1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn kinh tế phát triển- Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững pptx

37 962 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi trường và sự phát triển bền vững
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Hồng Bàng
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 7,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu việc lựa chọn đề tài thảo luận về sự phát triển bền vững, lí luận và thực tiễn nhằm các mục đích sau:  Phân tích các ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển

Trang 1

CHƯƠNG I PHẦN MỞ ĐẦU

Sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần thể sinh học của chúng kể

cả ở những nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn Sự ô nhiễm môi trường bao gồm: sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học

và ô nhiễm không khí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quá mức, các khí quang hóa và khí ôzôn Như chúng ta đã biết khí hậu địa cầu có thể bị thay đổi trong thế kỷ XXI bởi

vì lượng khí cacbonnic thải vào khí quyên quá lớn do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch Mức độ tăng nhiệt độ dự kiến sẽ nhanh đến mức nhiều loài không thê nào điều chỉnh được biên độ sống của chúng và sẽ bị tuyệt chủng

Hiện nay tình trạng nghèo khó vẫn diễn ra ở nông thôn Việc cải tiến đạt hiệu quả cao hơn các phương pháp săn bắn và hái lượm, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đã thúc đẩy sự khai thác quá mức đối với rất nhiều loài, đẩy chúng đến sự tuyệt chủng Các nền văn minh của các xã hội trước đây có những truyền thống, thói quen hạn chế khai thác tài nguyên quá mức, nhưng ngày nay, những truyền thống đó đã bị phá vỡ và con người vô tình hoặc hữu ý đã chuyển hàng ngàn loài đến những vùng đất mới trên thế giới Một số loài nhập cư đã có tác động xấu đối với các loài bản địa dẫn đến dịch bệnh

và động vật sống ký sinh thường gia tăng khi các loài động vật bị nuôi nhốt tại những khu bảo tồn thiên nhiên và không thể di chuyển đi lại trong một địa bàn rộn lớn Động vật bị nuôi nhốt thường có tỷ lệ bị mắc bệnh cao và các bệnh dịch đôi khi lan truyền giữa các loài động vật có quan hệ họ hàng với nhau Đó chính là lý do của việc lựa chọn

đề tài thảo luận về môi trường và sự phát triển bền vững

II Mục tiêu nghiên cứu

việc lựa chọn đề tài thảo luận về sự phát triển bền vững, lí luận và thực tiễn nhằm các mục đích sau:

 Phân tích các ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển kinh tế

 Nhận thức rõ các nguy cơ, mặt lợi, mặt hại của sự phát triển kinh tế đến đời sống xã hội, môi trường, con người hiện tại và tương lai

Từ đó có thể suy nghĩ về những giải pháp hài hòa giữa sự phát triển và bảo vệ môi trường, nhắm đến một sự phát triển bền vững

III Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này thông qua việc thu thập, phân tích các tài liệu có liên quan đến sự phát triển bền vững, các bài báo, các tác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, nước ngoài đã được công bố, các tài liệu, giáo trình môn kinh tế phát triển, các số liệu thống kê, các quan sát thực tế

IV Phạm vi nghiên cứu

Trang 2

 Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi “Sự phát triển bền vững và môi trường”

CHƯƠNG II NỘI DUNG

NIỆM 1.1 Tiền đề lịch sử

Sau thế chiến thế giới II, Chủ nghĩa tư bản tự do phát triển mạnh ở các quốc gia Tây phương, với mục đích khai thác nhanh chóng nguồn tài nguyên không được tái tạo, nhằm có được khoản lợi nhuận khổng lồ trong một thời gian ngắn nhất; Sự gia tăng dân

Trang 3

lượng chưa kịp tái tạo Đây là hai trong số nhiều sự kiện tạo lên động thái mới trên thế giới đương đại: "Khủng hoảng môi trường tự nhiên, gia tăng khác biệt xã hội " Thực tế này cần thiết một sự điều chỉnh hành vi của con người

Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đão của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, The Club of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The Limits to Growth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên

Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầu tiên đánh dấu

sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland) Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài Nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững

là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế -

xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường

Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã được đưa

ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết

Trang 4

44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc

Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng Tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia, Hội nghị này là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được

ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự

án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21

1.2 Nội dung khái niệm

Tác giả David Munro cho rằng: Bền vững không phải là mục tiêu chính xác mà là một tiêu chuẩn đối với quan điểm và hành động, đó là: “Một quá trình tiếp diễn, có tính lặp

đi, lặp lại, thông qua kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp, được tích lũy lại, được đánh giá và được vận dụng”

Stephan Viederman xác định: “Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết,

mà là một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình và giúp tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta” Tất yếu, một trong những đặc trưng cơ bản của phát triển bền vững biểu hiện trên nhiều khía cạnh của tình hình trong toàn hệ thống không chỉ ở tầm trung hạn, mà còn là tầm dài hạn

Trên thực tế, hơn 10 năm qua, các nhà khoa học - trên các lĩnh vực và diễn đàn khác nhau khắp nơi trên hành tinh này, đều đi đến một sự thống nhất có tính tương đối về bản chất và khía cạnh hiện thực của phát triển bền vững

Còn Denis Goulet cho rằng: Sự phát triển thực sự bền vững cần bao hàm 3 khía

Trang 5

Riêng Goulet có ý kiến tách khía cạnh chính trị và văn hóa ra khỏi phạm trù xã hội - thêm vào đó là “mâu thuẫn về một cuộc sống đầy đủ” Ông tự đặt ra câu hỏi: “Lịch sử phát triển đích thực như vậy có tương thích với nền kinh tế được toàn cầu hóa hay lại làm tăng thêm những khác biệt về kinh tế” Điều đó, đã đưa ra nhận định: “Phát triển bền vững là một nhiệm vụ khó khăn vô cùng” Khó khăn là ở chỗ: đây không chỉ đơn thuần là xác định chuẩn của sự phát triển, mà là phải bảo đảm tính khái quát và hệ thống khá đầy đủ các khía cạnh: kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường, sinh thái , đặc biệt, nếu còn chưa xác định rõ phạm trù văn hóa làm cơ sở lâu bền cho sự phát triển của mỗi dân tộc thì khó khăn gặp phải sẽ tăng lên bội phần

Nói thêm khởi nguồn của khái niệm (thuật ngữ) “Tính bền vững” và “Phát triển bền vững” được Charles V Kidd (1992) nêu ra Khái niệm “Phát triển bền vững” được sử dụng như một công cụ hoạt động trong các cộng đồng bảo tồn và phát triển quốc tế nhờ việc công bố “Chiến lược bảo tồn thế giới” năm 1980 của IUCN - Liên minh bảo tồn thế giới.(1)

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Theo báo cáo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo và tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Nhưng ở một mức

độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giầu và nghèo và giữa các thế hệ Thậm chí, nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững

Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtland, không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế

- xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung của nó còn bao hàm những khía cạnh chính trị

- xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Mặc dù không loại trừ sự cần thiềt của một số hình thức tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước nghèo nhất, nhưng Brundtland vẫn nhìn nhận phát triển như một quá trình phức tạp vượt ra ngoài sự tăng trưởng kinh

tế giản đơn Phát triển bao hàm một sự biến đổi kinh tế và xã hội không ngừng, ngay cả khái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm đối với bình đẳng

xã hội liên thế hệ, mối quan tâm cần phải được mở rộng một cách hợp lý tới sự bình đẳng giữa các thế hệ trong quá trình phát triển

2 HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐÁNH GIÁ

Trang 6

Tại hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janero (Braxin), các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận tuyên bố chung về quan điểm phát triển bền vững gồm 27 nguyên tắc cơ bản dưới đây:

1 Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên

2 Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp Quốc tế Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia

3 Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai

4 Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là

bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó

5 Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững để giảm những chênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới

6 Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang phát triển, nhất

là các nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường; những hoạt động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến quyền lợi và yêu cầu của tất cả các nước

7 Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của Trái đất Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong các nỗ lực quốc tế về phát triển bền vững do những áp lực mà xã hội của

họ gây ra cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính của họ chi phối, điều khiển

8 Để đạt được sự phát triển bền vững và chất lượng cao hơn cho mọi người, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không bền vững và đẩy mạnh những chính sách dân số thích hợp

9 Các quốc gia nên hợp tác để củng cố, xây dựng năng lực hội sinh cho phát triển bền vững bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và công nghệ và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển và thích nghi, truyền bá và chuyển giao công nghệ, kể cả những công nghệ mới và cải tiến

10 Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của dân chúng

có liên quan và ở cấp độ thích hợp Ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân có quyền được các nhà chức trách cung cấp các thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, bao gồm những thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng và cơ

Trang 7

tạo đều kiện cho sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến những thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa

11 Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản ý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển mà chúng gắn với Những tiêu chuẩn mà một vài nước áp dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế - xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất là các nước đang phát triển

12 Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp

đỡ nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển bền vững ở tất cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những vấn đề thoái hoá môi trường

13 Những biện pháp chính sách về thương mại với những mục đích môi trường không nên trở thành một phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế Cần tránh những hoạt động đơn phương

để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của những nước nhập cảng Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài biên giới hay toàn cầu dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được

14 Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Các quốc gia cũng cần hợp tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ

15 Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thay thế và chuyển giao các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây nên sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người

16 Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia Ở chỗ nào có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng hay không sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự thoái hoá môi trường

17 Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức tới quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế

18 Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môi trường cần có

sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thẩm quyền

19 Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của nước đó Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này

20 Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh

Trang 8

hưởng xấu đáng kể đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý

21 Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường Do đó, việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững

22 Cần huy động tinh thần sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giới nhằm tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự phát triển bền vững và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người

23 Nhân dân bản xứ, những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác của địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường về sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển bền vững

24 Môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ

25 Chiến tranh vốn dĩ là yếu tố phá hoại sự phát triển bền vững Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột

vũ trang và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa

26 Hoà bình, Phát triển và Bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được Các quốc gia cần phải giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng các biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên hợp quốc

27 Mọi quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý với tinh thần chung lưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc được thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững

B Tiêu chí để đo lường sự phát triển bền vững

Để đo lường sự phát triển bền vững, phải dựa trên các chỉ tiêu về: Bền vững sinh thái; bền vững chính trị - xã hội, bền vững về mặt kinh tế bảo đảm duy trì bản sắc văn hóa mọi dân tộc Đặc biệt, để bảo đảm cho sự phát triển bền vững, trước hết ta phải xác định tính bền vững của một đường lối phát triển Con đường, cách thức, phương pháp làm việc của mỗi con người, mỗi dân tộc để đưa đất nước phát triển bền vững thì hết sức đa dạng và phong phú

Trên thực tế, chúng ta cần có nhiều công trình nghiên cứu khoa học “đắc dụng” và hệ thống tri thức để đáp ứng yêu cầu thực tế của sự phát triển bền vững, nhưng đó phải là một nền khoa học mới với một nền kinh tế tri thức mới có thể giúp ta định hướng đúng, kịp thời vào các vấn đề đặt ra Phải là một hệ thống trí thức khoa học không thoát

ly các giá trị chính trị, kinh tế, xã hội và đạo lý, bảo đảm tính quy luật và khách quan, không thiên lệch trong cách tiếp cận, có các bước thử nghiệm những giả thiết khoa học một cách bài bản và chính xác

Các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ sự phát triển bền vững phải được đặt trong khuôn mẫu mới, biết chấp nhận sự phát triển mang tính quy luật của xã hội và tự nhiên, để từ đó mới có thể điều khiển nó thoát ra khỏi những nhu cầu nghiên cứu phiến diện, nhằm góp phần không chỉ nâng cao giá trị phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, mà còn

là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi con người, đây chính là mục tiêu trọng tâm trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa hiện nay

Trang 9

Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế –

xã hội

Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất –nhu cầu-tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế –xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững

Tóm lại: Phát triển bền vững liên quan đến 3 giác độ là kinh tế – xã hội – môi trường được mô phỏng như hình dưới đây:

1 Nhóm chỉ tiêu kinh tế

Phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ

và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyen sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội

Chỉ tiêu Tổng sản phẩm quốc dân (GNP),

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

GNP (còn được biết đến là GNI – Tổng thu nhập quốc dân) là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra do kết quả hoạt động kinh tế của công dân một nước trong một năm

GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra do kết quả hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một năm

GDP từ chi tiêu:

GDP = C + G + I + NX

Phát triển kinh tế

Phát triển

xã hội

Bảo vệ môi trường Phát Triển bề vững

Trang 10

 Giá cố định: là giá tại năm có nền kinh tế tương đối ổn định

- GNP, GDP thực tế được tính từ GNP, GDP danh nghĩa điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát

(GNP, GDP cđ = GNP, GDP

hh / Tỷ lệ giảm phát)

 GNP, GDP tính theo sức mua tương đương: (PPP – Purchasing Power Parity)

- GNP, GDP (PPP-US$) được tính theo phương pháp mà Ngân hàng thế giới đề

xuất

GDP, GNI của một số nước, năm 2000 (Đơn vị: tỷ US$)

Bảng 1

Nguon:World Development Indicators Database, 4/2002

 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Nước GDP GNI Thuỵ Sĩ 239,8 273,8 Nhật 4800,0 4500,0

Mỹ 9800,0 9600,0 Đức 1900,0 2100,0 Singapore 92,3 99,4 Canada 687,9 649,8

Hi Lạp 112,6 126,3 Mexico 574,5 497,0 Malayxia 89,7 78,7 Thái Lan 122,2 121,6

LB Nga 251,1 241,0 Trung Quốc 1100,0 1100,0 Việt Nam 31,3 30,4

Trang 11

- Tốc độ tăng trưởng (g) của nền kinh tế được tính bằng tốc độ tăng trưởng GDP của

nền kinh tế

GDP

GDP GDP

Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000

Nước Tốc độ tăng trưởng GDP (%) Nước Tốc độ tăng trưởng GDP (%)

Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002

 Tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người

Khả năng nâng cao phúc lợi vật chất cho nhân dân một nước, không chỉ là tăng sản lượng của nền kinh tế, mà còn liên quan đến vấn đề dân số Do vậy, chỉ số tổng thu nhập bình quân đầu người là một chỉ số thích hợp hơn để phản ánh sự tăng trưởng kinh

tế GNI bình quân đầu người được tính bằng tổng thu nhập quốc dân chia cho dân số tại thời điểm giữa năm

Thu nhập bình quân đầu người:

GNI/người (USD/người) OECD 24100,0 851,1 28.310,0 Thuỵ Sĩ 273,8 7,2 38140,0 Nhật 4500,0 126,9 35620,0

Mỹ 9600,0 281,6 31100,0 Đức 2100,0 82,2 25120,0 Singapore 99,4 4,0 24740,0 Canada 649,8 30,8 21130,0 Malayxia 78,7 23,3 3380,0 Thái Lan 121,6 60,7 2000,0

LB Nga 241,0 145,6 1660,0

Trang 12

Trung Quốc 1100,0 1300,0 840,0 Việt Nam 30,4 78,5 390,0 LDCs 183,2 660,0 280,0 Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002

 Cùng với GNI bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người cũng là một chỉ tiêu quan trọng đo lường thu nhập bình quân của dân cư của một quốc gia

2 Nhĩm chỉ tiêu xã hội

 Các chỉ tiêu chăm sĩc y tế

- Số người dân/bác sỹ

- Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được sự giúp đỡ của y tế

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh

- Tuổi thọ kỳ vọng (Life expectancy at birth): Được tính bằng thời gian kỳ

vọng sống từ khi được sinh ra bình quân của cư dân

 Một số chỉ tiêu phát triển xã hội

- Ve con người: để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hố,

khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ mơi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ

về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống Đảm bảo các tiêu chí :

- Tỷ số người dân/1 bác sĩ

- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm

- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, năm

- Các chỉ tiêu về dân số và việc làm

- Tốc độ tăng dân số: Thường được so sánh với tốc độ tăng trưởng kinh tế để xem xét khả năng đảm bảo việc làm

- Cơ cấu dân số, lao động theo ngành, theo giới, theo độ tuổi và theo vùng

Bảng 4 Một số chỉ tiêu về dân số của Việt Nam

Cơ cấu theo giới (%)

Cơ cấu theo vùng (%) Năm Dân số

(nghìn

người)

Tốc

độ tăng (%) Nam Nữ Thành thị Nơng thơn

NGUỒN

NGHIỆP THẤT

NGƯỜI SỐ

- Một số chỉ tiêu về dân số và cơ cấu lao động

Trang 13

Tốc độ tăng dân số năm 2000 của một số nước: Đức: 0,1%, Nhật: 0,2%, Trung quốc: 0,9%, Thái Lan: 0,8%, các nước chậm phát triển nhất: 2,3% (Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002) Cơ cấu lao động của lực lượng lao động chia theo nhóm ngành của Việt Nam tại thời điểm 1/7/2000:

- Nông nghiệp: 22.650.814 người, chiếm 62,56%

- Công nghiệp và XD: 4.761.436 người, chiếm 13,15%

- Dịch vụ: 8.794.785 người, chiếm 24,29%

- Các chỉ tiêu về phân phối thu nhập và nghèo đói

Bất bình đẳng giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa nam và nữ, giữa các thế hệ:

Bảng Phân phối thu nhập theo quy mô một quốc gia đang phát triển

Bảng 5

Các nhóm dân số Phần trăm thu

nhập

(%)

20% dân số có thu nhập thấp nhất 5

20% dân số có thu nhập trung bình 13

20% dân số có thu nhập cao nhất 51

- Đường cong Lorenz

Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và phần trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân Đường cong Lorenz được xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô

Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 5 chúng ta có được những thông tin sau

Dân số cộng dồn – Xi(%) Thu nhập cộng dồn - Yi(%)

20 5

40 14

60 27

80 49

100 100

Trang 14

Đường cong Lorenz

Đường cong Lorenz

Trang 15

Thể hiện bằng công thức đại số, ta có công thức tính hệ số Gini như sau

Công thức 1

10000

.

Yi : Tỷ lệ cồng don ve thu nhập của các nhóm dân cư

Hệ số Gini phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, G càng lớn bất bình đẳng càng cao, G = 0 bình đẳng tuyệt đối, G = 1 bất bình đẳng tuyệt đối, các giá trị này không có trong thực tế

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới khoảng phân bổ của Hệ số Gini như sau:

- Những nước có thu nhập thấp: 0,3 < G < 0,5

- Những nước có thu nhập trung bình: 0,4 < G < 0,6

- Những nước có thu nhập cao: 0,2 < G < 0,4

Từ thực tế trên Ngân hàng Thế giới đưa ra kết luận là quốc gia nào có Hệ số Gini ở mức xung quanh 0.3 thì được đánh giá là tốt

Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam, năm 2001 là 32%, Trung Quốc: 6% (World

Development Indicators Database, 4/2002)

- Chỉ số Phát triển con người (HDI)

Chỉ số HDI một chỉ tiêu tổng hợp, thường được dùng để xếp loại mức độ phát triển con người của một đất nước

Chỉ số HDI được tính tổng hợp từ các chỉ tiêu cơ bản:

Trang 16

Phạm vi phân bổ của chỉ số HDI của một quốc gia theo lý thuyết có khoảng phân bổ là

0 : HDI : 1 Chỉ số HDI của một quốc gia càng lớn thì mýc độ phát triển của quốc gia càng được đánh giá cao

3 Nhóm chỉ tiêu môi trường

Ve môi trường: phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng,

nguon nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực

- Tỷ lệ che phủ rừng: tính theo phần trăm (%)

- Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính theo phần trăm (%)

- Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%)

- Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải

- Tỷ lệ các khu công nghiệp có hoặc sử dụng chung hệ thống xử lý rác thải rắn

- Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001

- Phát thải các khí nhà kính, tính theo tấn/năm

- Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép

- Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng, tính bằng số lượng

- Tổn thất về kinh tế do thiên tai hàng năm, phải được qui đổi ra tiền

 Chỉ tiêu tổng hợp đo lường phát triển bền vững

- Giá Trị Của 1m2 Diện Tích Đất Rừng

- Điều hòa ổn định khí hậu, hấp thụ CO2

- Quá quan trọng trong việc lưu trữ nước và làm chậm tốc độ dòng chảy sau mưa

- Vô giá đối với bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, các nguồn gien quý hiếm

- Vô giá trong việc cung cấp các thảo dược quý

- Vô giá đối với sức khỏe con người

- Con ngứời đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất (ha/người)

- Theo cách sống hiện tại, loài người đến 2050 sẽ cần 02 hành tinh như Trái đất

- Đã hơn 20 năm qua chúng ta đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất

Đó là lối sống, tiêu dùng không bền vững

Báo cáo của LHQ năm 2005 đã cảnh báo: Mặc dù 1/5 dân số Châu Á còn sống duới

01 USD/ngày nhưng vùng này đã bị khai thác quá khả năng chịu tải về môi trường của

nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự

Trang 17

CHƯƠNG III THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1 Khái niệm về nước đang phát triển

- Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao Ở các nước này, thu nhập đầu người ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp

"Nước đang phát triển" gần nghĩa với Thế giới thứ ba thường dùng trong Chiến tranh Lạnh

2 Những Đặc điểm chung của các nước đang phát triển

- Sản xuất kém phát triển triển, do tỷ lệ tích luỹ thấp, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao

- Công nghệ sản xuất lạc hậu

- Hoạt động của nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm

tỷ trọng cao trong GDP, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất thấp

Trang 18

- Trình độ công nghệ của các nước đang phát triển chậm hơn từ 3 đến 6 thập kỷ so với trình độ công nghệ của các nước phát triển

- Những đặc điểm cơ bản này tạo ra “vòng luẩn quẩn” cho các nước đang phát triển:

Vòng luẩn quẩn của các nước ĐPT

- Vấn đề đặt ra là các nước đang phát triển phải tìm ra con đường phát triển của mình để phá vỡ vòng luẩn quẩn trên vươn lên thành các nước phát triển Mô hình phát triển kinh tế nào là phù hợp để đẩy nhanh quá trình phát triển của các nước đang phát triển

Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGMillennium Development Goals) bao gồm từ mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nghèo cùng cực tới chặn đứng sự lây lan của HIV/AIDS và đạt phổ cập giáo dục tiểu học, tất

cả đều phải hoàn thành vào năm 2015

Các MDG đã được tất cả các nước cũng như tất cả các cơ quan/tổ chức phát triển hàng đầu trên thế giới nhất trí Các mục tiêu này đã thúc đẩy những nỗ lực to lớn chưa từng có nhằm đáp ứng nhu cầu của những người nghèo nhất trên thế giới.Các MDG là nhằm phục vụ con người và đảm bảo rằng:

Năng suất thấp

Tích luỹ thấp

Công nghệ lạc hậu Thu nhập thấp Dân số đông

Ngày đăng: 24/07/2014, 01:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS . Chu Thái Thành - Bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững của Đảng - Tạp chí Cộng sản, số 11 (tháng 6/2004) Khác
2. PGS.TS. Trần Văn Chử - Kinh nghiệm trong phát triển bền vững ở nước ta - Tạp chí Lý luận chính trị, Số 3/2003 Khác
3. TS. Nguyễn Sỹ Lộc - Quản lý Khoa học công nghệ vì sự nghiệp phát triển bền vững - Tạp chí Hoạt động khoa học, Số 7/2003 Khác
4. Thaddens.C.Trzyna - Thế giới bền vững - định nghĩa và trắc lượng phát triển bền vững - Viện Nghiên cứu chiến lược - Chính sách Khoa học công nghệ, Hà Nội năm 2001 Khác
5. Nghèo - Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 - Hà Nội ngày 2 - 3/12/2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2                Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 - Môn kinh tế phát triển- Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững pptx
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 (Trang 11)
Bảng 8                                       Triệu USD - Môn kinh tế phát triển- Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững pptx
Bảng 8 Triệu USD (Trang 20)
Bảng so sánh tốc độ tăng trưởng các khu vực KT của VN - Môn kinh tế phát triển- Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững pptx
Bảng so sánh tốc độ tăng trưởng các khu vực KT của VN (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w