Chăm sóc và giáo dục trẻ Trẻ được tiếp nhận và nhà trẻ phải đảm bảo một số yêu cầu về tình trạng sức khỏe như sau: - Trẻ không mắc các bệnh đang ở thời kỳ tiến triển như các bệnh lao,
Trang 1Nhà bếp: Sắp xếp theo bếp một chiều, ngăn nắp, gọn gàng tiện sử dụng, hợp vệ sinh Kho thực phẩm: phải đảm bảo ngăn nắp, hợp vệ sinh chống ẩm tốt
Nơi chế biến thức ăn
5 Các công trình vệ sinh
5.1 Cung cấp nước sạch
Nguồn nước phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Nguồn nước hợp vệ sinh
- Đủ về khối lượng (100 -150l/trẻ/ngày)
- Có các đường ống nước dẫn nước tới các khu vực nhà bếp, phòng vệ sinh của từng nhóm trẻ
5.2 Khu vực nhà xí chung Nngoài nhà xí riêng cho từng nhóm trẻ còn cần phải có nhà
xí chung đều xây theo kiểu tự hoại hoặc Sulabh, có đủ nước để cọ rửa thường xuyên
5.3.Hệ thống thoát nước thải
Phải kín, dễ thoát nước không ứ đọng và được dẫn tới hệ thống cống chung của thành phố hay khu vực
6 Khu vực sân chơi
Chiếm từ 50 - 60% diện tích toàn trường
Sân chơi phải đảm bảo một khung cảnh sự phạm đẹp, hài hòa và sinh động Có mặt bằng rộng để tập thể dục, vui chơi chạy nhảy và an toàn
Có cây che bóng mát hoặc giàn che nắng Trong sân chơi chia ra các khu vực trò chơi vận động, thể dục, chơi giao thông, chơi với cát và chơi với nước
7 Nguyên tắc về trang thiết bị trong nhà trẻ
7.1 Giường cũi
Tùy theo từng nhóm tuổi mà đóng các giường cũi khác nhau Chiều dài của giường phải lớn hơn chiều cao của trẻ từ 20 - 30cm Chiều rộng giường bằng 2 lần chiều rộng vai trẻ Chiều cao của thành giường phải phù hợp với chiều cao của trẻ sao cho trẻ không trèo ra ngoài được Chân giường chỉ cao 10cm Đối với cũi, cần đóng đủ cho từ 5 - 10 trẻ chơi trong
đó, thanh cũi cao hay thấp tùy thuộc vào tuổi cuả trẻ
Ví dụ: trẻ < 5 tháng thì thành cao 35cm
Trẻ 5 - 10 tháng thì thành cao 45cm
Hai bên thành cũi cần có cọc căng dây để treo đồ chơi cho trẻ
7.2 Bàn ăn, bàn chơi, bàn học
Phải đảm bảo phù hợp với tầm vóc của trẻ sao cho khi trẻ ngồi vào bàn thấy thoải mái
Bảng kích thước bàn ghế nhà trẻ, mẫu giáo
8 Đồ chơi của trẻ
Mục đích cuả đồ chơi là làm cho trẻ vui vẻ, hoạt động có mục đích và có phương hướng Đồ chơi còn giúp cho trẻ phát triển cơ thể, phát huy khả năng tưởng tượng và sáng kiến Đồ chơi phải phù hợp với từng độ tuổi và mang tính giáo dục nên cần phải đẹp đẽ, chắc
Trang 2chắn, hợp vệ sinh Không được cho trẻ dùng những đồ chơi bằng lông hoặc thủy tinh, đảm bảo an toàn cho trẻ
8.1 Với trẻ dưới 1 tuổi
Đồ chơi phải có màu sắc tươi đẹp, được treo ở nơi dễ nhìn thấy Đồ chơi phải có tác dụng giúp trẻ mau chóng phát triển các giác quan và năng khiếu quan sát
Kích thước của đồ chơi phải phù hợp với lòng bàn tay của trẻ Khi trẻ bắt đầu biết đi, đồ chơi giúp trẻ đi những bước đầu tiên trong cuộc đời
8.2 Với trẻ từ 1 - 2 tuổi
Thời kỳ này trẻ đã bắt đầu biết bắt chước các động tác của người lớn, do đó đồ chơi phải đảm bảo giúp trẻ tập nhiều lần (xếp đồ chơi )
8.3 Với trẻ từ 2 - 3 tuổi
Thời kỳ này đã biết bắt chước nhiều động tác của người lớn, cho nên đồ chơi cần có nhiều màu sắc và nhiều hình dáng, cho trẻ những loại đồ chơi bắt chước cộng việc người lớn (làm nội trợ, bán hàng, làm bác sĩ ) Đồng thời cần nhiều trò chơi phát triển vận động sự nhanh nhẹn, sáng kiến
9 Chăm sóc và giáo dục trẻ
Trẻ được tiếp nhận và nhà trẻ phải đảm bảo một số yêu cầu về tình trạng sức khỏe như sau:
- Trẻ không mắc các bệnh đang ở thời kỳ tiến triển như các bệnh lao, viêm khớp
- Trẻ phải có một giấy chứng nhận sức khỏe do bố mẹ đã cho đi khám và theo dõi trong thời gian 6 tháng trước đó
- Mỗi trẻ khi được nhận vào nhà trẻ cần phải có một y bạ và có nhiều phiếu theo dõi
về sự phát triển thể lực qua hai chỉ số chiều cao đứng, chiều cao ngồi và cân nặng của trẻ Mỗi năm trẻ được kiểm tra sức khỏe từ 1 - 3 lần
- Trẻ phải được tiêm chủng và uống vaccine đề phòng 7 bệnh trong chương trình TCMR
- Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, sau khi khỏi bệnh, muốn trở lại nhà trẻ phải có giấy chứng nhận của cán bộ y tế
- Trong quá trình nuôi dưỡng, trẻ phải được ăn đúng chế độ theo nhóm tuổi Nhà bếp phải được kiểm tra vệ sinh các thực đơn cho trẻ, đảm bảo an toàn thực phẩm
- Các cô nuôi dạy trẻ phải hướng dẫn cho trẻ những hành vi văn minh trong khi ăn và động viên trẻ ăn hết suất
- Đảm bảo giấc ngủ cho trẻ tại nhà trẻ, trẻ phải được ngủ đủ số lần và số thời gian cho từng lứa tuổi
II Lớp mẫu giáo
Lứa tuổi mẫu giáo từ 36 tháng đến 72 tháng được chia làm 3 nhóm tuổi:
- Mẫu giáo từ 36 - 48 tháng
- Mẫu giáo nhỡ từ 48 - 60 tháng
- Mẫu giáo lớn từ 60 - 72 tháng
Số lượng trẻ trong lớp quy định:
Lớp mẫu giáo bé : 25 trẻ
Lớp mẫu giáo nhỡ : 30 trẻ
Lớp mẫu giáo lớn : 35 trẻ
Trang 31 Quy hoạch
- Các phòng học có diện tích từ 40 - 50m 2
- Các phòng ngủ có diện tích từ 25 - 30m2
- Phòng hoạt động âm nhạc có trang bị gương soi, các dụng cụ ậm nhạc, đài, máy cassette Ngoài ra, các phòng khác đều bố trí như nhà trẻ
2 Trang bị bàn ghế trong các lớp mẫu giáo
- Bàn ghế của lớp mẫu giáo(như trên)
- Các đồ dùng, trang thiết bị khác như đồ dùng giảng dạy, học tập cho cô giáo và các cháu Đồ chơi phục vụ cho các loại trò chơi đều đảm bảo về số lượng và hợp vệ sinh, hấp dẫn đối với tuổi mẫu giáo
3 Cô giáo và nhân viên phục vụ
- Các cô giáo : 100% đều phải được đào tạo ở các trường sự phạm nuôi dạy trẻ và sự phạm mẫu giáo từ sơ cấp trở lên
- Các cô giáo và cán bộ nhân viên phục vụ phải có sức khỏe tốt, ít nhất là không mắc bệnh truyền nhiễm kinh niên
III Vi khí hậu ở nhà trẻ - mẫu giáo và sức khỏe của trẻ
1 Anh hưởng của môi trường vi khí hậu
Do cấu tạo và chức năng của các cơ quan trên cơ thể trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo chưa ổn định, và chưa thích nghi với những sự biến đổi đột ngột của môi trường bên ngoài đặc biệt là
3 yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, và tốc độ gió, do đó mỗi khi có sự thay đổi các yếu tố này trong môi trường sẽ gây ra những rối loạn các chức năng sinh lý bình thường của trẻ
2 Biện pháp đề phòng ( sinh viên tự liên hệ biện pháp dự phòng)
- Khi quá nóng
- Khi quá lạnh
IV Một số bệnh có liên quan đến chế độ nuôi dưỡng và vệ sinh trong nhà trẻ - mẫu giáo
1 Những bệnh thường gặp
1.1 Bệnh suy dinh dưỡng
1.2 Bệnh còi xương
Ngoài các nguyên nhân thông thường, còn có nguyên nhân do nhà cửa tối tăm ẩm thấp Do tập quán kiêng nắng, gió , ít cho trẻ ra ngoài ánh sáng mặt trời
1.3 Bệnh thiếu Vitamin A và khô mắt
Là bệnh dinh dưỡng phổ biến nhất hiện nay ở trẻ nhỏ
1.4 Nhiễm chuẩn hô hấp cấp tính (ARI)
Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh là do vệ sinh môi trường ở nhà trẻ còn yếu kém, như tối tăm, không thoáng khí, độ ẩm cao bản thân trẻ không được mặc đủ ấm, ăn nóng và ngủ ấm về mùa đông
1.5 Bệnh tiêu chảy
Ngoài nguyên nhân do vệ sinh thực phẩm không tốt, trẻ không được ăn khi thức ăn còn nóng Ở những trẻ duới 1 tuổi, còn do các bệnh nhiễm trùng ngoài ruột gây sốt cao cần được chú ý xử trí tốt các nguyên nhân nhiễm trùng
2 Một số biện pháp phòng bệnh chủ yếu
- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho trẻ, cung cấp đủ chất dinh dưỡng trong các bữa ăn, trong khẩu phần của trẻ Như chế độ cho trẻ bú sữa mẹ, chế độ ăm sam (ăn dặm) cho trẻ được tắm nắng đúng quy định vệ sinh
Trang 4- Thực hiện tốt việc giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ ở tuổi sinh đẻ
- Phát triển hệ sinh thái V.A.C tại gia đình để tự cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng
-Vệ sinh môi trường phải được quan tâm thường xuyên của mọi người trong cộng đồng, của các cô giáo và CBNV ở trong các trường mầm non.
Câu hỏi đánh gía cuối bài
1 Các yêu cầu vệ sinh trong qui hoạch trường học ?
2 Các yêu cầu vệ sinh trong môi trường lớp học ?
3 Các yêu cầu và điều kiện nuôi dạy tiêu chuẩn của một nhà trẻ và mẫu giáo ?
4 Phân tích được các yếu tố nguy cơ tác động đến sức khoẻ của trẻ tại các cơ sở nuôi dạy trẻ ?
Tài liệu tham khảo chính
1 Bộ môn Vệ sinh - Dịch tễ, (1997), Vệ sinh Môi trường - Dịch tễ, Tập 1, Nhà xuất bản
Y học, Hà nội
2 Bộ môn Vệ sinh - dịch tễ, trường Đại học Y khoa Hà nội, (1978), Vệ sinh Dịch tễ, tập
I, Nhà xuất bản y học
3 Nguyễn Huy Nga, 2001, Sổ tay thực hành Y tế trường học, Nhà xuất bản Y học, Hà nội
4 Nguyễn Huy Nga, 2003, Chăm sóc sức khoẻ học sinh, Nhà xuất bản Y học, Hà nội
5 Trường Đại học Y Thái bình, (1998), Sức khoẻ lứa tuổi, tập 3, Nhà xuất bản Y học, Hà
nội
6 http://www.ytecongcong.com
7 Waltner-Toews, D (2004) Ecosystem Sustainability and Health :A Practical
Approach New York : Cambridge University Press
8 Габович Р.Д , Познанский С С , Шахбазян Г Х,(1993), Гигиена , Галовное
издательского объединения “вища школа’’, Киев
Trang 5
VỆ SINH BỆNH VIỆN Mục tiêu học tập
1.Xác định được các yêu cầu qui hoạch bệnh viện : vị trí, diện tích, loại kiến trúc 2.Trình bày được khái niệm Đơn nguyên điều trị, tổ chức và các yêu cầu vệ sinh cơ bản của bệnh phòng
3.Bàn luận được tổ chức và các yêu cầu vệ sinh cơ bản của khoa truyền nhiễm
I Vai trò và ý nghĩa vệ sinh bệnh viện
1.Vai tro
Bệnh viện là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống y tế thực hiện chức năng chẩn đoán, điều trị bệnh nhân, nhưng chính bệnh viện còn là một trung tâm phòng bệnh, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe và nghiên cứu khoa học Đó là nơi đào tạo bác sỹ và các cán bộ y tế trung, sơ cấp Đối với bệnh nhân, bệnh viện cần phải là ngôi nhà ở của họ, nơi họ có thể sống nhiều ngày, nhiều tháng ở đó, với các nhu cầu ăn, ở, vệ sinh thân thể, phục hồi sức khỏe
2 Ý nghĩa :
-Điều kiện vệ sinh tối ưu cuả bệnh viện, trước hết cần thiết cho chính quá trình điều trị
và rút ngắn thời gian phục hồi sức khỏe của bệnh nhân
-Các điều kiện vệ sinh bệnh viện là điều kiện trước tiên để ngăn chặn các bệnh nhiễm khuẩn, lây chéo do bệnh viện
-Vệ sinh bệnh viện cần phải đảm bảo các điều kiện sức khỏe lao động của tất cả các nhân viên y tế
- Mức đảm bảo vệ sinh bệnh viện đặc biệt cao là điều kiện để có thể triển khai được thành công các thành tựu khoa học mới nhất trong y khoa
- Cuối cùng, việc tuân thủ một cách mẫu mực các yêu cầu vệ sinh trong bệnh viện còn giúp bệnh viện trở thành nhà trường giáo dục sức khỏe, các thói quen vệ sinh cho các bệnh nhân đã qua điều trị tại bệnh viện
- Việc thiết lập các điều kiện vệ sinh bệnh viện tùy thuộc nhiều vào hệ thống các công trình xây dựng, các tính chất của phần cây xanh, vị trí đặt bệnh viện các trang bị và các tiện nghi vệ sinh của bệnh viện
II Cấu trúc chung của bệnh viện
1.Vị trí
Nếu thiết kể đúng thì bệnh viện có thể xây dựng ngay trong thành phố Chỉ có các bệnh
viện Lây, Lao, Tâm thần mới phải cách xa khu nhà ở ít nhất 1000m
Khu đất chọn xây dựng bệnh viện phải là nơi sạch sẽ, cao ráo, ở một khu vực yên tĩnh; không được ở cuối chiều gió so với khu công nghiệp để tránh bụi , hơi khói độc Không kề cận với vị trí nhiều tiếng ồn như : nhà máy, công trường, trường học, doanh trại, đường tàu
2 Loại kiến trúc
2.1 Kiểu phân tán
2.2 Kiểu tập trung
2.3 Kiểu phối hợp
Trang 6Ngày nay, kiểu phối hợp đang được áp dụng nhiều thành hệ thống Khối − Tập trung theo chức năng, theo mục tiêu cách ly và tận dụng khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật
3 Các bộ phận chủ yếu của bệnh viện
- Bộ phận tiếp đón
- Phòng khám bệnh đa khoa
- Khu điều trị nội trú : có cấu trúc phân biệt theo lĩnh vực Nội hay Ngoại khoa
- Đơn vị chẩn đoán − Điều trị : chẩn đoán chức năng, chẩn đoán hình ảnh, vật lý trị liệu, thể dục liệu pháp
- Khoa Giải phẫu bệnh với nhà xác
- Các bộ phận Quản trị − dịch vụ : Nhà bếp và khoa ăn uống, bộ phận giặt ủi có buồng tẩy uế,
bộ phận tiệt khuẩn trung tâm, bộ phận sửa chữa các thiết bị kỹ thuật y tế, garage để xe, tổ điện
- Bộ phận quản lý Hành chính : khối văn phòng, lưu trữ hồ sơ bệnh án, thư viện
4 Phân bố diện tích
- Tổng diện tích dành cho các khu nhà chỉ nên chiếm 15% tổng diện tích dành cho bệnh viện Diện tích cây xanh thảm cỏ nên là 60 − 65% Phần còn lại 20 − 25% là các lối đi lại
- Bộ phận tiếp đón và phòng khám luôn bố trí gần cổng ra vào bệnh viện, nên có lối đi riêng
và cách khu điều trị từ 30 − 50m Khu điều trị nội trú dành phần diện tích tốt nhất Bộ phận quản trị − dịch vụ nên bố trí cách biệt với các khu khác
- Khoa giải phẫu bệnh và nhà xác cũng bố trí biệt lập và phải có cổng sau riêng biệt (ra theo cổng sau)
- Bệnh viện nên có vườn hoa, cây cảnh, có bãi thể dục chữa bệnh, có đường lát đá cho bệnh nhân dạo chơi và cứ 50m lại đặt một ghế đá để ngồi nghỉ
- Để bảo vệ cho các khu vực nội trú khỏi bị ảnh hưởng của gió nóng, khói bụi, tiếng ồn thì bệnh viện cần trồng nhiều các dải cây xanh thảm cỏ
- Khoảng cách giữa các tòa nhà phải đủ rộng và phụ thuộc độ cao của nhà cao nhất và không
ít hơn 30m Khoảng cách giữa khu chữa bệnh nội trú với khu Quản trị − dịch vụ và nhà xác ít nhất là 50m
III.Quy hoạch và yêu cầu vệ sinh một số khoa phòng
1 Các Đơn nguyên điều trị
Khoa phòng chuyên khoa là các phần tử quan trọng nhất của bệnh viện Cứ mỗi nhóm 30
giường bệnh người ta có thể tổ chức nên một đơn nguyên điều trị và bố trí hoàn chỉnh tương
tự như nhau ở tất cả các khoa Như vậy xây dựng đơn nguyên có nghĩa là xây dựng để gộp các bệnh nhân được săn sóc với một nhóm nhân viên y tế, trong một tập hợp tương đối hoàn chỉnh phục vụ mục tiêu điều trị và phòng lây chéo
Khoa − Phòng (tiểu khoa) − buồng bệnh hoặc các box
Trong mỗi Đơn nguyên điển hình dành cho bệnh nhân người lớn cần phải có các vị trí sau đây :
1- Các buồng bệnh với khoảng 30 giường nằm; buồng cho nhân viên trực (y tá, điều dưỡng) 15m2
2- Nhóm phòng phục vụ điều trị : Buồng bác sỹ (10m2); phòng thủ thuật (13 − 18m2); buồng thụt tháo (8m2); buồng có giường của y tá (4m2)
3- Nhóm phòng hậu cần : căng tin (14m2); phòng ăn (18m 2 )
4- Góc vệ sinh : buồng tắm (12m2); nhà cầu riêng cho bệnh nhân và nhân viên; chỗ rửa; chỗ bảo quản các đồ vải bẩn; chỗ rửa và tiệt khuẩn bô, vịt; chỗ tạm cất các đồ phế thải, rác
5- Hành lang bệnh phòng, liên kết các vị trí kể trên
Trang 7Giữa các đơn nguyên trong khoa là buồng chủ nhiệm khoa, buồng điều dưỡng trưởng hoặc
điều dưỡng hành chánh; chỗ để bảo quản các máy móc xách tay; chỗ để xe đẩy, cáng; buồng
hành chính khoa; buồng riêng theo chuyên khoa; phòng họp hoặc giao ban
Nhiệm vụ quy hoạch chủ yếu khi thiết kế Đơn nguyên là đảm bảo được sự tiện nghi về mặt vệ
sinh, chống lại nhiễm khuẩn bệnh viện dễ dàng hơn, đồng thời thuận lợi hơn trong phục vụ
bệnh nhân
- Hành lang, cầu thang
2 Các buồng bệnh
- Cần phải cấu tạo các loại buồng bệnh khác nhau để nhằm mục tiêu đảm bảo các điều kiện
thích hợp về môi trường điều trị đối với các loại bệnh khác nhau Ngoài những buồng bệnh
thông thường còn có các buồng điều trị tăng cường, các box, bán box buồng bệnh càng ít
giường, càng ít có nguy cơ lây chéo trong bệnh viện và cho phép cách ly các bệnh nhân nặng
nguy hiểm Mặt khác thì các bệnh nhân nhẹ, bệnh nhân đang hồi phục lại ưa thích các phòng
nhiều giường phù hợp hơn với trạng thái tâm sinh lý
- Các chỉ tiêu vệ sinh cơ bản của các buồng bệnh là : độ sạch của không khí, vi khí hậu, độ
chiếu sáng, sự khác biệt về tiếng ồn bên trong và bên ngoài buồng bệnh
- Buồng bệnh phải có thể lau chùi tốt, cửa mở không được gây tiếng động và không nên để
bậc cấp vì còn phải đưa bệnh nhân ra vào bằng xe kéo
- Phòng nhiều giường thì diện tích cần thiết cho 1 giường là 6,5m2, phòng 1 giường thì diện
tích cần thiết là : 9 − 12m2 Chiều cao trung bình của phòng là 3,5m
- Khoảng cách giữa 2 giường là 0,9 − 1m Khoảng cách giường với tường là 0,5m hoặc 0,8m
- Chiếu sáng và thông thoáng tốt có ảnh hưởng tâm lý và yêu cầu thuận lợi để điều trị bệnh
nhân Thông thoáng hợp lý để giải quyết các mùi khó chịu, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh
viện
- Về mặt vi khí hậu, nhiệt độ trong phòng bệnh dễ chịu thích hợp là : 24,0 − 25,0 0
C về mùa đông và 25 − 260C về mùa hè trong điều kiện độ ẩm tương đối là 79 ± 5% và tốc độ gió là 0,3
− 0,5m/s
Những điều kiện vi khí hậu riêng biệt cho sản phụ và trẻ sơ sinh, cho bệnh nhân hậu phẫu,
bệnh nhân đang nằm phòng hồi sức phải theo những chỉ dẫn riêng và nên trang bị các thiết
bị để điều hòa không khí
Hình ảnh các ngăn chăm sóc bệnh nhân gáy mê-hồi sức có bàn theo dõi qua Camera
3 Một số yêu cầu vệ sinh chung khác
Trang 83.1 Chiếu sáng
3.1.1 Tự nhiên
- Các phòng cần phải có đủ ánh sáng tự nhiên Hệ số ánh sáng một số vị trí :
+ Phòng mổ, phòng sinh, phòng thay băng 1 4 − 1/5
+ Buồng bác sỹ và buồng thủ thuật 1/5 − 1/6
+ Các phòng bệnh nhân 1/6 − 1/7
- Hệ số chiếu sáng tự nhiên (K.E.O) ở các phòng trên đều không nhỏ hơn 2%
3.1.1.Nhân tạo Tiêu chuẩn tùy theo vị trí và loại đèn chiếu sáng Ở ba vị trí nêu trên, độ rọi cần đạt từ 200 − 500 Lux
3.2 Nước sinh hoạt
Bệnh viện chỉ được phép sử dụng 2 loại nguồn nước
- Nước máy : trung bình 100 − 150 lít/ giường /ngày
- Nước giếng : tối thiểu 60 lít /giường /ngày
Các phòng mổ, phòng thay băng, phòng sinh, phòng khám − tiếp nhận bệnh nhân thì ngoài nước lạnh, nên có thêm hệ thống cấp nước nóng
Thường xuyên rửa tay với xà phòng hay làm sạch bàn tay bằng dung dịch rửa tay (alcohold-based hand rubs) là một biện pháp quan trọng để làm giảm nhiễm khuẩn bệnh viện
3.3 Nước thải −−−− Phân rác
Hiện nay VN có 830 bệnh viện (số liệu 2000) với tổng số 104 065 giường bệnh, hàng ngày
các BV sẽ phát sinh ra 90 tấn rác thải Trung bình 1 giường bệnh/ngày thải ra 0,86 kg chất
thải chung và 0,14kg chất thải nguy hại, hay hàng năm 1 giường bệnh có từ 200 đến hơn 400kg rác tuỳ theo tuyến
Thu gom chất thải BV phải theo đúng " Quy chế quản lý chất thải Y tế" Dụng cụ thu gom gồm các bao nilon, thùng hộp nhựa, xe đẩy chuyên dụng phải có màu sắc và ký hiệu phù hợp Màu vàng: đựng chất thải lâm sàng, bên ngoài phải có biểu
tượng về nguy hại sinh học Màu xanh : đựng chất thải sinh
hoạt Màu đen : đựng chất thải hoá học, chất thải phóng xạ,
thuốc gây độc tế bào (nguy hiểm)
Cần xây dựng nơi đổ rác và lò đốt rác ở cuối chiều gió Lò
đốt phải đảm bảo nhiệt độ thiêu huỷ chất thải quá 10000C
Các vật thải nguy hiểm phải đốt là : bông, băng, phần cơ thể
bị cắt bỏ Hiện nay Việt nam đã sản xuất được Lò đốt xử
lý rác thải Bệnh viện, loại TSH -20G do Công ty Thái sơn chế tạo đang được đánh giá cao nhất, giá thành chỉ bằng 20% lò đốt cùng tính năng nhập ngoại Nhiệt độ ở buồng đốt cấp II
đã đạt tới 11000 C
- Bệnh viện nhất định phải xây dựng hệ thống cống cục bộ tập trung nước thải bệnh viện vào trạm xử lý trước khi được thải vào hệ thống cống thành phố
Không được xây giếng thấm để xử lý nước thải bệnh viện
IV Yêu cầu vệ sinh ở một số khoa phòng đặc biệt
1 Khoa truyền nhiễm (Khoa lây)
Khoa lây chính là nơi để phát hiện, cách ly và điều trị triệt để các bệnh nhân lây Nếu tổ chức
không hợp lý, khoa lây sẽ thành ổ truyền nhiễm nguy hiểm, dễ xảy ra
− Lây chéo trong bệnh nhân với bệnh nhân
− Lây chéo từ bệnh nhân qua nhân viên y tế
Trang 9Yêu cầu vệ sinh ở khoa truyền nhiễm bắt đầu ngay từ khâu đón nhận bệnh nhân Các bệnh nhân lây sau khi qua bộ phận tiếp nhận trung tâm, được gởi thẳng đến phòng khám − tiếp
nhận của khoa Lây Phòng khám − tiếp nhận này phải tổ chức theo nguyên tắc một chiều
Phòng này sẽ không cho vào viện những người nhà đi theo bệnh nhân không cần thiết và hướng dẫn bệnh nhân đến thẳng nơi khám bệnh của mình
Trước khi bệnh nhân được nhận vào khoa, các bệnh nhân đều phải qua “xử lý vệ sinh”
Phòng khám bệnh phải tẩy uế h ng ng y v sau mỗi lần khám bệnh
Qui hoạch khoa truyền nhiễm dù nhỏ, cũng nên tạo điều kiện để thiết lập một số box độc lập
dành cho :
- Bệnh chưa xác định chẩn đoán,
- Bệnh nặng có biến chứng,
- Mắc hai bệnh truyền nhiễm một lần,
- Bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây lan nhanh
Cấu tạo các box của khoa truyền nhiễm có ý nghĩa quan trọng trong việc cách ly Mỗi box điều trị đều cần phải có “ngăn chuẩn bị”
Mỗi buồng bệnh của khoa truyền nhiễm cũng nên có góc vệ sinh riêng, tất cả các buồng bệnh đều trang bị chậu rửa (La - va - bô)
Các buồng bệnh truyền nhiễm bố trí chủ yếu các buồng 1 − 2 giường (tối đa là buồng 4
giường) cùng loại bệnh Nếu khoa truyền nhiễm không lớn thì nên qui hoạch 100% các box 1 giường Nếu tổng số giường nhiều hơn 30 thì 50% là các box 1 giường và 50% là các box 2-4 giường
Ở cửa buồng bệnh, có giá treo sẵn áo quần cách ly của buồng bệnh ấy Chậu nước sát khuẩn (ví dụ chloramine B) để nhân viên nhúng tay
Buồng bệnh phải được thường xuyên lau chùi bằng dung dịch sát trùng, không được dùng chổi quét
Dụng cụ, áo quần được xử lý vệ sinh thường xuyên
Tiêm chích, ăn uống của bệnh nhân thực hiện tại bệnh phòng Thức ăn thừa đổ vô thùng riêng như chất thải bỏ
Bệnh nhân ra viện phải được tẩy uế toàn bộ : dụng cụ, áo quần, mùng mền
Cán bộ công nhân viên khoa truyền nhiễm :
− Phải có trang bị bảo hộ đầy đủ và thay đổi thường xuyên Phải duy trì thói quen rửa tay
trước và sau khi đụng chạm tới bệnh nhân
− Có phòng và tủ để tư trang riêng Hết ca làm việc thay đổi quần áo cách ly, tắm rửa mới mặc quần áo riêng về nhà
Ở tuyến huyện, khoa truyền nhiễm ít giường thì nên tổ chức khoa truyền nhiễm thành các
ngăn phân chia bệnh truyền nhiễm, theo đường lây : Hô hấp, Tiêu hóa, Da niêm mạc và Máu
Phục vụ bệnh nhân theo một chiều xác định
2 Khoa Ngoại
Tổ chức khoa ngoại theo hai nguyên tắc :
-Tổ chức bộ phận vô khuẩn và khử khuẩn là căn bản của ngoại khoa Nên chia riêng phòng mổ “sạch” và phòng mổ “bẩn” Nên tổ chức các box nhỏ 1 − 2 giường để cấp cứu, chăm sóc các ca nặng Trong phòng này nên lắp đặt điều hòa không khí
- Trong phòng mổ, phải hạn chế số người trong cuộc mổ, ai vào phòng mổ bắt buộc phải đeo khẩu trang, mặc áo, đội mũ vô khuẩn Chế độ vô khuẩn phòng mổ phải thực hiện nghiêm ngặt Cần lưu ý rằng Khẩu trang và Ao choàng vô khuẩn vẫn có thể bị nhiễm khuẩn trở lại sau khi dùng 1,5-2h với Khẩu trang và tối đa là 4 h với Áo choàng Sau khi mổ người ta thu dọn phòng mổ một cách chu đáo Nền, tường được rửa bằng dung dịch sát trùng, nước nóng rồi làm thoáng một cách cẩn thận
Trang 10Dùng đèn tử ngoại để khử khuẩn phòng mổ : số lượng đèn cần trang bị được tính là 3W/m2 diện tích phòng /
Câu hỏi đánh giá cuối bài
1 Trình bày vai trò ý nghĩa vệ sinh bệnh viên ?
2 Trình bày được khái niệm đơn nguyên đìêu trị, tổ chức và các yêu cầu vệ sinh cơ bản của bệnh phòng ?
3 Qui định về xử lý rác trong bệnh viện ?
4 Phân tích các yêu cầu vệ sinh cơ bản của khoa truyền nhiễm ?
Tài liệu tham khảo chính
1 Bộ môn Vệ sinh - Dịch tễ , (2003) Giáo trình Khoa học Môi trường và Sức khoẻ Môi trường, Trường Đại học Y Huế
2 Bộ Y tế, (2003), Tài liệu hướng dẫn qui trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện, Tập I,
Nhà xuất bản Y học, Hà nội
3 Bộ Y tế, (1999), Quy chế quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà nội
4 Hoàng Tích Mịnh,(1974), Vệ sinh Hoàn cảnh, Nhà xuất bản Y học, Hà nội
5 Hoàng Tích Mịnh, (1977) , Vệ sinh - Dịch tễ, Tập 1, Nhà xuất bản Y học, Hà nội
6 Габович Р.Д , Познанский С С , Шахбазян Г Х,(1993), Гигиена , Галовное
издательского объединения “вища школа’’, Киев