Coi trọng chất lượng và hoạt động kinh doanh: Người tiêu dùng và người sử dụng Nhật Bản thường đòi hỏi cao về chất lượng và tiêu chuẩn.Những nhà sản xuất nước ngoài thường phàn nàn là ng
Trang 1- Đối thủ cạnh tranh
- Kênh phân phối
- Mức giá
- Giới hạn thời gian
- Những diễn biến đối với người sử dụng và người tiêu dùng
Coi trọng chất lượng và hoạt động kinh doanh: Người tiêu dùng và người sử dụng Nhật Bản thường đòi hỏi cao về chất lượng và tiêu chuẩn.Những nhà sản xuất nước ngoài thường phàn nàn là người Nhật thường đòi hổi quá cao
1.5.2Xu hướng nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Nhật Bản trong thời gian gần đây
Trong một số năm gần đây, xu hướng nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Nhật Bản thể hiện như sau:
*Mặt hàng thảm
Số lượng mặt hàng thảm nhập khẩu đạt đỉnh điểm vào năm 1995 trong đó giảm sút
cả về số lượng và giá trị Tuy nhiên, năm 2000 lượng nhập khẩu bất ngờ tăng mạnh trở lại Năm 2001 lượng hàng nhẩp khẩu tăng tới 65.464 tấn ( tăng 4,3% so với năm trước) và đạt con số kỷ lục trong vòng hai năm gần đây Nếu tính theo giá trị thì lượng hàng nhập khẩu cũng đạt 45,1 tỷ yên, tăng 6,1% so với năm trước Tính theo
số lượng thì loại thảm nhập khẩu nhiều nhất là loại thảm lông tiêu thụ phổ biến ( 29.809 tấn, chiếm 45,5% lượng thảm nhập khẩu ) và thảm dệt ( 26.843 tấn, chiếm 41% bao gồm cả một số loại thảm tay ) Năm 2001 lượng nhập khẩu loại thảm này tăng đáng kể từ Trung Quốc
*Gốm sứ
Trang 2Hàng gốm sứ nhập khẩu đạt mức kỷ lục cả về số lượng và giá trị trong năm 2001,
và xu hướng nhập khẩu mặt hàng này còn tiếp tục tăng Hàng gốm sứ nhập khẩu đạt 16.484 tấn so với hàng gốm là 45.800 tấn và mặt hàng này bằng gốm đã tăng đáng
kể nhờ tăng lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc Trước đây, lượng hàng nhập khẩu đạt được tăng trưởng như vậy chủ yếu là nhờ :
- Lối sống cá nhân theo kiểu phương tây hoá ngày càng tăng lên ở Nhật Bản
- Tăng mức thu nhập cá nhân vốn là nhân tố thúc đẩy nhu cầu đối với sản phẩm này;
- Người tiêu dùng Nhật Bản ưu thích những sản phẩm có nhãn hiệu hơn
- Sự lên giá mạnh mẽ của đồng Yên
Nhưng hiện nay, nguyên nhân dẫn đến lượng hàng gốm sứ nhập khẩu vào Nhật Bản tăng lên thực chất là do tăng lượng hàng nhập khẩu từ Châu á So với mức của năm 2001, lượng hàng sứ nhập khẩu trong năm 2001 đã tăng 170% trong khi lượng nhập khẩu mặt hàng gốm sứ tăng 80%, còn đối với đồ gốm thì tăng 120% Điều này chứng tỏ việc nhập khẩu những sản phẩm giá thấp tăng khá mạnh
* Mặt hàng rèm
Từ năm 1990 đến năm 1996 lượng hàng rèm nhập khẩu tăng mạnh, nhưng do nền kinh tế đình trệ và sự giảm sút nhu cầu bất động sản đã làm cho lưọng hàng nhập khẩu giảm mạnh vào giũa năm 1997 và năm 1998 Sau khi có một vài dấu hiệu phục hồi phục vào năm 1999 thì tổng lượng hàng nhập khẩu trong năm 2000 tăng từ 908.000 tá sản phẩm lên 1,55 triệu tá sản phẩm Năm 2001 tốc độ tăng là 40,1% và đạt con số kỷ lục mới 2,18 triệu tá sản phẩm Nếu tính theo giá trị thì năm 2001 kim ngạch nhập khẩu đạt mức kỷ lục mới là 13,78 tỷ yên ( tăng 44% so với năm trước)
Trang 3Có được sự tăng trưởng này chủ yếu là nhờ tăng lượng nhập khẩu từ Trung Quốc Lượng hàng này chủ yếu được thiết kế tại Nhật Bản và được sản xuất tại Trung Quốc với sự giúp đỡ kĩ thuật từ phía Nhật Bản Tại các xưởng dệt ở Nhật Bản tiền công cho người lao động khá cao, ngoài ra các xí nghiệp Nhật Bản không thể cạnh tranh được với sản phẩm từ Trung Quốc về yếu tố giá cả Chính vì thế trong thời gian tới sẽ còn tiếp tục khuyến khích chuyển hướng sản xuất vải rèm ra nước ngoài Phẩn lớn hàng rèm nhập khẩu từ Châu Âu và từ Mỹ là nhập khẩu vải, vì thế không
có những con số thống kê hải quan chính thức Trong những năm gần đây việc nhập khẩu mặt hàng rèm may sẵn đã giảm sút, do giới trẻ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc thiết kế nội thất Nhu cầu nhập khẩu mặt hàng vải may rèm ngày càng tăng mạnh bởi điều này rất phù hợp với lối sống sôi động, tự nhiên hiện nay Trong tương lai gần có thể sẽ tăng xu hướng các nước phương Tây xuất khẩu vải mau rèm sang Trung Quốc và tại đây người ta sẽ đảm nhiệm khâu sản xuất ra sản phẩm cuối cùng
Trên cơ sở này, Việt Nam cần phân tích và rút ra cho mình những thời cơ cũng như thách thức cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản Chuơng II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam và công ty ARTEXPORT trong thời gian qua
1 Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam
1.1 Thực trạng về sản xuất thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề
1.1.1 Tình hình lao động tại các làng nghề
Đối với sản xuất tiểu thủ công,lao động chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân Những năm trước khi ban
Trang 4hành chính sách đổi mới, lao động tại các làng nghề truyền thống chủ yếu làm việc trong các hợp tác xã hoặc các tổ sản xuất tiểu thủ công.Thời kỳ này đã tạo ra đội ngũ thợ thủ công đông đảo, phục vụ cho việc phát triển kinh tế nông thông, tăng thu nhập, xuất khẩu Nhưng, hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu hợp tác xã , việc đào tạo thợ thủ công đại trà đã phá vỡ kết cấu gia đình truyền thống, gây nên sự thất truyền bí quyết nghề nghiệp ở những nghề đòi hỏi kỹ thuật tinh xảo
Hiện nay nhờ các chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế của Chính phủ,hoạt động thủ công lại trở về với hình thức sản xuất theo hộ gia đình( khoảng 90%) Các cơ sở làm nghề này trung bình có khoảng ba đến bốn lao động thường xuyên và hai, ba lao động thời vụ Còn tại các doanh nghiệp thì con số tương đương
là 27 lao động thường xuyên, tám đến mười lao động thời vụ Việc sử dụng lao động ngày càng triệt để không những trong vùng mà còn thu hút thêm lao động ở các vùng khác Sự phân công lao động trong các làng nghề ngày càng được chuyen môn hoá sâu sắc Bên cạnh những người trực tiếp lo tạo ra sản phẩm còn có người chuyên lo khâu đầu vào và đầu ra cho sản phẩm ở những làng nghề có công nghệ
và tổ chức phức tạp, đa có sự phân công phù hợp với giới tính, tuổi tác và trình độ của người lao động Phụ nữ và trẻ em được làm những công việc nhẹ nhàng, người
có tay nghề cao đảm nhận những công việc phức tạp Tuỳ theo tính chất của công việc cũng như tay nghề của người thợ mà có sự phân công phù hợp làm cho sản xuất ngày càng hoàn chỉnh
Tuy vậy trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động vẫn còn thấp kém Lao động thủ công chiếm chủ yếu nhưng trình độ học vấn của họ phần lớn chỉ đạt mức tôt nghiệp phổ thông trung học, thậm chí có người còn ở trình độ thấp hơn
Trang 5Trong khi đó, số lao động lành nghề, thợ bậc cao và các nghệ nhân chỉ chiếm 2,1% Cán bộ quản lý, kỹ thuật trình độ đại học còn ít Điiêù này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nghề cũng như tiếp nhận có hiệu quả sự đầu tư
Bên cạnh đó là vấn đề dạy nghề Chủ yếu viẹc dạy nghề trước đây là theo phương thức truyền nghề trong gia đình hoặc bí truyền nhằm bảo lưu nghề trong pham vi làng nghề hay phố nghề Cách truyền nghề theo phương thức vừa học vừa làm như hiện nay có ưu điểm là đào tạo được những người thợ giỏi, tài hoa song lai không đào tạo được đội ngũ lao động lành nghề đông đảo để đáp ứng nhu cầu phát triển của làng nghề Đây cũng là một vấn đề bất cập hiện nay của làng nghề cần giải quyết
2.1.1.2 Công nghệ- kỹ thuật Công nghệ cổ truyền dựa trên kỹ thuật sản xuất thủ công tinh xảo và dụng cụ lao động thủ công khá thô sơ do người thợ tự chế ra Hiện nay nên kinh tế thị trường và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới công nghệ kỹ thuật trong các làng nghề Một số cơ sở đã trang bị được thiết bị hiện đại ở một số khâu cần thiết Ví dụ như ngành sản xuất đồ gỗ đã được trang bị những máy
đa năng( cưa,đục, bào) làm rút ngắn thời gian sản xuất , ngành dệt nhờ áp dụng máy móc, thiết bị vào sản xuất mà công nghệ dệt vải với nhiều hoa văn phức tạp, đa dạng, khổ rộng đã thay thế cho công nghệ dệt cổ truyền khổ hẹp, hoa văn đơn giản
ở Bát Tràng, công nghệ nugn sản phẩm gốm sứ bằng lò tuy nen ( dùng nhiên liệu gas và điện)đã thay thế cho lò hộp và lò bầu ( dùng than và củi) ,công nghệ nhào luyện đất bằng máy đã thay cho công nghệ thủ công
Trang 6Tuy nhiên, nhìn chung, việc đổi mới công nghệ ở các làng nghề chưa được thực hiện một cách hệ thống , chưa cơ bản Năng lực nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vẫn còn kém Trong các làng nghề, những người thợkỹ thuật chuyên nghiên cứu, sáng tạo mẫu mã còn ít ỏi do không có một trường lớp đầo tạo cơ bản nào mà chủ yếu là tự học Tất cả những điều này làm hạn chế sự phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ
2.1.1.Môi trường
Sản xuất trong làng nghề mang lại hiệu quả kinh tế song mặt trái của nó là gây ô nhiễm môi trường nặng nề Qua điều tra, hiện có tới 52% số hộ và các cơ sở sản xuất làm ảnh hưởng đến môi trường Các làng nghề sản xuất gạch vôi, gốm sứ, đúc đồng đang gặp khó khăn vì ô nhiễm không khí nặng nề làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng và làm ô nhiễm môi trường sinh thái Các lò gốm hàng ngày phun vào khí quyển nhiều chất độc hại, chẳng hạn ở Bát Tràng, mật độ dân số 2500-3000 người/km ² Trong làng nhà ở san sát kề với 1100 lò hôp lớn nhỏ,hàng năm sử dụng khoảng 7 vạn tấn than và xử lý 10 vạn tấn đất nguyên liệu, thêm vào đó là 300 lượt xe ô tô lớn nhỏ chạy qua mỗi ngày Bên cạnh các lò gốm còn có hàng trăm lò gạch ở bãi sông của Đa Tốn và Xuân Quan, những lò này toả đầy khói bụi suốt ngày đêm và gây tác hại rất lớn đến sức khoẻ của nhân dân nhất là trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi
Nguyên nhân là do hạn chế về vốn, kỹ thuật, thiếu quy hoạch tổng thể nên hầu hết các gia đình khi đầu tư sản xuất đã không đầu tư xử lý chất thải,các chất độc hại từ sản xuất đều đổ thẳng ra môi trường Bên cạnh đó, các bộ phận,các cơ sở sản xuất
Trang 7được bố trí xen kẽ khu vực dân cư, thậm chí dùng làm nơi sản xuất đã gây tác hại trực tiếp tới sức khoẻ con người
2.1.1.5 Nguyên vật liệu cho sản xuất Hầu hết các làng nghề truyền thống đều được hình thành xuất phát từ việc có sẵn nguồn nguyên liệu ngay tai địa phương Đặc biệt là các nghề truyền thống sản xuất các sản phẩm tiêu dùng như đan lát,mây tre…nguyên liệu thường có tại chỗ Đối với một số nghề như sơn mài, chạm khắc gỗ, đá…cũng có thể kkhai thac được từ nguồn nguyên liệu tại địa phương hay trong nước Nhưng hiện nay, nguồn nguyên liệu đang ngày càng cạn kiệt làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các làng nghề
Nghề gốm phát triển thì tài nguyên đất bị suy kiệt dần, nguồn nước cũng bị thu hẹp,chưa kể đến việc các chất thải ngấm vào làm ô nhiễm nguồn nước Nghề gỗ, mây tre đan phát triển thì sự suy thoái tài nguyên rừng tăng nhanh Sản lượng rừng
tự nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ, trong khi đó ý thức bảo vệ rừng và môi trường sinh thái của người dân rất kém,Nhà nước lại chưa có chính sách nào để bảo tồn và tái sinh nguồn tài nguyên này
Như vậy, sau khi xem xét hiện trạng hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam , ta thấy nghề truyền thống Việt Nam đang từng bước phát triển cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước Các làng nghề phục hồi và phát triển đã góp phần không nhỏ vào GDP ở địa phương, tạo thêm nhiều việc làm,tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân…Song, vẫn còn nhiều khó khăn về vốn, trình độ công nghệ- kỹ thuật, sự ô nhiễm môi trường, năng lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất và sự quan tâm của cơ quan Nhà nước với sự phát
Trang 8triển của làng nghề còn chưa thích đáng Những khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, vì vậy để thúc đẩy xuất khẩu đòi hỏi Việt Nam phải có những biện pháp ,chính sách thiết thực được thực thi đồng bộ để giải quyết khó khăn trên một cách triệt để
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
* Xuất khẩu ra nước ngoài 2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu Sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã khai thác thế mạnh của các ngành nghề truyền thống này để đẩy mạnh xuất khẩu Trong thời kỳ 1976_1990, hàng thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu của ta chủ yếu bao gồm: các loại thảm len,hàng mây tre, mành trúc, mành cọ, hàng thêu ren, khăn trải giường, trải bàn thêu, áo thêu…tuyệt đại bộ phận các hàng hoá này được xuất khẩu sang thị trường các nước Liên Xô cũ và Đông Âu
Vào thời kỳ cuối những năm 1980, ta đã bắt đầu xuất khẩu dầu thô, gạo với khối lượng tương đối lớn và hàng công nghiệp nhẹ xuất khẩu cũng tăng trưởng nhanh(may mặc, thực phẩm chế biến, giày da…) nên tỷ trọng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giảm đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Bình quân trong thời kỳ 1986-1990 tỷ trọng cả hàng công nghiệp nhẹ và hàng thủ công chỉ còn 27,9% tổng kim ngạch xuất khẩu
Từ năm 1991, khi thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu, thị trường chủ yếu của hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trong thời kỳ trước của ta bị mất, các ngành thủ công
mỹ nghệ gặp rất nhiều khó khăn trong xuất khẩu dẫn đến sản xuất bị thu hẹp, lao động không có việc làm, việc chuyển đổi thị trường đòi hỏi thời gian tìm kiếm thị
Trang 9trường mới, bạn hàng mới Sau vài năm lao đao trong cơ chế mới, dần dần một số ngành nghề tìm được lối thoát khôi phục lại tình hình Mặc dù đứng thứ 8 về kim ngạch xuất khẩu năm 2000 với 235 triệu, chiếm tỷ trọng 1,6% so với tổng kim ngạch nhưng nhìn ở khía cạnh khác thì giá trị thực thu khi xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của nước ta là không nhỏ Vì không giống như những mặt hàng khác, nguyên liệu sản xuất ra mặt hàng thủ công mỹ nghệ chỉ toàn là nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, không phải nhập khẩu từ nước ngoài , nên giá trị thực thu xuất khẩu là rất cao đồng thời qua đó, chúng ta cũng có thể quảng bá về hình ảnh và đất nước con người Việt Nam với thế giới
Cho đến nay, hàng thủ công mỹ nghệ vẫn tiếp tục là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam và từ năm 1997 được xếp vào danh mục những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta Năm 1997, theo thông kê của Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã đạt 121 triệu USD, trong đó trên 50% là hàng gốm sứ mỹ nghệ( khoảng 610 triệu USD) và khoảng 25% là hàng dốm sứ mỹ nghệ( khoảng 30 triệu USD), bao gôm các loại hàng như: tranh, tượng gỗ, hàng sơn mài,
đồ gỗ trạm khảm…Năm 1998 do khủng hoảng kinh tế khu vực, kim ngạch xuất khẩu đã giảm 8,3% so với năm 1997 nhưng vẫn đạt 111 triệu USD Năm 1999, 9 tháng đầu năm xuất khẩu đạt 111 triệu USD , cả năm đạt 168 triệu USD tăng 51,3%
so với năm 1998 Năm 2000 đánh dấu một thời kỳ phục hưng của ngành thủ công
mỹ nghệ sau nhiều năm suy giảm Kim ngạch xuất khẩu đạt 235 triệu USD , tăng 39,8 % so với cùng kỳ năm 1999 Nhưng đến năm 2002, kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đạt 322 triệu USD tăng 41% so với năm 2001 Năm 2003 đạt 350 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002 Và trong năm 2004 ngành thủ công mỹ nghệ
Trang 10đã đạt kim ngạch xuất khẩu 450 triệu USD , tăng 22,6% so với năm 2003 Các mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu lớn bao gồm hàng mây tre lá, hàng cói và hàng gốm sứ
và hàng gỗ Trong những năm gần đây, để đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Nhà nước đã
có rất nhiều hoạt động hỗ trợ Trong năm 2002, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cùng các cơ quan hữu quan và các doanh nghiệp đã xây dựng sàn giao dịch điện tử để trưng bày, giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam lên mạng, sang giao dịch này là đầu mối cung cấp thông tin về thị trường , giới thiẹu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam , về các doanh nghiệp , cơ sở sản xuất kinh doanh mặt hàng này đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong giao dịch trực tuyến
2.1.2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Theo đánh giá cơ cấu mặt hàng xuất khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các mặt hàng trong toàn bộ kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ đa dạng về chủng loại , phong phú về mẫu mã do đó mà để đi sâu nghiên cứu tất cả các loại hàng thủ công mỹ nghệ là điều không dễ Việt Nam xuất khẩu 1 nhóm hàng thủ công mỹ nghệ trong đó có 5 loại chính.Mỗi mặt hàng xuất khẩu dù ít hay nhiều đều tham gia đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu
Nguồn: báo cáo tổng kết qua các năm của Bộ thương mại Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đều tăng qua các năm trong
đó mặt hàng có tỷ trọng lớn nhất là gỗ và gốm sứ sau đó mới đến mây tre đan và các mặt hàng khác Mặt hàng gỗ và gốm sứ rất được các khách hàng Nhật Bản ưa chuộng do kiểu dáng rất phù hợp với phong cách của người Nhật với giá cả phải