Nếu sản xuất theo phương pháp thủ công, tiếng ồn không cao, ở những nơi gia công gỗ tạp, gỗ nhỏ để sản xuất dụng cụ gia đình, công nhân thường bị chấn thương, khi sản xuất gỗ hoặc làm gi
Trang 1nhân dân trong nước, đảm bảo cung cấp cho thị trường xuất khẩu Tuy nhiên nghề chăn nuôi cũng là nghề có thể lây bệnh có nguồn gốc từ động vật sang người như bệnh nhiệt thán (than), lở mồm long móng, giun sán Đã có nhiều trường hợp người chăn nuôi bị lây bệnh lao, ký sinh trùng ở nước ta Tình trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi cũng làm cho người chăn nuôi bị ảnh hưởng xấu đối với sức khoẻ Các sản phẩm phân giải từ phân, nước thải sẽ làm ô nhiễm hầu hết môi trường làm việc, môi trường sống của người chăn nuôi
Người nông dân dễ bị nhiễm độc các hoá chất trừ sâu diệt cỏ do sử dụng rộng rãi loại hoá chất này vì nhiều mục đích khác nhau
Người nông dân cũng dễ bị say nắng, say nóng cũng như các bệnh khác do điều kiện vi khí hậu bất thường thậm chí có người chết Do không được quan tâm đúng mức nên đã có nhiều trường hợp bị mạn tính không được phát hiện và xử lý kịp thời đặc biệt là các bệnh có liên quan đến môi trường lao động sản xuất nhỏ ở nông thôn Các bệnh dị ứng cũng thường gặp như dị ứng với côn trùng, phấn hoa gây mề đay hoặc co thắt khí phế quản trong mùa thu hoạch hoặc chăm sóc các cây lương thực
II VỆ SINH LAO ĐỘNG LÂM NGHIỆP (NGHỀ RỪNG)
Nghề rừng ở nước ta ngày nay được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt vì nó giúp nông dân miền núi vượt qua những khó khăn truyền thống và đi lên qua kinh tế đồi rừng Nhiều hộ nông dân đã có thể làm giàu trên đất rừng của mình, song nghề rừng cũng có những đặc thù riêng của nó
Rừng có tác dụng giữ nước và đất, cải tạo khí hậu, cung cấp gỗ và hoa quả có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Quá trình sản xuất trong lâm nghiệp gồm 4 khâu lớn
- Sản xuất và kinh doanh các cây, quả công nghiệp
- Kinh doanh rừng
Trang 2- Khai thác gỗ
- Chế biến gỗ (khâu này bao gồm gia công gỗ và công nghiệp hoá học lâm sản)
2.1 Đặc trưng tác hại nghề nghiệp
Cũng như nghề nông, nghề rừng cũng chịu sự tác động của khí hậu thời tiết ngoài trời khắc nghiệt Độ ẩm cao và gió quẩn là đặc trưng có hại hơn cả, gây ảnh hưởng tới các quá trình sinh lý của cơ thể đặc biệt là quá trình điều hoà thân nhiệt
Trong lâm nghiệp người ta thường chú ý đến rất nhiều loại côn trùng rắn,
rết,vắt gây hại trực tiếp và có thể gây chết người Nhiều bệnh có nguồn gốc thiên
nhiên Ổ bệnh thiên nhiên là nguy cơ cao đối với công nhân lâm nghiệp Các loại
muỗi, chuột, thỏ mang mầm bệnh tồn tại dai dẳng, khắp nơi vẫn chưa có cách nào
tiêu diệt được
Nguy cơ tai nạn lao động của nghề rừng là rất cao, đặc biệt là trong khai thác và chế biến gỗ, cây công nghiệp
2.2 Một số loại công việc và các bệnh thường gặp
2.2.1 Kinh doanh rừng và cây công nghiệp
Kinh doanh rừng và cây công nghiệp là thực hiện các công việc như: phát bãi, chọn giống, ươm cây rừng, làm cỏ, bón phân, tỉa cây và thu hoạch Phương thức sản xuất về cơ bản giống như trong nông nghiệp, các vấn đề về vệ sinh cũng tương tự, nhưng khác ở chỗ là phần lớn đều tiến hành ở những vùng núi hoang vu, dân cư thưa
thớt nhiều muỗi, ve, bọ dễ mắc những bệnh do những ổ dịch thiên nhiên truyền đến
như: viêm não, sốt xuất huyết, sốt phát ban
Để đề phòng mắc bệnh, biện pháp chủ yếu là tăng cường công tác vệ sinh và bảo
vệ cá nhân, triệt để tiêu diệt những động vật gậm nhấm có hại, thực hiện mặc "5 kín chặt" (áo liền quần, cổ áo, 2 cổ tay và 2 cổ ống chân bó chặt), đồng thời có chế độ kiểm tra ve đốt cũng như các bệnh tật khác
2.2.2 Khai thác gỗ
Khai thác gỗ gồm có những công việc như: điều tra rừng, hạ chặt gỗ, chuyển gỗ
ra bãi và đưa gỗ lên xe chở đi xa Công việc thường tiến hành thường xuyên, quanh năm nhưng nếu vào mùa đông sẽ gặp một số khó khăn ở rừng như: rét, lạnh, ẩm ướt, làm cho tay chân bị lạnh, dẫn đến đau nhức ở chân, ở khớp, có khi lạnh cóng Nhân viên điều tra rừng trong những ngày đó phải được trang bị chống rét tốt, nhất là giữ ấm
ở chân và bản thân
Hiện nay, chặt hạ gỗ vẫn dùng sức người là chính, phương tiện cơ giới còn thiếu thốn Phương thức chặt hạ ở mỗi nơi thường khác nhau, đa số đùng cưa tay của một hoặc hai người
Chặt hạ gỗ là một loại lao động chân tay nặng, vì vậy ngoài khoảng nghỉ trưa để
Trang 3ăn cơm, cứ sau hai giờ công tác, nên được giải lao 10 - 15phút
Muốn chặt sát gốc cây để lấy được nhiều gỗ, khi chặt công nhân thường phải cúi khom, lâu ngày nhất là trong mùa đông ẩm ướt, công nhân sinh ra đau lưng, đau khớp Cần phải chú ý giữ ấm hai chân, đi tất, đi giày, và làm việc xen lẫn các động tác thể dục trong lúc nghỉ giải lao Gỗ chặt xuống được róc bỏ vỏ, đẽo cho tù đầu và chặt thành từng khúc, theo kích thước đã quy định Công việc này tiến hành ngay ở trên đồi, núi; thường ta gọi là ở "Lô" chỗ cây vừa đổ Từ trên rừng núi cao, gỗ được lao xuống dưới chân đồi, núi, tập trung thành từng đống để tiếp tục được vận chuyển ra bãi Việc vận chuyển có thể dùng sức trâu, sức voi, máy kéo và có thể cả sức người Ở một số lâm trường còn dùng những khe dốc để làm máng lao gỗ Lao, bắn gỗ là một thứ lao động rất nặng nhọc, đường đất xấu, khó đi nên rất dễ gây tai nạn lao động như: sụn cột sống, sai khớp cẳng chân, dập nát phần mềm, gãy xương Công nhân mới vào nghề thường bị đau các cơ ngực và cơ lưng
Cần cải tiến kỹ thuật, dần dần dùng sức vật, sức máy thay cho sức người Mỗi nhóm công nhân khi cùng bẩy một khúc gỗ to nặng, sự gắng sức về thể lực rất lớn, sự điều hoà phối hợp động tác phải rất nhịp nhàng, hiệu lệnh chỉ huy phải thống nhất để đảm bảo an toàn chung Hò hát động viên khi làm gắng sức là một tín hiệu kích thích
có điều kiện quan trọng Trong lao động, nó làm con người hứng thú trong công việc, giảm bớt mệt mỏi, tăng năng suất lao động Đây cũng là một thành công trong việc áp dụng nguyên tắc của sinh lý lao động và kinh nghiệm quý báu của quần chúng
Vận chuyển là giai đoạn chuyển gỗ tới kho chứa hoặc cơ sở sử dụng, bằng đường
bộ, đường sông, suối Phương tiện vận chuyển là bè, xe hơi, máy kéo, và xe súc vật kẻo
Khi bốc dỡ những khúc gỗ to nặng, phải gắng sức nhiều dễ xảy ra sụn xương sống, sai khớp xương Khi vận chuyển đường thuỷ, do phải dầm nước lâu da dễ bị viêm Nên rút ngắn thời gian lội dưới nước, đi ủng đề phòng các vết thương ở chân Khi ra khỏi nước, cọ rửa chân bằng nước sạch rồi lau khô, làm như vậy để phòng bệnh viêm đa Nếu đã mắc bệnh viêm da, thì nên tạm dừng lội xuống nước, phòng nhiễm khuẩn thứ phát, đồng thời tích cực chữa triệu trứng để bệnh mau khỏi Khi vận chuyển
gỗ bằng đường thuỷ, công nhân vì đổi địa điểm luôn cho nên ăn uống thất thường, hệ tiêu hoá dễ bị ảnh hưởng Bởi vậy trong công tác bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh ăn uống là một vấn đề cần lưu ý đến nhiều
Những công việc khai thác như: chặt hạ, cắt khúc, đẽo sọc, tập trung gỗ đều phải tiến hành ở đồi núi, cho nên công nhân phải làm lán và bếp ăn ngay ở trên đó Vùng chặt gỗ phải di chuyển luôn, cho nên lán ở cũng luôn luôn thay đổi Do đặc điểm này lán ở thường làm quá đơn giản, tuy vậy không nên quá sơ sài, ít nhất cũng phải có đủ các điều kiện cần thiết tối thiểu như: khô ráo, không khí trong sạch, mát mẻ về mùa hạ
và ấm áp về mùa đông Theo các tài liệu thống kê bệnh đường ruột, bệnh đau lưng, bệnh đau thần kinh hông và chấn thương, tương đối gặp nhiều trong công nhân lâm
Trang 4nghiệp Tỷ lệ chấn thương tuy không cao lắm nhưng mức độ thương tổn thì lại nặng Loại nặng chiếm khá nhiều
Bệnh đường ruột thường có liên quan đến tình hình vệ sinh ăn uống, trong tình trạng ở dã ngoại, như ăn thức ăn nguội, hoặc uống nước lã, giờ nghỉ trưa quá ngắn, ăn uống vội vàng Nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ y tế và cán bộ các ngành hữu quan để thực hiện những biện pháp phòng bệnh toàn diện, từng bước cải thiện đời sống công nhân
Ở một số khu rừng có thể có những ổ bệnh truyền nhiễm như viêm não rừng Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là mặc kiểu “5 chặt” như trên đã nói Khi làm việc trong rừng, khi nghỉ ngơi và sau khi làm việc, cùng nhau tìm và bắt các loại ve ở trên quần áo, phát sạch cỏ dại ở quanh nhà và đường đi, không để ve bò lên mình Qua cố gắng thực hiện các biện pháp đó, bệnh viêm não rừng căn bản có thể bị không chế Một vài khu rừng, còn có bệnh sốt xuất huyết và bệnh sốt phát ban rừng, nhưng có tiến hành các biện pháp dự phòng như bắt, diệt chuột, bệnh đã được giảm đi nhiều
2.2.3 Chế biên gỗ
Gia công gỗ gồm sản xuất những tấm gỗ, bào gỗ tấm, dán gỗ, dùng gỗ trong sản xuất giấy, đem gỗ nguyên cắt thành từng khúc làm gỗ chống lò, gỗ vuông và gỗ ván Trong sản xuất vấn đề tương đối phổ biến là tiếng ồn và tai nạn lao động Nếu sản xuất theo phương pháp thủ công, tiếng ồn không cao, ở những nơi gia công gỗ tạp, gỗ nhỏ
để sản xuất dụng cụ gia đình, công nhân thường bị chấn thương, khi sản xuất gỗ hoặc làm giấy theo phương pháp trong nước, bàn tay công nhân thường phải tiếp xúc với dung dịch kiềm có nồng độ khá đặc, vì vậy cần chú ý bảo vệ da và bàn tay, tránh sờ nhúng trực tiếp, nếu cần thì đi găng cao su
Ngành công nghiệp này còn mới đối với nước ta Hiện nay ta đã bắt đầu có những cơ sở chế tanin, làm than hoạt, chế dầu thơm, ép dầu và tổng hợp xenlulô
Người ta lấy được nhiều axit tanin ở một số vỏ cây Trong quá trình cô đặc axit, nồng độ axit tanin dưới dạng hơi, toả khá đậm đặc vào không khí Lúc thao tác, công nhân phải nhúng tay vào axit, bởi thế cần phải đeo.găng tay cao su và có khẩu trang Khi chế than hoạt, bụi ra nhiều Những bộ phận tán, đập, nghiền sinh ra nhiều bụi nhất cho nên cần được bao bọc kín và công nhân có đủ khẩu trang
Khi chưng gỗ khô, ép dầu, do máy không kín, trong không khí sẽ có nhiều hơi độc bay ra như: cacbon sunfur (CS2) khói và các loại hơi dầu Ngoài biện pháp kín hoá quá trình sản xuất, cần phải tăng cường thông gió thoáng khí ở nơi làm việc và trong khẩu trang phải có thêm một lớp than hoạt Khi tổng hợp xenlulô, do phải dùng những dung dịch có độc tính như: cacbon sunfur (CS2) cồn metylic hơi độc có thể bay ra
không khí Ngoài vấn đề thông thoáng, quá trình sản xuất cần được tiến hành trong máy móc, dụng cụ kín
Quá trình sản xuất ngành hoá học lâm sản nói chung cũng gặp những vấn đề như
Trang 5các ngành sản xuất hoá học khác như tiếp xúc với axit Các chất kiềm, nhiệt độ, độ ẩm cao cho nên các biện pháp vệ sinh để bảo vệ sức khỏe của công nhân cũng tương tự như nhau
III CÔNG NGHỆ LUYỆN KIM (NGHỀ LUYỆN KIM)
Kỹ nghệ luyện kim bao gồm luyện kim đen và luyện kim màu Đây là một nghề
có sự kết hợp chặt chẽ của nhiều quy trình kỹ thuật và quá trình luyện kim đòi hỏi một dây chuyền công nghệ liên tục và điều chỉnh đồng bộ Đặc trưng của nghề này là tác hại của nung (nhiệt độ cao, bức xạ nhiều) và rất nhiều hơi khí độc nguy hiểm, bụi rất phổ biến ở mức nguy hại gây nên rất nhiều bệnh do bụi Luyện kim cũng là một nghề nặng nhọc làm tiêu hao nhiều năng lượng cho công nhân lao động
Các vấn đề vệ sinh của xí nghiệp luyện kim liên hoàn phải đặt ngay trong thời kỳ thiết kế, nghĩa là khi chọn địa điểm xí nghiệp và khi dự định đặt vị trí các xưởng Khi chọn địa điểm của xí nghiệp và vị trí các xưởng phải để ý đến hướng gió, vì nhiều xưởng sinh nhiều bụi và khí độc tạo ra những điều kiện không khí không thuận lợi cho các nhà ở của công nhân hoặc các xưởng khác không độc về phương diện này
Một vấn đề rất quan trọng là việc cung cấp nước uống hay nước dùng trong sản xuất Việc đặt đường ống dẫn nước cũng có vấn đề, nhất là khi xí nghiệp liên hoàn có
lò than cốc mà nước thải có thể chứa nhiều chất nguy hại cho sức khoẻ như các hỗn hợp cyanhydric và phenol
Ở giữa các khu vực và các xưởng, phải để những chỗ trống đủ rộng để đảm bảo
sự thông thoáng tự nhiên Các nhà của xí nghiệp luyện kim thường rất lớn Quá trình
kỹ thuật đòi hỏi phải xây cất những xưởng to lớn, rộng vài trăm, vài nghìn thước vuông và cao đến 20m
Cách chiếu sáng và thông thoáng các nhà lớn đó là một vấn đề cần phải giải quyết trong dự án thiết kế
Một vấn đề quan trọng trong xí nghiệp luyện kim là cơ giới hoá các công việc chân tay nặng nhọc hay độc hại Cơ giới hoá sẽ rút số công nhân tiếp xúc với độc hại, nhưng lại đòi hỏi công nhân lành nghề Ngoài ra, cơ giới hoá tạo nguy cơ tai nạn lao động có tính chất khác so với lao động chân tay Trong dự án thiết kế, phải chú ý đến điều này và có những biện pháp cần thiết để tránh
Màng lưới đường ống dẫn khí có thể bị hỏng và làm nhiều người trúng độc Trong
dự án thiết kế, phải đảm bảo các vật liệu thích hợp để cho các ống dẫn khí thật kín Một số công đoạn sau đây cần lưu ý xem xét trong hoạt động y tế của nghề luyện kim
3.1 Lò cao
Trong lò cao, người ta biến quặng thành gang từ nguyên liệu: quặng sắt, than cốc
và các chất làm chảy, một nguyên liệu khác dùng để chế tạo gang trong lò cao là than
Trang 6cốc Trong thực tế người ta đun than đá trong lò đặc biệt không có không khí vào Than cốc chế tạo như vậy rất cứng, bền Muốn chế một tấn gang cần phải 1 - 1,2 tấn than cốc (Than cốc dùng làm nhiên liệu)
Quá trình chế tạo gang là khử oxy các hỗn hợp của sắt với oxy Quặng sắt, các chất làm chảy và than cốc được đổ vào tháng của lò cao thành lớp chồng chất lên nhau Không khí nóng qua các lỗ gió vào lò Than cốc hoá hợp với oxy của không khí, thành oxit cacbon Khí này bốc lên, và hoá hợp với oxy của quặng sắt thành CO2 Quặng mất hết oxy chỉ còn sắt và biến thành gang lỏng rơi thành giọt xuống chậu Các chất làm lỏng tạo với các chất bẩn, chất cứt sắt, hay sỉ sắt cũng chảy xuống chậu thành một lớp nổi trên lớp gang Các lò cao hiện đại có một thể tích 1.100 - 1.200 m3 và có thể sản xuất l.200m3 gang trong 24 giờ
Đa số công nhân trong các xưởng có lò cao phải trực tiếp làm các việc đỡ các toa, vận tải các vật liệu, đổ nguyên liệu vào lò cao và đổ gang vào khuôn Các điều kiện lao động có liên quan đến việc cơ giới hoá kết hợp với thủ công nặng nhọc và nóng độc
Ở các lò cao cũ, việc vận tải nguyên liệu từ kho đến lò thực hiện bằng cách đẩy
xe goòng Trọng lượng của toa không là 300 - 350kg, của toa đầy quặng là 1000kg Quãng đường phải đẩy qua là 50 - 100m, có khi hơn Công việc này làm tiêu phí năng lượng và nguy hiểm nhất là khi trời mưa và đường trơn Việc đỡ các toa bằng tay thường gây tai nạn lao động
Công việc đổ nguyên liệu vào lò của thợ đứng trên bệ, rất nguy hiểm Họ chịu tác động của nhiệt, của bức xạ và khí độc thoát qua miệng lò
Ở các lò cao hiện đại, tất cả các công việc đó đều được cơ giới hoá công việc vận tải và đổ nguyên liệu vào lò nhờ cơ giới hóa chỉ cần 20 - 30 công nhân và không đòi hỏi sự cố sức Ở các lò cao cũ có thể cơ giới hoàn toàn hay cơ giới hoá một phần Có thể dùng xe ô tô vận tải, tưới nước cho các vật liệu để tránh bụi sinh ra trong khi dỡ và
đổ nguyên vật liệu Các phễu phải có lưới sắt ở miệng để tránh nguy cơ trượt ngã vào
Ở các lò cũ, người ta chọc thủng với một thanh sắt, nghĩa là làm bằng tay Công việc này đòi hỏi cố sức nhiều, công nhân làm việc này chịu nóng và có thể bị bỏng Công việc kéo dài 30 phút và cần 7 - 10 người Lúc đục xong lỗ sẽ bắn ra một chùm tia nhiệt Trong khi gang chảy giọt gang nóng chảy có thể gây bỏng
Ở các lò hiện đại, người ta dùng máy khoan chạy bằng điện hay bằng hơi Nhờ phương pháp này, công việc chỉ đến 4 phút và chỉ cần 3 người
Để nút lỗ, hiện nay người ta dùng một thứ súng chạy bằng không khí ép và để cạnh lò cao Nạp đất sét vào súng và chĩa họng súng vào lỗ gang chảy Đất sét bắn ra
sẽ bịt kín lỗ và gang không bị chảy nữa
Ở các lò cũ, việc làm bằng tay, như vậy có nguy cơ bị bỏng và bị thương, khi phải chọc thủng thành lò cao để cho dòng tạp chất của sắt chảy, rồi lại nút kín Phương
Trang 7pháp làm việc như vậy thì nguy cơ cũng như trên Cần làm công việc này bằng máy móc để có thể đứng xa
Muốn phòng ngừa nhiệt ở trong các xưởng đó, có thể đặt hệ thống tắm không khí Để đề phòng bỏng do các giọt kim loại nóng chảy, các rãnh có kim loại chảy phải thật khô, ngoài ra các công nhân phải có trang bị đặc biệt
3.2 Luyện thép và một số kim loại màu
Biến đổi gang thành thép bằng cách giảm tỷ lệ cacbon và các cặn khác như: silic, lưu huỳnh, lân bằng oxy hoá Cách hiện đại nhất biến đổi gang thành thép là: lò Martin, lò chuyển lư Bessemer, lò chuyển lư Thomas và lò điện Nhìn chung các lò này đều nóng và nguy hiểm dễ chấn thương Các lò luyện kim loại màu còn có rất nhiều chất độc như kim loại nặng và hóa chất nguy hiểm
Cần phải chống nhiệt và bức xạ Đối với các tia hồng ngoại có thể dùng các màn nước mỏng để hấp thụ các tia đó Một lớp mỏng 0,5 mm cũng đủ hút gần hết các tia hồng ngoại Ở Liên Xô người ta dùng các màn nước chảy lên mạng kim loại Một phương pháp để giảm nhiệt là tưới nước lên sàn ở gần các máy dát Tuy vậy, ở các lò luyện kim loại màu lại không được để nước bừa bãi vì gây phản ứng thăng hoa chất độc (asen, chì )
Sự thông gió đúng rất quan trọng trong việc điều nhiệt Nhưng sự thông gió không thể đảm bảo vi khí hậu thích hợp trong tất cả các xưởng cho nên phải đặt hệ thống tắm không khí ở gần các lò và ở gần các ống xi-lanh
3.3 Hệ thống cung cấp khí đốt
Một xí nghiệp luyện kim hiện đại thường dùng các lò chế than cốc và các lò cao
là các chất sinh ra trong quá trình chế tạo thép Như vậy, các khí này rất rẻ tiền
Hỗn hợp các khí có nguy cơ nổ, nếu vượt quá một đậm độ nhất định, nó có thể làm hại cho sức khoẻ Dưới đây là các khí dùng trong kỹ thuật luyện kim
Khí lò cao Khí lò chế than cốc Khí than Các thành phần của
Trang 8nếu có ở trong không khí
Một công việc nguy hiểm là sửa chữa và rửa sạch các ống dẫn khí Công việc đổ nguyên liệu vào lò, lấy tạp chất của sắt ra cũng có nguy cơ trúng độc bởi oxit cacbon, nhưng không nguy hiểm bằng sử dụng khí than không có mùi và không thể dò được Ở các xưởng máy dát, oxit cacbon thấy nhiều trong các lò hình giếng và các lò dùng khí
lò cao làm nhiên liệu
Muốn đề phòng,tước hết phải ghi tất cảnhững nơi có thể chúng độc cấp tính hoặc mạn tính bởi khí có thể dò ra Ớ các nơi đó, phải kiểm tra xem các ống dẫn khí có thật kín không và phải để các máy ghi tự động sự có mặt và tỷ lệ của khí ở trong không khí
Một biện pháp quan trọng là thành lập ở các nơi cần thiết, các trạm y tế có đủ mặt
nạ, máy oxy để làm hô hấp nhân tạo, các thuốc cấp cứu
Đa số công nhân phải học tập để cấp cứu khi cần thiết Ngoài ra, các công nhân phải tập quen đeo mặt nạ trong khi làm việc Mỗi nhà máy bắt buộc phải lập sổ các công việc chỉ có thể làm với mặt nạ, và các công nhân phải tôn trọng điều lệ đó Ngoài
ra, cần phải khám thường xuyên tất cả các công nhân phải tiếp xúc với khí độc trong khi làm việc
IV VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG KỸ NGHỆ CƠ KHÍ
4.1 Đặc điểm chung
Kỹ nghệ cơ khí là một ngành kinh tế quốc gia sản xuất ra tư liệu sản xuất, những máy móc cơ khí dùng để sản xuất mọi vật liệu hay cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải Sản xuất tư liệu sản xuất như vậy có nhiều mặt hoạt động
Sản xuất ô tô, máy kéo, máy dát kim khí, máy cưa, máy bào, máy tiện, máy phát
điện và khi có chiến tranh sản xuất đại bác, súng trường, tiểu liên, xe tăng, tàu bè đều
thuộc kỹ nghệ cơ khí
Trước nhất là sản xuất những miếng kim khí với một hình thể thô sơ tương đối bằng cách rèn, dát hay đúc khuôn Sau đó mới quay, tiện, bào, dũa với những cự ly chính xác hơn để có hình thể vĩnh viễn theo nhu cầu, xong mới lắp lại thành máy và cuối cùng trong giai đoạn thứ tư thì bao che khỏi cọ xát, hư hỏng bằng một lớp vỏ thích hợp
Trong xí nghiệp cơ khí có 3 loại phân xưởng chính:
1 Phân xưởng chuẩn bị gồm các lò nung, lò rèn và lò đốt nóng
2 Phân xưởng cơ giới đúc, dát thành hình thể đầu tiên cần thiết
3 Phân xưởng hoàn chỉnh sơn, lắp, bao bọc
Trong phân xưởng chuẩn bị thường gọi "phân xưởng nóng" vì nơi đây đun, nung
Trang 9kim loại thì nhiệt độ rất cao, khác các phân xưởng khác tuy cũng có tiện, bào mỏng kim loại nhưng với nhiệt độ thấp
Tình trạng vệ sinh trong từng phân xưởng như vậy cũng phụ thuộc vào quá trình sản xuất của phân xưởng đó
4.2 Làm đất đúc khuôn
Đất dùng làm khuôn là một hỗn hợp cát, đất sét, than và chất hữu cơ Có thể cấu tạo như sau: Đất cháy (nghĩa là đất dùng rồi) 84,4%, cát 7,6%, đất sét chịu nóng 0,8%, than bột 0,8%, nước 3,3% Làm khuôn phải làm trong một phân xưởng riêng biệt vì phải đập, sàng, nhào, trộn đất và các thứ cho đều
Nguy hại khi làm khuôn là do không khí có nhiều bụi, số lượng còn tuỳ lúc đập, nghiền, sàng, trộn bằng tay hay bằng máy Làm tay có thể tới 70 mg/m3, làm máy thì không quá 30% lượng trên Một điểm quan trọng cần phải biết là trong bụi này có 20-30% bụi silic tự do Do đó cần thiết là cơ giới hoá cả quá trình sản xuất ở phân xưởng này từ khi đập, nghiền, sàng, nhào, trộn Cả hệ thống vận chuyển cũng cơ giới hoá như máng, dây chuyền, đưa lên Các máy móc như máy đập, máy nghiền phải được che thật kín và trang bị hệ thống hút bụi tại chỗ rồi đào thải ra ngoài sau khi được xử lý thích đáng Đứng về mặt vệ sinh, tốt nhất là việc vận chuyển đất được cơ giới hoá bằng máy thái đất thành từng miếng nhỏ và sẽ được vận chuyển bằng sức hút
4.3 Làm khuôn
Đất nhào trộn xong được đưa đến phân xưởng làm khuôn Người công nhân sẽ đúc những khuôn theo kiểu mẫu Nếu khuôn to quá, thì người ta làm ngay trên sàn của phân xưởng Vì vậy không được lát nhựa
Trong phân xưởng này có rất nhiều bụi, nhất là lúc lắp khuôn, nồng độ bụi có thể lên đến 50mg/m3
Trong các phân xưởng hiện đại có những máy làm khuôn vừa nhanh, vừa đỡ nặng nhọc, vừa ít bụi
Nồng độ oxit cacbon trong phân xưởng này thường không quá 0,2mg/1 không khí, là mức quy định Nếu cùng trong phân xưởng mà cả nung kim loại, thì nồng độ đó
sẽ cao hơn
4.4 Bộ phận nung
Nung cho kim khí chảy ra làm ở trong những lò đặc biệt Nguyên vật liệu dùng là gang từng mảnh hay từng thỏi, miếng Gang được đưa đến kho và nơi đây sẽ làm thành từng mảng nhỏ và sắp xếp theo loại Tất cả các việc trên như: chuyên chở, làm
vỡ nhỏ, chọn lọc rất rễ bị sây sát, sang chấn Nguyên nhân sang chấn thường là kho
chứa đầy, không cẩn thẩn khi lấy các mảnh gang, khi chuyên chở
Biện pháp phòng hộ ở đây là triệt để cơ giới hoá việc vận chuyển, sử dụng những
Trang 10máy đặc biệt để đập gang, có đủ phương tiện phòng hộ cá nhân, nhất là kính Huấn luyện công nhân sử dụng máy móc và theo dõi nghiêm ngặt các việc thực hiện các biện pháp trên
Những công việc chính ở lò nung là đổ gang vào lò, nung, đổ gang chảy ra nồi, lấy tạp chất của sắt Nguy hại nhất ở đây là có bốc hơi oxit cacbon, bioxit sunfua (SO), tác động của nhiệt độ cao và bức xạ, có nguy cơ bị hỏng
Miệng lò cao có cấu tạo thành phần hơi như sau:
Những hơi bốc trong lò đều ở một sức ép cao, vì vậy không những trong lúc đổ gang vào lò, lúc cho gang nước chảy ra mà cả giữa khoảng cách đó oxydecarbone và các hơi khác có thể bốc ra ngoài không khí qua miệng lò gang Nói chung đậm độ sunfua đioxit không quá 0,06 mg/l còn oxit cacbon ở cách lò 1m có thể lmg/l Nếu trên miệng lò không cách biệt với chỗ đổ khuôn, các hơi trên có thể xâm nhập vào Ở một
lò cao địa phương, CO ở đậm độ như sau: Miệng lò CO 2,08 - 8,lmg/1, cách 2m 0,04mg/1 Do đó ở tại đây công nhân hay bị ngất Để phòng ngừa bốc hơi oxit cacbon phải có nắp ở miệng lò và có máy hút gió tại chỗ
Đổ gang vào nồi cũng gây nhiệt độ cao do năng lượng bức xạ của gang nung chảy phát ra Đồng thời vẫn có bốc hơi oxit cacbon lúc cho gang chảy đến 0,01mg/1
có trường hợp đến 0,03 mg/l Để tránh nóng và bốc hơi, người ta khuyên nên có một máy hút hơi lưu động ở trên miệng lò và một vòi hoa sen phun không khí nơi công nhân lao động
Việc sửa chữa lò từng thời kỳ cũng có hại do có thể bốc hơi oxydecarbone, gây bỏng và chấn thương Thường nên chữa lò sau 7 - 14 giờ từ khi lấy gang ra hết lò Dĩ nhiên nếu khoảng cách thời gian này dài hơn thì nhiệt độ không khí và nồng độ oxit cacbon sẽ ít hơn Vì vậy cần phải tôn trọng một khoảng cách thời gian hợp lý
4.5 Đổ khuôn
Việc chuyển chở gang nước đến nơi đổ khuôn dùng những nồi nhiều loại và nhiều cỡ va thường vận chuyển cơ giới (xe goòng điện) Ở các xưởng nhỏ, thì chuyên chở bằng tay Điều kiện vệ sinh ở đây còn tuỳ thuộc vào quá trình sản xuất và mức độ
Trang 11cơ giới của việc vận chuyển Những vấn đề vệ sinh chính ở đây là điều kiện thời tiết và
sự bốc hơi oxit cacbon Nhiệt độ ở đây có thể cao hơn nhiệt độ không khí bên ngoài 10 -150C Bức Xạ nhiệt rất cao: 10 - 15 Kcal/cm2/ phút Tất cả các điều kiện như vậy đều không thuận lợi cho người công nhân nhất là khi phải lao động thể lực nặng
Việc đổ gang vào khuôn thường bốc nhiều oxit cacbon vì các chất hữu cơ cháy không đủ dưỡng khí, các chất hữu cơ ở trong khuôn và oxy không kịp kết hợp với nhau Biện pháp cải thiện quan trọng là thông gió tốt hơn Do cung cấp đủ không khí
độ chừng 45.000m3/giờ cho mỗi tấn gang đổ khuôn, đậm độ oxydecarbone thường không hơn 0,018mg/1ít Giữa khoảng cách bốc hơi oxit cacbon và bốc khói trong buồng kín hay trang bị trên buồng những máy hút hơi khí tại chỗ
Cơ giới hoá việc chuyên chở và động tác đổ khuôn để giảm bớt sức lao động trong thời gian lao động gần bên những nguồn bức xạ
Phải đặc biệt chú ý đến những công nhân làm việc ở các dây chuyền máy và nồi
vì các nơi ấy nhiệt độ cao nhất và đậm độ oxit cacbon cũng cao Vì vậy trong phòng phải đặt một máy lọc đặc biệt hoặc ống dẫn không khí riêng
Nguy cơ bỏng thường cao ở lò nung và nơi đổ khuôn, tỷ lệ chiếm 0,8% số công nhân làm việc ở các nơi này Gần 40% trường hợp bỏng của công nhân ở công trường
lò nung và khuôn đổ gây tổn thương ở chân Để phòng hộ, phải mang theo giày da dày
có may lót thêm một lớp vải cách nhiệt, không có lỗ và bao bọc cả đôi giày từ mũi vào đến gót Cũng có loại quần áo bằng vải cách nhiệt may thành mảng không có nếp vì có nếp, nếp nhăn hay giữ lại các giọt kim loại hoặc các mảnh lửa Để bảo vệ mắt, chống bỏng và tia tử ngoại cần mang khẩu trang và kính
4.6 Tháo khuôn
Kim loại đổ vào khuôn sau vài giờ sẽ lạnh và rắn lại Do đó phải tháo khuôn để lấy những mảnh kim loại Đối với khuôn bé thì làm bằng tay, khuôn to thì làm bằng máy
Công việc tháo khuôn cũng gây nhiều tác hại, quan trọng nhất là phát sinh ra nhiều bụi, điều kiện khí hậu xấu, thời tiết không thuận tiện, cố gắng thể lực lớn và khả năng sang chấn
Tính chất và số lượng bụi còn tuỳ theo tổ chức lao động khi tháo khuôn, mức độ khô đất của đất, phương pháp đã dùng để tháo khuôn Tháo khuôn bằng phương pháp
cơ giới sinh bụi đến 70 - 80mg/m3 và bằng tay có thể đến 300 - 400mg/m3 Thường là bụi cát thạch anh, đất sét chịu nóng, chì, chất hữu cơ bị cháy Kích thước hạt bụi rất bé: 70 - 80% nhỏ hơn 3 microns
Điều kiện khí hậu cũng tuỳ kích thước mảnh kim loại, thời gian để nguội có vài
trường hợp tháo khuôn khi kim loại còn đỏ Mùa đông nhiệt độ cao còn có thể chịu đựng được nhưng mùa hè thì đến 45 - 500C Và Cường độ năng lượng bức xạ có thể 3
Trang 12Kcal/cm2/phút, oxit cacbon ở đậm độ 0,03-0,08mg/1ít là nguy hiểm
Các biện pháp thông gió để đào thải bụi trong lúc tháo khuôn rất ít kết quả và không lắp được máy hút bụi tại chỗ, còn hút bụi chung thì không tác dụng mấy
Đứng về mặt vệ sinh, tốt nhất nên chờ kim loại nguội hẳn mới tháo khuôn, mà khuôn cũng đã nguội rồi Nên dùng các máy ép hơi để tháo khuôn, với điều kiện tưới ướt các khuôn trước khi tháo
4.7 Lau chùi và phân chia các mảnh kim loại
Sau khi lấy các mảnh kim loại, phải lau chùi và cọ rửa đất còn dính lại và các chất khác
Cọ rửa với bàn chải sắt hay các dụng cụ dùng tay hoặc có hơi ép Có 3 nguy hại: Thể lực nặng, phát sinh nhiều bụi, sang chấn, bụi có thể đến 300mg/m3
Chúng ta có thể cải thiện điều kiện lao động bằng rửa khuôn (nếu các mảnh không quá to) trên một chiếc bàn đã lắp lưới sắt mà mặt dưới có lắp một máy hút bụi tại chỗ Cọ rửa bằng máy hơi hay xảy ra sang chấn mắt, vì vậy phải mang kính dày Lau chùi hợp lý nhất về phương diện vệ sinh nếu gian phòng không rộng lắm là dùng ống lăn Các ống này có máy hút hơi, hút bụi Nhưng điều cần thiết là các ống này phải thật kín trong lúc dùng lau chùi Với ống lăn này, số lượng bụi giảm 6,7 lần
so với các phương pháp khác, nhưng có nhiều tiếng ồn, do đó các ống lăn phải để ở buồng bên cạnh và tất nhất là tầng ngầm Để làm sạch người ta hay sử dụng các máy phun, các máy phun cát tự do trong phòng kín
Bụi phát sinh trong quá trình phun cát có cấu tạo với nhiều thạch anh và số lượng SiO2 tự do đến 88 - 90% Mức độ toả lan của bụi rất cao; kích thước trung bình các hạt bụi khoảng 1,4 micromét: Cấu tạo hoá học, đậm độ, mức toả lan của bụi trong những điều kiện như vậy có thể gây bệnh bụi phổi
Ở Đức năm 1936 - 1937 phát hiện được bệnh bụi phổi ở công nhân vào làm việc được hai năm Theo tác giả Liên Xô (cũ),Piek và Benkovesth, tỷ lệ bệnh bụi phổi có thể tới 20% Tác giả Pháp và Anh cho con số này là 61,8 - 80%
Có nhiều phương pháp cải thiện được triệt để điều kiện lao động Một trong những phương pháp là thay cát bằng những hạt thép hay gang trắng Đậm độ bụi như thế rất thấp và thời gian cọ chùi cũng ngắn bớt
Phương pháp cọ rửa bằng nước, các mảnh kim loại được để vào buồng có tường bằng bê tông bọc sắt Nước phun vào các mảnh có một sức ép từ 35 - 100 atm Người công nhân theo dõi tia nước qua cửa sổ kính Nước và đất, gang vụn chảy vào một bể lắng ở nơi thấp nhất của buồng và từ đó đào thải đi bởi một hệ thống bơm Về phương diện vệ sinh, phương pháp này rất thuận tiện vì trừ bỏ được bụi gây nguy hại nhất trong khâu sản xuất này
Trang 13Để giải phóng các mảnh và tẩy những hạt trên mảnh, phải mài cho trơn cả trong lẫn ngoài Đối với mảnh bé thì dùng máy mài cố định, các mảnh lớn thì dùng máy mài lưu động Lúc mài và nhất là mài nhiều máy cùng một lúc, đậm độ bụi có thể 100 - 250mg/m3 Để tránh bụi, các máy mài phải được trang bị máy hút bụi tại chỗ tránh bụi, tổn thương mắt Để bảo vệ mắt, trước đá mài phải có kính che, nhưng công nhân cũng phải đeo kính
4.8 Phân xưởng rèn
Nguyên liệu ở phân xưởng rèn hình thoi hay dát mỏng Nguyên liệu sẽ được rèn thành bán phẩm hay thành phẩm với một hình thù tuỳ theo yêu cầu, rèn búa máy khi nguyên liệu còn mềm, dẻo
Muốn kim loại dẻo phải nung từ 8000 - 12000C, tuỳ theo chất của kim loại, lò rèn nhỏ thì nung ngay trên bếp, lò to thì phải nung trong lò nung Dần dần người ta thay thế các bếp nung bằng lò nung Tuy nhiên, các bếp hiện nay vẫn thông dụng
Bếp nung là một miếng bếp có lỗ mà nhiệt độ có thể cao 800 - 9000C vì không
có vách, nên có nguy hại truyền nhiệt được bằng bức xạ hay đối lưu Nhiệt độ các bếp nung ở độ xa 1m hay l,5m có thể đến 300 và hơn nữa Cường độ bức xạ nhiệt của bếp nung hay thổi kim loại được nung đỏ có thể 6 - 8kcal/m2/ phút
Lò nung ngày càng được dùng nhiều hơn Lò nung kín mọi mặt và chỉ một miệng
để cho các mảnh kim loại vào Trong khoảng cách gần lò, khi mở nắp lò để cho ra hay đưa vào các mảnh kim loại, nhiệt độ có thể cao hơn 45 - 500C Và Cường độ bức xạ 8kcal/cm2/phút Đứng xa dần thì nhiệt độ xuống đột ngột Nếu các lò xây dựng thành 2 hàng sẽ phát sinh "những túi nóng" không thuận lợi cho công nhân
Ngoài các tác hại sức nóng, còn có tác hại nhiễm độc của không khí bởi oxit cacbon, bioxit sunfua, khói bốc hơi ở các bếp và lò nung Điều kiện không thuận tiện nhất khi dùng bếp nung Vì kim loại và nhiên liệu không được đốt cháy đầy đủ, đậm
độ oxit cacbon có thể 0,03mg/ lít
Công việc rèn, luyện có thể làm bằng tay, búa hơi, máy ép hay máy rèn Các công việc này đòi hỏi một lao động thể lực nặng nhất khi rèn búa tay Với một vi khí hậu mà nhiệt độ cao như vậy có thể xảy ra rối loạn bộ phận điều hoà nhiệt độ, bộ máy tim mạch và bộ máy hô hấp Có trường hợp ở một người công nhân rèn và một người công nhân phụ rèn, thân nhiệt lên đến 38 - 390, mạch 120 - 130 và nhịp thở 24 - 26nhịp/phút
Điều kiện vệ sinh không thuận tiện nhất là khi rèn những mảnh bé vì lúc nào người công nhân rèn cũng sát gần nhiệt độ cao và làm quá thể lực của mình
Dùng máy ép và búa hơi thì giảm rất nhiều lao động thể lực Tuy nhiên, công việc vẫn còn rất nặng, nhất là khi quay trở các mảnh kim loại Và lúc cầm, nâng mảnh kim loại để rèn, nắn cũng nặng nhọc Còn phải cộng thêm ảnh hưởng của tiếng ồn và
Trang 14rung chuyển
Trong khi làm việc rất rễ bị bỏng vì phải làm nhanh nên dễ va chạm vào mảnh kim loại còn nóng đỏ Theo tác giả Liên Xô (cũ) Hotgeanov, trong tất cả công nhân kỹ nghệ cơ khí, rèn chiếm tỷ lệ cao nhất về bỏng (20,7%) Các cơ quan dễ bị bỏng như da lại dễ bị nhiễm trùng sinh mụn nhọt, đầu đinh
V VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG KỸ NGHỆ HẦM MỎ
Có nhiều loại hầm mỏ, song ở nước ta mỏ than có vai trò cung cấp một lượng than chính quyết định sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế quốc dân nên có số người tiếp xúc khá đông Than lẫn với các khoáng chất khác như: đá vôi, cát, thạch anh Các vỉa than là các lớp dày mỏng khác nhau tạo thành những góc hẹp khác nhau Các lò là những chỗ trống gây ra bởi sự khai thác mỏ hay các khoáng chất khác ở dưới mặt đất Thường một mỏ có hai khu vực ở dưới mặt đất và ở trên mặt đất
Trong khu vực dưới đất cần có nghiên cứu các lò, dụng cụ, cấu tạo các đất đá, quá trình khai thác, các thiết bị vệ sinh và an toàn, quần áo bảo vệ
Trong khu vực ở trên mặt đất cũng nghiên cứu các vấn đề đó, ngoài ra còn xem xét các công trình dùng trong quá trình sản xuất
Chiều dài các đường hầm khiến công nhân phải đi đường dài mới tới nơi làm việc Đi lại trong hầm rất khó khăn vì tối, ẩm thấp, có các luồng gió mạnh ở các cửa vào lò, vì tình trạng đó, nên các thợ mỏ đã mệt khi đến nơi làm việc Hết buổi làm việc, ngoài sự mệt mỏi gây ra bởi quá trình lao động còn thêm sự mệt mỏi do qua các đường hầm
Ờ nơi làm việc, công nhân chịu vi khí hậu không thay đổi nhưng ở trong các đường hầm, các yếu tố của vi khí hậu không phụ thuộc vào khí hậu bên ngoài Các thay đổi đó càng lớn, nếu các đường hầm dẫn ra ngoài còn dùng để thực hiện sự thông hơi cơ học Tốc độ chuyển động của không khí ở trong các đường hầm là 5,15 - 7,50m/giây Trong khi mưa lạnh, điều kiện này khiến công nhân có cảm giác lạnh Độ
ẩm tương đối của không khí trong mỏ là 80 - 100% Nhiệt độ của đường hầm không khí ở nơi làm việc và trong đường hầm tuỳ thuộc vào chiều sâu đứng thẳng và nằm ngang và vào nhiệt độ của đất đá Nhiệt độ bên ngoài ảnh hưởng ít đến nhiệt độ bên trong Nhiệt độ không khí của lò chủ yếu phụ thuộc vào độ sâu Xuống sâu hoặc vào sâu 100m, thì nhiệt độ tăng thêm 10
Các thay đổi hàng ngày của các yếu tố vi khí hậu rất nhỏ: 1 - 20 tuỳ theo nhiệt độ của không khí Nơi làm việc nóng có nhiệt độ 29 - 310C, nơi làm việc lạnh có nhiệt độ
15 - 170C các yếu tố vi khí hậu thay đổi ít tại các nơi làm việc ở các hầm ở xa lò và thay đổi nhiều ở các hầm chính
Sự thay đổi của vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, luồng gió ) ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của thợ mỏ
Trang 15Ở dưới mặt đất các thành phần của không khí thay đổi Các thay đổi đó do quá trình hoá học của các đất đá, quá trình khai thác bằng chất nổ, sự phân giải các chất hữu cơ nguồn gốc thực vật Trong các mỏ than, các khí sau đây có ảnh hưởng chủ yếu: CH4 CO2,CO Và N02 còn có thể có H2SVà SO2
Những nguy cơ lớn nhất của methane (CH4) là tạo với không khí một hỗn hợp có thể nổ được nếu đậm độ của nó là 5 -16% Nổ sẽ mạnh nhất nếu tỷ lệ là một khối lượng methane đối với 10 khối lượng không khí hay 2 khối lượng ôxy Khí CO2
thường thấy ở các lò bỏ dở từ lâu, từ đó nó vào các đường hầm đang hoạt động Sự hô hấp của thợ mỏ, sự đốt cháy của đèn, sự mục nát các gỗ chống lò, nổ mìn cũng là các nguồn sinh CO2 Khí CO2 không độc nhưng nguy hiểm (cũng như CH4) nó có thể thay thế oxy nếu đậm độ của CO2 tăng lên 10% và đậm độ oxy đồng thời giảm tương đương thì không thể tránh khỏi được ngạt Thời gian cần thiết để trở lại cấu tạo bình thường của không khí tuỳ thuộc vào hiệu lực của sự thông gió Trở ngại giới hạn bình thường sau cùng là CO, do đó khi tỷ lệ CÔ trở lại bình thường thì thợ mỏ có thể vào lò được vì khi đó các khí đã trở lại giới hạn bình thường Nói chung, các thợ mỏ có thể vào nơi làm việc có thông hơi trực tiếp, 25 phút sau khi nổ mìn, vào nơi làm việc “đáy túi”, 90 phút sau
Đậm độ quy định của các hơi trong không khí các mỏ là:
độ bụi không thay đổi Độ ẩm của đất đã cũng làm thay đổi số lượng bụi Tỷ lệ SiO2 ở bụi rất quan trọng, nhất là trong các đất đá, tro Bụi than còn nguy hiểm khác vì có thể
nổ nếu có nhiều ở trong không khí Nổ hay không tuỳ theo một đậm độ tốt nhất thuận lợi cho sự bốc cháy trong oxy và có một nguồn nhiệt, ngọn lửa không che đậy hay một tia lửa điện