự án điện của chính phủ bán với giá thấp hơn giá kinh tế thì coi như chính phủ đã trợ cấp ngầm cho người sử dụng Hoặc một dự án trả lương cho người lao động cao hơn chi phí kinh tế của lao động, tức là đã trợ cấp cho người lao động V.v…
Lợi ích, chi phí kinh tế và doanh thu, chi phí tài chính quan hệ gắn bó với nhau nhưng không thể đồng nhất chúng được Sự khác biệt giữa giá kinh tế và giá tài chính là khoản lợi nhuận siêu ngạch được dồn cho một nhóm người nào đó trong xã hội, đồng thời cho thấy những thông tin hữu ích về phân phối chi phí và lợi ích Nói cách khác, sự khác biệt giữa các giá kinh tế và giá tài chính phản ánh một đối tượng khác ngoài chủ dự án hoặc được hưởng lợi ích của dự án hoặc gánh chịu chi phí cho dự án Như thế, khi phân tích tài chính, ta xem xét chủ dự án bỏ ra bao nhiêu tiền và chủ dự án thu về bao nhiêu dòng tiền ròng Còn khi phân tích kinh tế, chúng ta không chỉ xem xét chủ dự án bỏ ra và thu về bao nhiêu dòng tiền ròng mà còn xét đến cả lợi ích và chi phí của những đối tượng không trực tiếp tham gia vào dự án Bằng cách nhận diện các nhóm đối tượng ngoài chủ dự án được hưởng lợi từ dự án và các nhóm gánh chịu chi phí của dự án, chúng ta sẽ thu thập được những thông tin về động cơ khuyến khích nhóm này ủng hộ còn nhóm khác phản đối
Trong các nền kinh tế ít méo mó, giá thị trường có thể được dùng làm chi phí cơ hội của các đầu vào và các đầu ra Trong nền kinh tế mà giá cả bị bóp méo thì giá thị trường không thể sử dụng để xác định chi phí kinh tế Mà phân tích kinh tế phải đánh giá được đóng góp của dự án đối với phúc lợi xã hội hay lợi ích của toàn thể đất nước Do đó cần
phải triệt tiêu sự méo mó của giá cả bằng cách sử dụng giá mờ (shadow price) là mức giá
phản ánh xấp xỉ chi phí cơ hội và lợi ích của dự án, thay vì dùng giá thị trường
5.1.1 Ba căn cứ quan trọng
Khi sử dụng phương pháp kinh tế để thẩm định dự án công, ba điểm quan trọng sau đây của kinh tế học phúc lợi ứng dụng thường được sử dụng như những căn cứ nền tảng
1 Giá cầu cạnh tranh của một đơn vị sản phẩm được tính từ góc độ của người
tiêu dùng tức là tính theo giá trị mà người mua sẵn sàng thanh toán để có được sản phẩm bất kể do ai cung cấp, khu vực công hay khu vực tư
Trang 272 Giá cung cạnh tranh của một đơn vị sản phẩm được tính từ góc độ của nhà sản
xuất Trong bối cảnh chưa tính đến thuế và trợ giá, giá do người tiêu dùng trả và giá mà nhà cung cấp nhận được không hề bị biến dạng Nói chung, chúng đồng nhất với nhau Tuy nhiên vấn đề hoàn toàn khác khi chúng ta phải đối mặt với thực tế là chính phủ đánh thuế lên mọi hàng hóa, dịch vụ và/hoặc trong những trường hợp cần thiết chính phủ thực hiện chính sách trợ giá cho các nhà cung cấp đối với hàng hóa, dịch vụ cần khuyến khích
3 Lợi ích và chi phí nên được nhìn nhận một cách tổng quan và không quan tâm
đến ai nhận/chịu chúng Phương pháp phân tích kinh tế sẽ bỏ qua trường hợp có
sự chuyển giao lợi ích từ nhà cung cấp sang người tiêu dùng hoặc ngược lại v́
dù với tư cách gì chăng nữa họ cũng là công dân của một đất nước
H́nh 4.1: Đường cầu về số thuê bao điện thoại di động
Khi dự án ra đời, nó không chỉ làm tăng sản lượng mà có thể còn làm giảm giá hàng hóa, dịch vụ Điều đó cho phép những người tiêu dùng tiềm năng tiếp cận được sản phẩm của
dự án Nói khác đi, thặng dư tiêu dùng của xã hội gia tăng là một phần lợi ích mà dự án mang lại
Chẳng hạn chính phủ nước cộng hòa X phát triển mạng điện thoại di động Điều đó sẽ làm giá cước hiện từ P0 giảm còn P1, đồng thời tăng số lượng thuê bao từ Q0 lên Q1 Người sử dụng điện thoại hiện hữu sẽ tiết kiệm được thể hiện ở phần diện tích hình chữ nhật P1P0BD Nhưng thực ra đây là phần doanh thu của các nhà cung cấp mạng điện thoại
Trang 28hiện hành bị mất đi Do đó toàn xã hội không hề nhận được lợi ích ròng từ phần tiết kiệm này Chỉ có diện tích tam giác DBC mới là lợi ích ròng mà dự án thêm vào cho xã hội Nếu xét trường hợp một đất nước trước đây nhập khẩu 100% điện, giờ phát triển dự án nhà máy thủy điện, thì lợi ích kinh tế của dự án chính là toàn bộ diện tích hình thang
P1P0BC
Nói như vậy không có nghĩa loại ra hiệu quả phân phối của các dự án công, mà chúng ta tách chúng ra rồi lần lượt xem xét đến trong những phần tiếp sau Bởi nếu đưa thặng dư tiêu dùng vào lợi ích kinh tế của một dự án có thể gây khó khăn trong thẩm định Chẳng hạn một dự án đang có NPV tài chính âm Nếu tính giá trị thặng dư tiêu dùng thì NPV dương Nhưng phần thặng dư tiêu dùng không thuộc về những người thực thi dự án nên
họ không mặn mà với nó
5.1.2 Các bước đo lợi ích kinh tế
Có thể mô tả tóm tắt các bước đo lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế như sau
Thứ nhất nhận dạng lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế Đây là một bước quan trọng mở đầu trong phân tích kinh tế Chúng không dễ nhận dạng, nhất là các dự án gây ra ngoại tác đến không khí, nguồn nước và cảnh quan,…
Thứ hai, lượng hóa các lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế
Thứ ba, định giá lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế bằng đơn vị tiền
Giá thị trường, doanh thu tài chính và chi phí tài chính thường là xuất phát điểm để xác định các số đo kinh tế Tuy nhiên chúng chỉ thuần túy phản ánh quan điểm của chủ đầu tư chứ chưa phản ánh theo quan điểm của cả nước hay toàn xã hội, cũng như tác động của dự án đến tổng thể nền kinh tế của đất nước
5.1.3 Bài toán mở đầu
Giả sử chúng ta đang nghiên cứu một thị trường không biến dạng về rạp chiếu phim
Giá vé một chỗ xem phim thể hiện qua đường cầu AD0 và chi phí cơ hội biên khi cung cấp thêm một chỗ xem phim là đường cung BS0 trong đồ thị dưới đây Khi thị trường hoàn toàn quyết định giá vé thì lượng cung và lượng cầu về chỗ ngồi xem phim cân bằng
ở mức 30.000 chỗ và giá cân bằng ở mức 20.000 đ/chỗ
Sau đó chính quyền thành phố quyết định cung cấp thêm các rạp chiếu phim bằng dự
án “Phát triển hệ thống chiếu phim công cộng” với tổng số chỗ ngồi là 10.000 chỗ
Chính quyền chủ trương không ấn định giá vé mà để nó do thị trường tự do quyết định.
Trang 29Hình 4.1: Đường cầu và đường cung trước khi có dự án “Phát triển hệ thống
chiếu phim công cộng”
200008
150
200001
30
Trang 30Tam giá BP0C là thặng dư của các rạp chiếu phim tư nhân
Hiện nay thị trường rạp chiếu phim đang cân bằng ở tổng lượng ghế: 30.000 ghế với giá vé cân bằng: 20.000 đ/lượt
Nếu giá vé là 30.000 đ thì không ai đi xem Nếu giá vé là 4000 đ thì không có ai cung cấp rạp chiếu phim
Khác với phương pháp tài chính sử dụng khái niệm doanh thu, phương pháp kinh
tế sử dụng khái niệm (tổng) lợi ích kinh tế
Tổng lợi ích kinh tế = Diện tích 0ACQ0 =
= (30.000 g × 20.000 đ/g ) + 2
000.30)000.20000.30
+ Phần thuộc về người tiêu dùng: 150 tr.đ + Phần thuộc về chủ rạp phim: 240 tr.đ
5.1.3.2 Dự án “Phát triển hệ thống chiếu phim công cộng”
Lượng ghế do dự án cung cấp: 10.000 ghế
Trang 31Khi có thêm 10.000 chỗ xem phim:
- Xuất hiện đường cung mới ST, song song với S0
ST = S0 + 10000 chỗ
- Ngay khi vừa khánh thành các rạp chiếu phim mới, lượng cung tại thời điểm đó lên đến 40.000 chỗ xem phim và lớn hơn lượng cầu Điều này gây ra một áp lực giảm giá vé trên thị trường Giá vé P0 bị áp lực giảm xuống đến mức P1
- Khi giá hạ xuống, một số rạp chiếu phim tư nhân không muốn cung cấp như trước nữa
mà chỉ có Q3 số ghế được cung cấp
- Tổng số ghế cân bằng ở mức Q2
Q2 = Q3 + 10000 ghế
- Doanh thu trước đây của khu vực tư: (Q0 × P0) giờ đây chỉ còn (Q3 × P1)
- Tiết kiệm chi phí của khu vực tư Q3GCQ0
- Thặng dư của các rạp tư nhân bị mất bằng diện tích P1P0CG nhưng nó chuyển sang thặng dư của người xem phim
- Thặng dư của người xem phim tăng thêm P1P0CF
P1P0CF = P1P0CG + GCF
5.1.3.3 Tính P 1 , Q 2 và Q 3