Với mục tiêu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020,Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chương trình hành động để thu hẹp khoảng chên
Trang 1Đồng chủ biên: PGS.TS Nguyễn Kim Anh
TS Lê Thanh Tâm
NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI
MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA CÁC
TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
(Sách chuyên khảo)
Trang 2Báo cáo nghiên cứu này được hoàn thành bởi Trung tâm Tư vấn Nguốn lực Tài chính vi mô Doanh
nghiệp Nhỏ và Vừa (tiền thân là Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam-VMFWG) với sự hợp tác
của Nhóm tác giả nghiên cứu gồm PGS.TS Nguyễn Kim Anh, TS Lê Thanh Tâm, ThS Quách Tường
Vy, ThS Nguyễn Hồng Hạnh, CN Nguyễn Hải Đường và ThS Nguyễn Thị Tuyết Mai với nguồn hỗ trợ tài chính của Quỹ Citi – Ngân hàng Citi, tổ chức ADA, tổ chức Cordaid Sự đóng góp này là yếu tố quan trọng góp phần quyết định thành công của Báo cáo nghiên cứu Các ý kiến trong Nghiên cứu này mang tính chất độc lập và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nhóm Công tác
Tài chính vi mô Việt Nam (VMFWG) Bản báo cáo nghiên cứu này thuộc quyền sở hữu trí tuệ của Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (VMFWG) Việc sao chép một phần hoặc tái bản Báo
cáo nghiên cứu này chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý chính thức bằng văn bản của Nhóm
Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (VMFWG) trước khi thực hiện sao chép hoặc tái bản.
Quỹ Citi
Quỹ Citi hỗ trợ trao quyền kinh tế và tài chính cho người nghèo, người có thu nhập thấp trong cộng đồng, nơi mà Citi đang hoạt động Chúng tôi cộng tác với một số đối tác để thiết kế và thử nghiệm các sáng kiến dành cho người nghèo với đạt được quy mô, hỗ trợ hoạt động xây dựng kiến thức và năng lực
lãnh đạo Thông qua phương pháp tiếp cận “Hơn cả nhân đạo”, chúng tôi đặt sức mạnh của
các nguồn lực kinh doanh của Citi và mọi người cùng làm việc để tăng cường đầu tư nhân đạo
và cải thiện cộng đồng Để biết thêm thông tin xin truy cập trang web:
http://www.citigroup.com/citi/foundation/index.htm
Tổ chức quốc tế ADA
ADA là một tổ chức phi chính phủ đến từ Luxembourg hoạt động để thúc đẩy tài chính cho người nghèo trên toàn thế giới ADA tin rằng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho người nghèo có thể mang lại một sự cải thiện lâu dài cho điều kiện sống của dân cư nghèo Vì vậy, ADA hỗ trợ các chuyên gia về tài chính cho người nghèo nhằm giúp đỡ khoảng 2,5 triệu người trưởng thành không nằm trong hệ thống tài chính thông thường nhằm mục đích tự cung cấp và đáp ứng tương xứng cho các nhu cầu cuộc sống của chính mình Tổ chức đã và đang phát triển các dịch vụ và sản phẩm tài chính hiệu quả với mục tiêu chống lại đói nghèo suốt 20 năm qua Trong đó nghiên cứu và cải tiến là các thành tố chính ADA ưu tiên hỗ trợ và đào tạo các đơn vị tham gia lĩnh vực tài chính cho người nghèo ở các nước đang phát triển hơn là giúp đỡ Điều này có ý nghĩa tôn trọng quyền tự chủ của họ và mang đến những công cụ cần thiết mà họ cần để xây dựng tương lai của chính họ ADA nỗ lực tạo ra một ngành tài chính cho người nghèo hiệu quả, bền vững và mang tính xã hội cao Tất cả các sáng kiến của tổ chức đều nhằm thúc đẩy tính minh bạch và sự chặt chẽ trong lĩnh vực này ADA hỗ trợ việc thực hiện các công cụ/phương thức đo lường hiệu quả xã hội và tính minh bạch cũng như ngăn chặn việc quá nợ ADA phấn đấu trở thành một đối tác đáng tin cậy để hỗ trợ sự phát triển mang tính tự chủ của những người bị loại trừ khỏi các dịch vụ tài chính thông thường.
Tổ chức Cordaid
Tổ chức Cordaid (Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Công
giáo) là một trong những tổ chức phát triển lớn nhất ở Hà Lan và
có một mạng lưới của 634 tổ chức đối tác tại hơn 30 quốc gia ở châu Phi, châu Á, Trung Đông và Mỹ Latinh Cordaid đã bảo vệ những người dễ bị tổn thương trong gần 100 năm qua, tại bất cứ nơi nào sự nghèo đói, bất công,
và bạo lực đã tấn công nặng nề, kể cả ngay trong gia đình hay những nơi xa xôi Cordaid có một Quỹ đầu tư vào các tổ chức Tài chính vi mô, cung cấp các khoản vay, bảo lãnh, và vốn cổ phần cho người dân và các doanh nghiệp bị giới hạn các sự lựa chọn Cordaid cũng làm như vậy với những khu vực mà có rủi ro cao Cordaid hiện đang đầu tư vào kinh doanh hiệu quả hơn 16 năm qua với khối lượng vốn lên tới 70 triệu EUR và đã được đầu tư trên 100 tổ chức Tài chính vi mô tại
12 nước Thông tin chi tiết xin truy cập trang web www.cordaid.org
Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (VMFWG)
Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (VMFWG) được thành lập như một
diễn đàn dành cho các nhà thực hành tài chính vi mô để chia sẻ kinh nghiệm
và giải quyết các vấn đề khó khăn của ngành, góp phần đưa tiếng nói của ngành đến với các nhà làm chính sách Ra đời năm 2004 với tư cách là một tổ chức phi chính thức trực thuộc Trung tâm Nguồn các Tổ chức Phi chính phủ - VUFO Đến tháng 09 năm 2011, VMFWG đã chính thức trở thành Trung tâm trực thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và
Vừa Việt Nam (VINASME) Để biết thêm thông tin xin truy cập trang web: www.microfinance.vn
Trang 3NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM (VMFWG)
PGS.TS Nguyễn Kim Anh
TS Lê Thanh Tâm
Các thành viên tham gia:
ThS Quách Tường VyThS Nguyễn Hồng Hạnh
CN Nguyễn Hải ĐườngThS Nguyễn Thị Tuyết Mai
HÀ NỘI, 2013
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Sau hơn 25 năm mở cửa và hội nhập, kinh tế Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể, nền kinh tế luôn giữ được tăng trưởng phùhợp hàng năm, mức thu nhập của người dân ngày được cải thiện,
tỷ lệ số dân sống dưới chuẩn nghèo quốc gia giảm mạnh Tính đếncuối năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 9,64%; số lượt hộ thiếuđói giảm 27,6% so với năm 2011 Tuy vậy, tỷ lệ nghèo của Việt Namvẫn còn ở mức khá cao
Với mục tiêu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020,Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
có nhiều chương trình hành động để thu hẹp khoảng chênh lệchgiàu nghèo bằng những chính sách xóa đói giảm nghèo thông quaNgân hàng Chính sách xã hội, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đồngthời tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động của các tổ chức tài chính
vi mô đã được cấp phép chính thức, các chương trình, dự án cóhoạt động tài chính vi mô Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạtđược, hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam còn một số hạn chế,chưa phát huy hết được tiềm năng thực sự của mình Một trongnhững nguyên nhân đó là sự am hiểu của các nhà hoạt động tàichính vi mô, cũng như sự đồng thuận của xã hội đối với lĩnh vực tàichính vi mô chưa được chú trọng, điều này dẫn đến môi trường đốivới hoạt động tài chính vi mô còn hạn chế
Tại kỳ họp thứ 7 khóa XII ngày 16/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật các Tổ chức tín dụng
số 47/2010/QH12 Đây là lần đầu tiên loại hình Tổ chức tài chính vi môđược khẳng định là một loại hình tổ chức tín dụng trong hệ thốngcác tổ chức tín dụng của Việt Nam Có thể nói, việc các tổ chức tàichính vi mô được hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật các Tổchức tín dụng là một bước tiến dài đối với lĩnh vực tài chính vi mô,đây là nền tảng pháp lý vững chắc để củng cố và phát triển ổn địnhđối với các tổ chức tài chính vi mô, góp phần cùng với các loại hình
tổ chức tín dụng khác phát triển hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi
mô, với mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, qua
đó đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam
Trang 5Mặc dù vậy, để có sự am hiểu, nhận thức sâu rộng hơn của xã hội,qua đó có được sự đồng thuận cần thiết để tạo dựng môi trường tốt
nhất (về khuôn khổ pháp lý; mục tiêu hoạt động; mô hình hoạt động; tính tự vững, quản trị điều hành…) cho hoạt động tài chính vi mô, bản Báo cáo đánh giá “Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính
vi mô Việt nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” do PGS.TS Nguyễn
Kim Anh và TS Lê Thanh Tâm làm chủ biên đã được biên soạn và pháthành Bản Báo cáo đánh giá là một tư liệu hữu ích, có ý nghĩa thiếtthực giúp các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chínhsách, các nhà quản trị điều hành hoạt động tài chính vi mô và cácnhà nghiên cứu khoa học phần nào hiểu rõ hơn về thực trạng củaViệt Nam và kinh nghiệm của thế giới trong lĩnh vực tài chính vi mô.Đây thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học đối vớilĩnh vực tài chính vi mô của Việt Nam trong hiện tại và cho giai đoạnphát triển tới đây
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Đặng Thanh Bình
Trang 6Nghiên cứu này được hoàn thành do sự giúp đỡ của rất nhiều cơquan, tổ chức và cá nhân
Thay mặt Nhóm tác giả, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ Citi
(Citi Foundation) đã khuyến khích và tài trợ cho đề tài nghiên cứu
này Lời cám ơn cũng được đặc biệt gửi tới Nhóm Công tác Tài chính
Vi mô Việt Nam trong việc hỗ trợ khởi động ý tưởng cho nghiên cứu,cung cấp các dữ liệu thứ cấp, thu thập và làm sạch các dữ liệu sơcấp, cũng như các hỗ trợ về logistics
Nhóm tác giả bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức
gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các tổ chức tài chính
vi mô là thành viên của Nhóm Công tác Tài chính Vi mô Việt Namtrong việc cung cấp dữ liệu thứ cấp và trả lời các thông tin trong dữliệu sơ cấp
Lời cảm ơn chân thành cũng xin được gửi tới các nhà quản lý, nghiêncứu, tư vấn, làm thực tế tại hội thảo về tài chính vi mô và các phảnbiện đọc nghiên cứu này Các ý kiến hữu ích đã được đưa ra đểđóng góp cho nhóm tác giả nghiên cứu và hoàn thiện nội dung.Các ý kiến trong nghiên cứu này mang tính chất độc lập, là quanđiểm riêng của Nhóm tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểmcủa Nhóm Công tác Tài chính vi mô cũng như Citi Foundation
Thay mặt Nhóm tác giả
Đồng chủ biên PGS.TS Nguyễn Kim Anh - TS Lê Thanh TâmLỜI CẢM ƠN
Trang 7“Microfinance is an idea whose time has come
- Tài chính vi mô là ý tưởng của kỷ nguyên đương đại”
– Kofi Annan
Former United Nations Secretary – General
Cựu Tổng Thư ký Liên hiệp Quốc
This is not charity This is business: Business with a social objective,
which is to help people get out of poverty
Tài chính vi mô không phải là từ thiện Đây là kinh doanh:
Kinh doanh với một mục đích xã hội là giúp con người thoát nghèo
- Muhammad Yunus
Founder of Grameen Bank and Nobel Peace Prize recipient
Người sáng lập ra Ngân hàng Grameen và Chủ nhân giải thưởng Nobel Hòa bình
Trang 8CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 18
1.2 Mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp
CHƯƠNGII: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG
2.1.1 Lịch sử phát triển và các khái niệm liên quan tới TCVM 24
2.3.2 Nhân tố bên trong (nhân tố thuộc về TCTCVM) 49
2.4 Phát triển bền vững TCVM - Kinh nghiệm quốc tế
2.4.1 Kinh nghiệm tốt trong khu vực về tổ chức và
2.4.1.1 Kinh nghiệm bền vững của Card Bank (Philippin) 53
MỤC LỤC
Trang 92.4.1.2 Kinh nghiệm bền vững của Acleda Bank
2.4.2 Bài học thất bại của các tổ chức TCVM trong
2.4.2.1 Thương mại hóa quá mức, rời xa mục tiêu
2.4.2.2 Kết hợp khiên cưỡng giữa phát triển TCVM
với các trung gian tài chính chính thức 60 2.4.2.3 Tổ chức xã hội hoạt động chưa có chuyên môn
hóa và chuyên nghiệp hóa cao, phụ thuộc
CHƯƠNG III: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÀNH TÀI CHÍNH
3.2 Môi trường pháp lý cho hoạt động TCVM Việt Nam 65 3.3 Các tổ chức chính cung cấp TCVM tai Việt Nam 69 3.4 Mức độ tiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam 76
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA
Trang 104.6 Bền vững về thể chế (ISS) 128 4.7 Mức độ bền vững thể chế của các TCTCVM trên
4.7.2.1 Mức lãi suất cho vay hiện tại của các
TCTCVM Việt Nam so với thế giới 136 4.7.2.2 Liệu quyền lợi của khách hàng có được
đảm bảo với lãi suất của TCTCVM? 137 4.7.2.3 Chính sách lãi suất cho vay hiện tại của
4.7.2.4 Những điểm mạnh của chính sách lãi suất
cho vay hiện nay đối với các TCTCVM 143 4.7.2.5 Một số vướng mắc của chính sách lãi suất
cho vay hiện nay đối với các TCTCVM 143
Trang 114.8.1.7 Nhiều khách hàng hài lòng với TCTCVM 155
4.8.2.1 Vẫn còn một số tổ chức chưa đạt được OSS 156 4.8.2.2 Nhiều tổ chức chưa đạt FSS 156 4.8.2.3 Rất ít tổ chức đạt được ISS 157
c Việc quản lý nguồn thu - chi phí còn chưa tốt 158
d Chưa minh bạch hóa thông tin 159
Trang 12CHƯƠNG V: CÁC KHUYẾN NGHỊ 169 5.1 Định hướng phát triển bền vững các TCTCVM tại Việt Nam 169
5.2 Các khuyến nghị nhằm tăng cường mức độ bền vững
5.2.1.1 Tăng cường công tác quản trị và điều hành 172
a Đối với các tổ chức đã được cấp phép 172
b Đối với các tổ chức chưa cấp phép 172
5.2.1.2 Tăng tính bền vững thông qua giảm chi phí,
5.2.1.3 Tăng cường minh bạch hóa thông tin để tăng
uy tín và bảo vệ quyền lợi khách hàng 174 5.2.1.4 Đa dạng hóa dịch vụ, tăng cường chất lượng
dịch vụ, cân bằng giữa các dịch vụ tài chính
5.2.1.5 Nâng cao năng lực tài chính 175 5.2.1.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 176 5.2.1.7 Tăng cường sự liên kết giữa các tổ chức
Trang 135.2.2.2 Khẩn trương triển khai các hoạt động trong
khuôn khổ Chiến lược phát triển ngành
5.2.2.3 Tạo điều kiện “mở” cho các tổ chức
5.2.2.4 Tăng cường tính trách nhiệm trong TCVM 182 5.2.2.5 Nhanh chóng chuẩn hoá và đồng bộ cơ sở
pháp lý liên quan đến vấn đề lãi suất
5.2.2.6 Thực hiện các chính sách hỗ trợ khác 184
5.2.4 Đối với Trung tâm nguồn lực TCVM doanh nghiệp
Trang 14ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á
(Asian Development Bank)
AGRIBANK: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
FSS: Mức độ bền vững tài chính
(Financial Self- Sustainability)
HLPHN: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
HPN: Hội Phụ nữ
IFC: Công ty Tài chính Quốc tế
(International Finance Corporation)
ISS: Mức độ bền vững thể chế
(Institutional Self- Sustainability)
VMFWG: Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam
(Vietnam Microfinance Working Group)
NHCSXH: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam
OSS: Mức độ bền vững hoạt động
(Operational Self- Sustainability)
QTDNDTW: Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương
ROA: Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân
(Return on Average Asset)
ROE: Tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân
(Return on Average Equity)
TCTCVM: Tổ chức Tài chính vi mô
WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 15DANH MỤC BẢNG
Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM 25Những đặc điểm chủ yếu của một TCTCVM
Tiêu chuẩn đánh giá tính bền vững của
So sánh môi trường tổng thể TCVMViệt Nam
với 5 quốc gia thành viên khác của ADB 75Mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ của
khách hàng TCVM – so sánh 6 quốc gia là
Tổng quan về số lượng khách hàng và dư nợ
So sánh quy mô và mức độ tiếp cận của TCVM
tại 6 quốc gia thành viên ADB, giai đoạn 2000-2010 92Quy mô và mức độ tiếp cận theo chiều rộng
Trang 16Các chỉ số hoạt động tài chính chủ chốt của
các TCTCVM ở 6 quốc gia thành viên ADB,
Chất lượng danh mục các TCTCVM năm 2011 126Chất lượng danh mục các TCTCVM năm 2012 127Các loại hình hoạt động của TCTCVM 132Mức độ hài lòng của khách hàng về hoạt động
Danh mục các tỉnh đã hoặc có tiềm năng
thành lập Quỹ thuộc Hội Phụ nữ tỉnh 153
Số lượng doanh nhân vi mô, cán bộ tín dụng và TCđược vinh danh tại CMA Việt Nam, 2007-2013 155Kết quả thảo luận nhóm về các khó khăn
lớn nhất của TCTCVM tại địa phương 161
Trang 17DANH MỤC HỘP
Các đặc trưng của một TCTCVM bền vững 33
Các sản phẩm tín dụng vi mô của TYM và CEP 82Sản phẩm tiết kiệm của TYM và CEP 84
Trang 18DANH MỤC HÌNH
Vai trò của các TCTCVM đối với kinh tế - xã hội 26Quan điểm về sự bền vững của TCTCVM 28Phân đoạn thị trường TCVM Việt Nam hiện nay 64Các đơn vị cung cấp TCVM ở Việt Nam 69Các TCTCVM dẫn đầu trên thị trường Việt Nam
Trang 19Tỷ lệ khả năng sinh lời của các TCTCVM
So sánh tỷ lệ chi phí lương và các chi phí
liên quan của các TCTCVM với một số TCTD (%) 148Tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tổ chức tài chính vi mô là một dạng doanh nghiệp xã hội đặc biệtvới mục tiêu hoạt động là cung cấp dịch vụ tài chính nhằm đáp ứngnhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh
nghiệp siêu nhỏ (ADB, 2000; Luật TCTD, 2010) Tài chính vi mô (TCVM)
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội,đặc biệt là công cuộc giảm nghèo đói và phát triển xã hội tại các
quốc gia đang phát triển Các nghiên cứu lý thuyết (Legerwood, 1999; ADB, 2000; Morduch and Haley, 2002; Khandker, 2003), cũng như các trường hợp thực nghiệm nổi tiếng tại Bangladesh (Grameen Bank), Indonesia (Bank Rakyat Indonesia), Phillipines (CARD Bank), Bo- livia (BalcoSol)… là minh chứng thuyết phục cho vai trò của TCVM với
phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.Tài chính vi mô bền vững đặt nền móng cho sự phát triển kinh tế cũngnhư công cuộc xóa đói giảm nghèo mà các quốc gia đang pháttriển, trong đó có Việt Nam, cùng nhau thúc đẩy Mặc dù vẫn cònnhiều TCTCVM trên thế giới và tại Việt Nam phụ thuộc vào nguồn trợcấp và tài trợ từ bên ngoài Từ giữa thập kỷ 90, các mô hình GrameenBank, ACCION, Card Bank trên thế giới đã chứng tỏ rằng: hoạt độngTCVM có thể phát triển tốt, phục vụ người nghèo mà không cần trợcấp Bên cạnh đó, một số tổ chức phi chính phủ và các tổ chức từthiện khác nhận thấy tăng trưởng của họ bị hạn chế do khan hiếmtiền tài trợ, vì vậy họ bắt đầu tìm kiếm các cách để đạt được độclập về tài chính
Chính vì thế, vấn đề phát triển bền vững của TCTCVM là một trongnhững chủ đề nóng được các nhà thực hành TCVM, các nhà quản
lý cũng như các nhà tài trợ quan tâm (Duflos, 2013) Các TCTCVM
phát triển bền vững trở thành một mục tiêu quan trọng trong pháttriển ngành TCVM toàn cầu, bắt đầu từ những năm 2000 với sự trợgiúp của CGAP và đặc biệt được chú ý khi Liên Hợp Quốc chọn năm
2005 là Năm Quốc tế về Tín dụng vi mô
Trang 21Phát triển hoạt động TCVM bền vững của TCTCVM có những tácđộng tích cực như sau:
(i) Tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo vàngười thu nhập thấp
(ii) Khách hàng được tiếp cận liên tục với các dịch vụ tài chính
(tín dụng, tiết kiệm, chuyển tiền…) mà họ cần Điều này hết
sức quan trọng vì người nghèo, cũng như tất cả mọi người,cần được tiếp cận một cách ổn định các dịch vụ tài chính (iii) Hoạt động bền vững giúp TCTCVM thực hiện vai trò hỗ trợphát triển kinh tế - xã hội tốt hơn TCTCVM sẽ được bù đắp
tất cả các chi phí (vận hành, tài chính, mất vốn) và có lãi,
thay vì phải phụ thuộc vào tiền từ thiện hoặc trợ cấp củanhà nước Điều này rất quan trọng vì không bao giờ đủ tiềntài trợ để phục vụ tất cả những người chưa tiếp cận đượcvới dịch vụ tài chính và vì tiền tài trợ co thể được dùng cho
các mục đích khác (ví dụ, giúp những người rất nghèo thông qua các dịch vụ xã hội và trợ cấp).
Tại Việt Nam, ngành TCVM qua gần 3 thập kỷ đã và đang khẳng địnhđược tầm quan trọng trong việc hỗ trợ những người có thu nhậpthấp, người nghèo được tiếp cận với dịch vụ tài chính – ngânhàng,đặc biệt là giúp họ có được nguồn vốn vay để phát triển sản xuất,kinh doanh, góp phần cải thiện đời sống
Phát triển TCVM bền vững là mục tiêu quan trọng của ngành TCVMViệt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển Với khung pháp lýngày càng hoàn thiện, các quy định liên quan tới TCVM chính thức
là “tiêu chuẩn” để các TCTCVM hướng tới mục tiêu bền vững thể
chế Có nhiều mức độ bền vững khác nhau trong TCVM như: bền
vững hoạt động (OSS), bền vững tài chính (FSS), bền vững thể chế (ISS), trong đó, mức độ bền vững thể chế là cao nhất, thể hiện sự
hoàn thiện của TCTCVM đó và là cơ sở để TCTCVM xây dựng, củng
cố uy tín của mình Trong đề án xây dựng và phát triển hệ thống
Trang 22TCVM Việt Nam đến 2020, mục tiêu của đề án cũng rất tập trung cho
sự phát triển bền vững, cụ thể “Xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức tài chính vi mô an toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước
về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững”1
Từ khi khung pháp lý bắt đầu hình thành đến nay, các TCTCVM có
xu hướng phát triển theo ba định hướng (i) một số tổ chức địnhhướng chính thức hóa đã và đang có lộ trình để đạt các mức độbền vững từ thấp đến cao, và đến 2013 đã có 2 tổ chức được NHNNcấp phép, 3 tổ chức đang nộp hồ sơ đề nghị cấp phép; (ii) một số
tổ chức vẫn muốn phát triển hoạt động TCVM nhưng không đề nghịcấp phép, nên chỉ đặt mục tiêu bền vững hoạt động và bền vữngtài chính; (iii) và một số chương trình/dự án/tổ chức giảm hoạt độnghoặc ngừng hoạt động vì không đạt được mục tiêu bền vững hoạtđộng khi nguồn tài trợ bị cạn kiệt Do vậy, hiện tại, mức độ bền vữngcủa các TCTCVM Việt Nam rất khác nhau và nhiều TCTCVM Việt Namchưa đạt được mức độ bền vững cần thiết Các vấn đề cần giảiquyết từ cả phía các TCTCVM và các nhà lập pháp, đặc biệt làNgân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính vì ngành TCVM phát triển bềnvững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Trong bối cảnh trên, đề tài “Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” được lựa
chọn để nghiên cứu
1.2 Mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này có 5 mục tiêu cơ bản sau:
(i) Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về sự bền vững củaTCTCVM, tập trung vào ba mức độ: bền vững hoạt động
1 Quyết định 2195/QĐ-TTg ngày 6/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến 2020.
Trang 23(OSS), bền vững tài chính (FSS), và bền vững thể chế (ISS).
Các chuẩn mực OSS, FSS và ISS được tổng kết theo thông lệquốc tế và theo quy định của Việt Nam
(ii) Tổng kết các kinh nghiệm thành công và thất bại trong việc
phát triển bền vững TCVM trên thế giới và bài học cho ViệtNam
(iii) Đánh giá tổng quan về ngành TCVMViệt Nam.
(iv) Phân tích thực trạng mức độ bền vững của các TCTCVM tại
Việt Nam trên 3 mức độ: OSS, FSS, ISS, đồng thời so sánh vớicác TCTCVM ở một số quốc gia trong khu vực; Đánh giánhững kết quả đạt được; Hạn chế và nguyên nhân của hạnchế trong quá trình phát triển bền vững của các TCTCVMViệt Nam
(v) Đề xuất một số khuyến nghị đối với các TCTCVM, NHNN, Bộ
Tài chính và các bên có liên quan để giúp phát triển bềnvững các TCTCVM Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Là mức độ bền vững của các
TCTCVM hướng tới phục vụ người nghèo, người thu nhậpthấp và các đối tượng khách hàng TCVM khác
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào mức
độ bền vững của các TCTCVM Việt Nam trong giai đoạn
2009-2012
Có nhiều quan niệm khác nhau về TCTCVM Các đơn vị cung cấpdịch vụ TCVM thuộc ba nhóm: Nhóm chính thức, Nhóm bán chínhthức và Nhóm phi chính thức Có ba quan điểm khác nhau vềTCTCVM: Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCTCVM bao gồm tất cả các
TC cung cấp dịch vụ TCVM, kể cả ngân hàng, TCTD là Hợp tác xã(OPDND), TCTC quy mô nhỏ bán chính thức và chính thức; Quan điểmthứ hai chỉ tập trung vào các TCTC quy mô nhỏ, kể cả chính thức và
bán chính thức; Quan điểm thứ ba cho rằng TCTCVM “là loại hình tổ
Trang 24chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (theo Luật TCTCD, 2010, điều 4 khoản 5).
Trong nghiên cứu này, quan điểm thứ hai được sử dụng để phân tích,
vì quan điểm này phù hợp với thông lệ quốc tế
Tuy số lượng các chương trình/TCTCVM Việt Nam hiện nay khá nhiều,nhưng chỉ có 34 tổ chức đăng ký là thành viên của Nhóm Công tác
tài chính vi môViệt Nam (VMFWG) và 12 tổ chức thường xuyên cung
cấp thông tin cho mạng lưới tài chính vi mô toàn cầu (The MIX) Trong
số đó, 6 TCTCVM đứng đầu chiếm hơn 50% tổng số khách hàng củacác TCTCVM là thành viên của Nhóm Công tác Tài chính vi mô ViệtNam Do vậy, nghiên cứu tập trung vào các TCTCVM có thông tincung cấp cho VMFWG
Dữ liệu nghiên cứu: Gồm hai nhóm dữ liệu Thứ cấp và Sơ cấp.
Dữ liệu thứ cấp là các báo cáo về ngành tài chính nói chung, ngànhTCVM nói riêng của: các TCTCVM, thông tin lưu trữ tại VMFWG, cácbáo cáo đánh giá có liên quan của Ngân hàng Phát triển Châu Á
(ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), các tổ chức quốc tế, điều tra mức
sống dân cư Việt Nam 2002-2008, các tổ chức cung cấp dịch vụ
TCVM, từ các Giải thưởngDoanh nhân vi mô Citi (CMA) giai đoạn
2007-2012 do Citi Foundation tài trợ; một số cuộc điều tra về nông
nghiệp, nông thôn có liên quan tới tài chính, tín dụng (Bộ Lao động TBXH, Hội LHPN…); các nghiên cứu về TCVM Việt Nam của các nhà
nghiên cứu, các nhà thực hành TCVM trong và ngoài nước
Dữ liệu sơ cấp thu thập từ các cuộc thảo luận nhóm tại Thanh Hóa
và Nghệ An với các cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ (HPN) các cấp tỉnh,huyện có tham gia hoạt động TCVM tại địa phương, cán bộ tại một
số TCTCVM, một số khách hàng và báo cáo của thành viên VMFWG
Phương pháp phân tích:
- Phân tích tổng hợp, kết hợp phân tích định lượng và định tính đểgiải thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân từ thực tiễn
Trang 25- Thống kê so sánh sử dụng số liệu theo chuỗi thời gian và tại mộtthời điểm để so sánh dọc, so sánh chéo giữa các TCTCVM Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực, và với tiêu chuẩnquốc tế Các hàm thống kê như tần suất, tỷ trọng, trung bình, tỷ lệtăng trưởng được ứng dụng để phân tích, so sánh.
- Điều tra khảo sát
- Phương pháp chuyên gia
1.3 Cơ cấu nghiên cứu
Ngoài Lời cảm ơn của Nhóm tác giả, phần kết luận, phụ lục, bảngbiểu, các hình vẽ minh hoạ và danh mục các tài liệu tham khảo, nộidung nghiên cứu được trình bày trong 5 chương:
Chương I: Giới thiệu
Chương II: Khung lý thuyết về mức độ bền vững của TCTCVM
Chương III: Tổng quan chung về ngành TCVMViệt Nam
Chương IV: Phân tích mức độ bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam
Chương V: Các khuyến nghị
Trang 26CHƯƠNG II: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
2.1 Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô
2.1.1 Lịch sử phát triển và các khái niệm liên quan tới tài chính vi mô
Trong những thập kỉ gần đây, việc cung cấp các dịch vụ tài chính vàcác dịch vụ hỗ trợ cho người nghèo nhằm tạo dựng cơ sở thu nhập,cải thiện điều kiện sống được các quốc gia và các tổ chức quốc tếquan tâm phát triển Thậm chí đã có đầy đủ những bằng chứngthành công về các mô hình cung cấp dịch vụ tài chính cho ngườinghèo và được biết đến với cụm từ “tài chính vi mô”, tương lai cho
sự phát triển ngành này là rất rõ nét khi mà nó thu hút được đôngđảo sự quan tâm của các Chính phủ, tổ chức đa phương, các nhàtài trợ và các doanh nghiệp
Khái niệm về TCVM được rất nhiều nhà kinh tế và các tổ chức đưa
ra Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP), thì
“TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhucầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lươnghưu, chuyển tiền, bảo hiểm ” Theo J.Ledgerwood, “TCVM là mộtphương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chínhnhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp…tài chính vi môthương bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xãhội” Còn theo quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
“TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay,dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộgia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và cácdoanh nghiệp nhỏ của họ”
Tổng hợp những khái niệm trên ta có thể hiểu TCVM là một trongnhững cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tàichính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xãhội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư TCVM vừa là công cụngân hàng vừa là công cụ phát triển
2.1.2 Tổ chức tài chính vi mô
Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM thuộc ba nhóm: Nhóm chínhthức, Nhóm bán chính thức và Nhóm phi chính thức Có ba quan
Trang 27điểm khác nhau về TCTCVM: Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCTCVMbao gồm tất cả các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM, kể cả ngânhàng, hợp tác xã tài chính, TCTC quy mô nhỏ bán chính thức và chínhthức; Quan điểm thứ hai chỉ tập trung vào các TCTC quy mô nhỏ, kể
cả chính thức và bán chính thức; Quan điểm thứ ba cho rằng
TCTCVM “là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (theo Luật TCTCD,
2010, điều 4 khoản 5) Trong đề tài này, quan điểm thứ hai được sử
dụng để phân tích
Danh sách các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM theo nhóm được liệt
kê trong bảng sau đây:
Bảng 2.1: Các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính vi mô
Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức Khu vực phi chính thức
- Các ngân hàng
thương mại, đầu tư,
tiết kiệm, phát triển
- Các hiệp hội tín dụng
- Các ngân hàng nhân dân không đăng ký chính thức là TCTD
- Các ngân hàng hợp tác xã
- Các quỹ tiết kiệm tạo việc làm
- Các ngân hàng làng
xã không đăng ký chính thức là TCTD
- Các dự án phát triển, các tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ tài chính
- Các công ty tài chính, đầu tư phi chính thức
- Những người cho vay
cá nhân thương mại:
(ví dụ: người cho vay nặng lãi); và phi
thương mại (họ hàng,
bạn bè, hàng xóm…)
- Các thương gia và chủ hiệu
Nguồn: Legerwood (2013)
Trang 28Các đơn vị thuộc khu vực chính thức được Chính phủ ủy quyền vàphải tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng.Các đơn vị bán chính thức tuy không phải tuân theo các quy địnhcủa hoạt động ngân hàng nhưng lại do các cơ quan chính phủ cấpgiấy phép hoạt động và chịu sự giám sát của các cơ quan này, còncác trung gian tài chính phi chính thức hoạt động ngoài quy định vàkiểm soát của chính phủ Tuy vậy, số lượng ngân hàng thương mạitham gia vào thị trường TCVM thường không nhiều do yêu cầu vềquy mô và chi phí Tại một số quốc gia đang phát triển, một số ngânhàng thương mại liên kết với các TCTCVM khác cung cấp một số dịch
vụ cho khu vực nông thôn hoặc cung cấp dịch vụ cho chính TCTCVMnhư đảm nhận một phần trong nghiệp vụ tín dụng, chuyển tiền, gửitiền, tư vấn và quản lý hộ Các ngân hàng này được gọi là ngânhàng liên kết
2.1.3 Vai trò của TCTCVM
Các TCTCVM là thành tố và giữ vai trò quan trọng trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội khu vực nông thôn.Về bản chất, các TCTCVM có
vai trò “đôi” cả về tài chính và xã hội.
Hình 2.1: Vai trò của các TCTCVM đối với kinh tế - xã hội
Nguồn: IFAD (2000a)
Cải thiện giá trị và chất lượng cuộc sống một cách bền vững
Cơ sở
hạ tầng
tài chính
Các dịch vụ tài chính bền vững
Trang 29Về khía cạnh tài chính, thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ
tài chính, các TCTCVM thực hiện các chức năng quan trọng là (i) huyđộng tiết kiệm; (ii) tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư, và (iii) tạo điềukiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ, trở thànhmột công cụ đắc lực để giảm nghèo đói và tăng thu nhập
Về khía cạnh xã hội, các TCTCVM tạo ra cơ hội cho người dân ở nông
thôn – nhất là người nghèo- tiếp cận được với dịch vụ tài chính, tăngcường sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng nói chung,tăng cường năng lực xã hội của họ
2.2 Bền vững của tổ chức TCVM: Thông lệ quốc tế và quy định
ở Việt Nam
2.2.1 Quan điểm và sự cần thiết về tính bền vững
Có nhiều quan điểm khác nhau về tính bền vững của TCTCVM Tính
“bền vững” là “tồn tại lâu dài” (theo từ điển tiếng Việt) Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng nhu cầu của thế hệ mai sau
(UN, 1992) Sự bền vững của tổ chức là sự phát triển và cân bằng
của 4 nhóm yếu tố: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo và
nhân viên, và tài chính của tổ chức (Pau Niven, 2009).
Theo Richard Beckhard2, phát triển bền vững một tổ chức nghĩa là
“một nỗ lực để (1) lập kế hoạch, (2) mở rộng tổ chức, (3) quản lý từ cấp cao nhằm mục đích (4) tăng cường hiệu lực và sức mạnh của
tổ chức thông qua (5) các công cụ can thiệp có tổ chức vào quá trình hoạt động của tổ chức, sử dụng kiến thức khoa học về hành vi” [Smith, 1998, tr.261] Theo Warren Bennis, phát triển bền vững một
tổ chức là một chiến lược phức tạp nhằm thay đổi quan điểm, niềm
2 Richard Beckhard là người đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển tổ chức Ông
là người đã cùng sáng tạo ra Addison-Wesley Organization Development Series
và khai sinh ra Organization Development Network năm 1967 Ông từng là giáo
sư của trường Quản lý MIT Sloan thời kỳ 1963-1984 Nguồn: www.wikipedia.org cập nhật ngày 19/4/2007.
Trang 30tin, giá trị, cấu trúc của tổ chức một cách lâu dài nhằm thích ứng vớicông nghệ mới, thị trường mới và những thách thức3
Theo CGAP, bền vững trong ngành TCVM có nghĩa là “năng lực của một TCTCVM bù đắp được mọi chi phí và có lãi trong khi cung cấp được các dịch vụ tài chính cho cộng đồng dân nghèo”4
Trên các quan điểm trên, TCTCVM được coi như phát triển bền vững nếu duy trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục vụ lợi ích của khách hàng; và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường
Hình 2.2: Quan điểm về sự bền vững của tổ chức tài chính vi mô
3 Warren Gameliel Bennis là một nhà nghiên cứu người Mỹ, chuyên gia về tổ chức và được giới nghiên cứu tôn vinh là người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về quản trị Ông là giáo sư đại học, giáo sư danh dự và là chủ tịch sáng lập ra Viện Lãnh đạo, Đại học Nam California Nguồn: www.wikipedia.org cập nhật ngày 19/4/2007.
4 Eric Duflos, 2013), “CGAP – Các thực tiễn tốt trên toàn cầu về chuyển đổi và tự vững”, Bài trình bày tại hội thảo “Sustainable Interest Rate Setting and Risk Management in Microfinance Institutions”, Hội thảo của IFC-TYM-VMFWG ngày 16/5/2013.
TCTCVM (An toàn - thu nhập)
Nguồn: Tổng hợp từ UN (1992), Richard (1967), Paul Niven (2009), Duflos (2013)
Trang 31Mức độ an toàn và thu nhập của TCTCVM cần được đảm bảo đểgiúp TCTCVM hoạt động lâu dài, giảm thiểu rủi ro, có hiệu quả kinh
tế phù hợp Đây là điều kiện tối cần thiết cho hoạt động bền vữngcủa TCTCVM
Tuy vậy, để phân biệt chức năng xã hội và chức năng tài chính củaTCTCVM so với các loại hình thương mại khác, hai vấn đề lớn TCTCVMcần phải cân bằng được là: (i) đảm bảo lợi ích của khách hàng trên
cả giác độ tài chính (thu nhập và chi phí phù hợp đối với khách hàng;khách hàng được hưởng lợi từ các hỗ trợ phi tài chính, đặc biệt làcác dịch vụ nâng cao năng lực và phát triển kỹ năng, nâng cao chấtlượng đời sống tinh thần); (ii) đảm bảo lợi ích của cộng đồng, xã hội,
môi trường (các hoạt động của TCTCVMcó tác động tốt tới sự phát triển chung của cộng đồng, tạo ra các hiệu ứng tốt về xã hội, cũng như không gây ra các ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên)
Bảng 2.2: Những đặc điểm chủ yếu của một TCTCVM vững mạnh
Tầm nhìn - Mộtthông cáo Sứ mệnh xác định thị trường mục tiêu và
các dịch vụ được cung cấpvà được các nhà quảnlý và nhân viên trong tổ chức xác nhận và thực hiện.
- Một Cam kết mạnh mẽ của nhà quản lý trong việc theo đuổi TCVM như là một phân khúc thị trường có khả năng sinh lợi tiềm năng(về cả nhân lực và quỹ).
- Một Kế hoạch kinh doanhvới các biện pháp cụ thểđể đạt được các mục tiêu chiến lược trong 3-5 năm.
tả trong thông cáoSứ mệnh.
- Phân cấp trong lựa chọn khách hàng và cung cấp dịch
vụ tài chính.
Cơ cấu tổ chức
và nguồn nhân
lực
- Các bản mô tả công việc chính xác, đào tạo phù hợp,
và đánh giá hiệu suất thường xuyên.
- Một kế hoạch kinh doanh làm rõ các ưu tiên trong đào tạo và ngân sách bố trí đủ kinh phí cho đào tạo nội bộ hay đào tạo do bên ngoài cung cấp (hoặc cả hai).
Trang 32Nguồn: Fruman and Isern (1996)
Tính bền vững được đo bằng các tỷ lệ tự bền vững và các hệ số sinh
lời Có ba mức độ bền vững là: Tự bền vững về hoạt động OSS erational Self-sustainablity), Tự bền vững về tài chính FSS (Financial Self-sustainablity), và Tự bền vững về thể chế (ISS) (Institutional Self- sustainablity).
và nội dung này được đội ngũ nhân viên hiểu rất rõ.
- Hệ thống kế toáncập nhật thông tin chính xác kịp thời, thông tin minh bạch là đầu vào cho hệ thống thông tin- quảnlý.
- Kiểm toán nội bộ và bên ngoài được thực hiện đều đặn
- Dự kiến ngân sách vàtài chính dự được thực hiện thường xuyên và mang tính chất thực tế
- Đạt được thành tựu đáng kể về quy mô, bao gồm một
số lượng lớn khách hàng chưa được tiếp cận với TCVM (ví dụ, người nghèo và phụ nữ).
- Mức chi phí điều hành và tài chính được bù đắp bởi thu nhập hướng tới sự bền vững đầy đủ (như thể hiện trong các báo cáo tài chính và dự báo tài chính)
Trang 33Các nguyên tắc cốt lõi của TCVM bền vững là:
(1) Dịchvụ TCVM phải phù hợp với nhu cầu và sở thích của khách hàng; (2) Các hộ gia đình và các cộng đồng nghèo cần tiếp cận đến mộtloạt các dịch vụ tài chính, không chỉ các khoản vay;
(3) TCVM là một công cụ mạnh mẽ chống lại đói nghèo;
(4) TCVM có nghĩa là xây dựng hệ thống tài chính phục vụ người nghèo; (5) Tính bền vững tài chính là cần thiết để đạt được số lượng đáng
kể của người nghèo;
(6) Trần lãi suất có thể làm hỏng tiếp cận của người nghèo với cácdịch vụ tài chính;
(7) Tín dụng không phải lúc nào cũng thích hợp;
(8) Vai trò của chính phủ như một người tạo khả năng, không phải
là một nhà cung cấp trực tiếp các dịch vụ tài chính;
(9) Các khoản trợ cấp của nhà tài trợ nên bổ sung, không cạnhtranh với vốn khu vực tư nhân;
(10) Việc thiếu năng lực thể chế và con người là trở ngại chính choviệc mở rộng TCVM;
(11) Tầm quan trọng của tiếp cận và minh bạch tài chính (Nguồn:World education Australia)
Tính bền vững của TCTCVM cần thiết đối với cả tổ chức, khách hàng
và xã hội
Đối với tổ chức: TCTCVM sẽ được bù đắp tất cả các chi phí (vận
hành, tài chính, mất vốn) và có lãi, thay vì phải phụ thuộc vào tiền từ
thiện hoặc trợ cấp của nhà nước Điều này rất quan trọng vì khôngbao giờ đủ tiền tài trợ để phục vụ tất cả những người có nhu cầutiếp cận được với dịch vụ tài chính và vì tiền tài trợ có thể được dùng
cho các mục đích khác (ví dụ, giúp những người rất nghèo thông
Trang 34qua các dịch vụ xã hội và trợ cấp) Nếu TCTCVM không tự bền vững vốn tự có của TCTCVM sẽ bị giảm dần để bù vào phần thua lỗ (trừ khi có các khoản cho, tặng thêm để bù đắp cho các khoản này).
Như vậy, sẽ có ít vốn hơn để cho người nghèo được vay và TCTCVM
có thể gặp khó khăn trong phát triển dài hạn Sự bền vững củaTCTCVM là đảm bảo khả năng huy động vốn của tổ chức, đặc biệt
là vấn đề huy động tiền gửi nhằm có nguồn vốn bền vững hơn, ít phụthuộc vào nguồn tài trợ; và (2) TCTCVM thực hiện quản lý, kiểm soát
và phát triển sở hữu có hiệu quả hơn
Đối với khách hàng
Sự bền vững của TCTCVM đảm bảo tính liên tục của các dịch vụ
TCVM (tín dụng, tiết kiệm, chuyển tiền…) được cung cấp, từ đó giúp
hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sự phát triển củakhách hàng tốt hơn Điều này hết sức quan trọng vì người nghèo,cũng như tất cả mọi người, cần được tiếp cận một cách ổn địnhcác dịch vụ tài chính Sự liên tục của các dịch vụ TCVM giúp kháchhàng tiếp cận được vốn vay liên tục để thực hiện các hoạt động sảnxuất kinh doanh; khách hàng tiết kiệm liên tục và ổn định; kháchhàng được học hỏi các kinh nghiệm quản lý tài chính cá nhân hỗ trợcuộc sống tốt hơn Từ đó, sự tin tưởng và gắn kết của khách hàngđối với tổ chức tăng lên, khách hàng thu được nhiều lợi ích hơn từcác dịch vụ bổ sung như nâng cao năng lực, hòa nhập xã hội Kháchhàng được tiếp cận liên tục với các dịch vụ tài chính mà họ cần
Đối với xã hội
Tính bền vững của TCTCVM giúp đảm bảo TCTCVM thực hiện lâu dài
và bền vững các trách nhiệm của tổ chức đối với xã hội và môitrường trên các giác độ: Góp phần gìn giữ môi trường xã hội lànhmạnh; Có ý thức về những tác động trong hoạt động của mình đếnmôi trường tự nhiên, môi trường văn hóa; và với sự hỗ trợ và bảo vệcủa các nhà tài trợ - các nhà đầu tư, những người muốn tạo sự khácbiệt bằng cách đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đếncác thế hệ tương lai
Trang 35Hộp 2.1: Các đặc trưng của một TCTCVM bền vững
Các TCTCVM thành công và tự vững có những đặc trưng sau:
- Biết rõ thị trường của mình, tiếp cận rộng và sâu tới kháchhàng
- Áp dụng chính sách lãi suất thị trường để đảm bảo tự vững vềhoạt động và tài chính, với giả thiết người nghèo sẵn sàng trảgiá vì mục tiêu tiếp cận và thuận tiện
- Sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để giảm thiểu chi phí hànhchính như: thủ tục đơn giản, phi tập trung hóa việc thẩm địnhkhách hàng
- Sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để đảm bảo khả năng trả nợcao như: cho vay theo nhóm đồng trách nhiệm, giám sátngười vay vốn, động lực trả nợ cao đối với khách hàng, chovay tăng dần theo chu kỳ, tiết kiệm bắt buộc
- Cung ứng thêm các hoạt động hỗ trợ khách hàng như đàotạo, hỗ trợ kỹ thuật…
2.2.2 Các tiêu chí theo Thông lệ Quốc tế về tính bền vững của TCTCVM
Các chỉ tiêu đo lường sự bền vững của TCTCVM tương đối đa dạng,tập trung vào bachỉ tiêu sau:
Thứ nhất, Tự bền vững về hoạt động (OSS)
Tỷ số tự bền vững về hoạt động (OSS) thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập hoạt động và tổng chi phí hoạt động (bao gồm cả khấu hao
và dự phòng rủi ro) Các nhà tài trợ và nhà quản lý TCTCVM sử dụng
chuẩn tiêu biểu này để đánh giá xem TCTCVM đã tự trang trải đượccác chi phí hoạt động bằng thu nhập từ hoạt động hay chưa
Trang 36TCTCVM được coi là đảm bảo bền vững về hoạt động nếuOSS>100%, tuy nhiên thông lệ quốc tế cho thấy, để đạt độ bền vữnghoạt động lâu dài thì OSS nên lớn hơn 120%.
Thứ hai, Tự bền vững về tài chính (FSS)
Tỷ số tự bền vững về tài chính (FSS) cũng đo lường xem mức độ thu
nhập trang trải các chi phí hoạt động của một TCTCVM có điều chỉnhtheo lạm phát và loại bỏ tác động của trợ cấp Các điều chỉnh nàynhằm làm rõ tình hình tài chính của một TCTCVM sẽ như thế nào nếukhông có các khoản trợ cấp, khi vốn được huy động trên thị trườngthương mại, thay vì từ nguồn viện trợ hoặc tài trợ ưu đãi của các nhàtài trợ, và khi tính tới chi phí từ lạm phát FSS được tính bằng côngthức sau:
OSS = -(1)
Thu nhập hoạt động
Tổng chi phí hoạt động
Trang 38tư vào các danh mục mạo hiểm có rủi ro cao ROA (và ROE – tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu bình quân) thường được sử dụng chung để
đánh giá khả năng sinh lời chung của tổ chức tài chính, trong đó cócác TCTCVM Tuy vậy, hai chỉ số này rất tốt đối với các tổ chức khôngnhận trợ cấp, trong khi một số TCTCVM nhận được những khoản trợ
cấp đáng kể Vì thế, để xác định liệu TCTCVM có thể “tồn tại” được
không nếu không còn trợ cấp, việc điều chỉnh chi phí và thu nhập
để phản ánh tác động của các khoản trợ cấp Tùy theo dữ liệu, cácTCTCVM có thể sử dụng FSS hoặc ROA để phân tích mức độ bềnvững Theo thông lệ quốc tế, ROA > 2% là TCTCVM đã đạt được mức
độ hiệu quả tốt
Thứ tư, Bền vững về thể chế ISS (Institutional Self-Sustainability)
Về chỉ số, ISS theo tiêu chuẩn khuyến cáo của tổ chức Planetfinancegồm 4 tiêu chí cơ bản sau:
(i) Cấu trúc quản trị và tư cách pháp lý của tổ chức (có pháp nhân và có sự tách bạch giữa Chủ sở hữu, Ban Quản trị và Ban Điều hành).
Trang 39(ii) Tổ chức có kế hoạch chiến lược (Tầm nhìn, sứ mệnh và các mục tiêu phát triển).
(iii) Tổ chức có báo cáo tài chính đúng theo chuẩn mực vàđược kiểm toán độc lập hàng năm
(iv) Tổ chức có hệ thống quản lý thông tin (MIS) chuyên nghiệp
và minh bạch
Ngoài ra, còn một số chỉ tiêu đo lường tính bền vững như chỉ số phụ
thuộc vào bao cấp (SDI – Subsidy Independence Index), thu nhập ṛng trên vốn chủ sở hữu b́nh quân (ROE)
Thứ năm, Mối quan hệ giữa tính bền vững và mức độ tiếp cận
Hai vấn đề, mức độ tiếp cận và tính bền vững, có quan hệ chặt chẽvới nhau Tính bền vững là cơ sở để TCTCVM mở rộng tiếp cận và khi
mở rộng tiếp cận thì TCTCVM có thể đảm bảo được khả năng bềnvững về tài chính do mở rộng được cơ sở khách hàng, giảm thiểuchi phí hành chính bình quân trên một khách hàng Nếu TCTCVM bềnvững nhưng không đạt được mức độ tiếp cận tốt, xa rời khách hàngmục tiêu ban đầu hoặc có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao, tổ chức đó
sẽ không tồn tại được
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá tính bền vững của các TCTCVM
và ban điều hành)
Trang 40Quan điểm toàn diện về sự bền vững thể chế là phải đảm bảo được
cả tiếp cận và bền vững, với các quy chuẩn trên Tuy vậy, một môhình TCTCVM đạt được cả hai mục tiêu trên là một điều lý tưởng trongthực tế Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự đánhđổi của TCTCVM khi theo đuổi cả hai mục tiêu tăng cường tiếp cậntới người nghèo và tự bền vững về tài chính Nếu theo đuổi mục tiêutiếp cận quá rộng, tổng chi phí hoạt động tăng lên, TCTCVM sẽ khôngđạt được mức bền vững cần có Ngược lại, để đạt độ bền vững tốt,TCTCVM phải thực hiện chọn lọc đối tượng khách hàng, vì vậy mức
- Tổ chức có kế hoạch chiến lược (Tầm nhìn, Sứ mệnh và các Mục tiêu phát triển)
- Tổ chức có báo cáo tài chính đúng theo chuẩn mực
và được kiểm toán độc lập hàng năm.Tổ chức có hệ thống quản lý thông tin (MIS) chuyên nghiệp và minh bạch
Mức độ
tiếp cận
Số lượng dịch vụ và sản phẩm
cung ứng
Không có tiêu chuẩn
Số lượng và mức tăng trưởng
của khách hàng
Số lượng và mức tăng trưởng
của dư nợ tín dụng
Số lượng và mức tăng trưởng
của số dư tiết kiệm
Mức vay trung bình/GDP (GNI)
đầu người
- 150%: Thị phần thu nhập cao
- 20-150%: Thị phần bậc trung
- <20%: Thị phần khách hàng nghèo
Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ Tối đa 5%
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ Tối đa 3%