1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt

5 414 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 359,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ghi hình ổ nhồi máu cơ timNhồi máu cơ tim xảy ra khi một vùng của cơ tim không được cung cấp máu trong khoảng thời gian dài.. Nếu đánh dấu pyrophosphat với 99mTc 99mTc - pyrophosphat, th

Trang 1

4.3 Ghi hình ổ nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim xảy ra khi một vùng của cơ tim không được cung cấp máu trong khoảng thời gian dài Nhồi máu thường xảy ra khi một nhánh động mạch bị tắc (bởi một cục máu đông ) Cục máu đông được tạo thành ở nơi bị xơ vữa, chỗ xơ vữa bị vỡ gây nên vật liệu làm nghẽn mạch Quá trình nhồi máu này sẽ tạo ra nhiều chất, nhưng nhiều chất từ trong tế bào cũng được tiết ra, và nhiều chất cũng thâm nhập được vào trong tế bào cơ tim qua màng tế bào đ bị phá huỷ

4.3.1 Nguyên tắc chung:

- Ghi hình ổ nhồi máu cơ tim với 99mTc - pyrophosphat: Trong nhồi máu cơ tim cấp có sự tích luỹ pyrophosphat tạm thời, đồng thời với sự lắng đọng calci Hai chất này tập trung nhiều nhất ở khu vực xung quanh ổ nhồi máu (vùng chu vi ổ nhồi

Hình 4.57: Phân vùng phân bố động mạch vành (bên trái), phân bố vùng tim

Hình 4.58: Hình ảnh cửa sổ tròn (bulls eye) người bình thường

Ghi chú: - Các hướng: ANT = anterior (phía trước), INF – POS

= Inferoposterior (phía sau dưới), SEP = septal (vách)

- Phân bố mạch vành: LAD = left

xuống trước trái), LCX = left circumflex (nhánh mũ trái), RCA

= right coronary arteries (các

động mạch vành phải)

Tái phân bố Gắng sức

Trang 2

máu) Nơi pyrophosphat tập trung chủ yếu trong tế bào cơ tim hoại tử là nguyên sinh chất Mức độ tập trung pyrophosphat phụ thuộc nhiều bởi luồng máu vào vùng cơ tim ở những vùng cơ tim bị giảm luồng máu tới chỉ còn 30 - 40% của mức bình thường thì có mức tập trung pyrophosphat cao nhất Nhưng ở những vùng có mức tuới máu giảm dưới 30% thì độ tập trung pyrophosphat lại giảm đi dù mức độ hoại

tử cơ tim có tăng lên Như vậy độ tập trung pyrophosphat ở các vùng cơ tim không

phản ánh mức độ hoại tử

Nếu đánh dấu pyrophosphat với 99mTc (99mTc - pyrophosphat), thì DCPX này có thể xâm nhập được vào vùng cơ tim bị nhồi máu Vùng nhồi máu sẽ tập trung HĐPX, kết quả là ta sẽ có một hình ghi dương tính (hot spot imaging)

- Ghi hình ổ nhồi máu với 111In - antimyosin: Khi tế bào cơ tim bình thường thì

kháng thể này không vào được bên trong tế bào, nhưng khi bị tổn thương thì kháng thể đơn dòng kháng myosin (antimyosin monoclonal antibody) sẽ vào được bên trong tế bào và gắn với kháng nguyên, vì vậy có thể ghi hình được vùng bị hoại tử nếu ta đánh dấu kháng thể với In - 111 Vùng nhồi máu sẽ tương ứng với vùng tập trung HĐPX

4.3.2 Dược chất phóng xạ: có hai loại DCPX được dùng để ghi hình nhồi máu cơ

tim là 99mTc - pyrophosphat và 111In – antimyosin (kháng thể kháng myosin) Trong

đó 99mTc - pyrophosphat được dùng rất phổ biến

4.3.3 Phương pháp ghi hình và đánh giá kết quả:

Sau khi nghi bị nhồi máu cơ tim (khoảng 12h đến 10 ngày ), người ta tiêm DCPX trên bằng đường tĩnh mạch và tiến hành ghi hình sau 4 ữ 6 giờ Đánh giá hình

Hình 4.59: Hình ảnh tưới máu (hàng trên) và hình ảnh chuyển hoá cơ

tim (hàng dưới): có sự thiếu máu cơ tim cục bộ

ở bệnh nhân bị gi1n cơ

tim Ghi hình với máy PET

Hình 4.60: Hình ảnh thiếu máu cơ tim cục bộ ở bệnh nhân bị bệnh gi1n cơ tim (vị trí mũi tên)

Trang 3

ảnh dựa vào nơi tập trung pyrophosphat bất thường và cường độ tập trung của nó Tổn

thương có thể có tiêu điểm (focal) hay phân tán Còn về cường độ của nó người ta

đánh giá mức độ tập trung ở vùng tổn thương so với hoạt độ của xương, bởi vì

pyrophosphat cũng vào xương và ta xem như đó là hoạt độ nền Khả năng phát hiện ổ

nhồi máu cơ tim tối đa khi nghiệm pháp được tiến hành trong khoảng 36 ữ 72 giờ kể từ

khi xuất hiện cơn đau ngực, ghi hình trước đó khó có khả năng phát hiện được tổn

thương Ghi hình sau 10 ngày thường cho kết quả âm tính và khó phát hiện được tổn

thương Tuy nhiên ở một số bệnh nhân, hình ảnh tổn thương (hình ảnh dương tính) vẫn

tồn tại nhiều tháng sau khi bị nhồi máu

Sau khi xuất hiện cơn đau ngực (trong vòng 72 giờ), người ta tiến hành tiêm 111In - antimyosin (liều khoảng 2 mCi) và tiến hành ghi hình sau khi tiêm khoảng 24 ữ 48

giờ Có thể phát hiện ổ nhồi máu trong vòng 10 ữ 14 ngày, sau thời gian này sẽ ít có

kết quả Độ nhạy phát hiện ổ nhồi máu đạt khoảng 88%, độ đặc hiệu khoảng 95%

Hiện nay DCPX này ít được dùng trong ghi hình nhồi máu cơ tim

Dưới đây là một số hình ảnh nhồi máu cơ tim xác định bằng phương pháp xạ hình

Hình 5.61: Hình ảnh nhồi máu cơ tim Ghi hình bằng máy SPECT (ở trạng thái gắng sức)

Trang 4

Hình 4.62: Hình ảnh đa ổ nhồi máu cơ tim

cũ ở bệnh nhân nam 61 tuổi, thể hiện bằng những vùng rộng lớn không tập trung HĐPX

Vùng nhồi máu ở thành: phía trước, vách,

đỉnh và phía sau dưới

Ghi hình bằng máy SPECT

Trang 5

Hoa Súng Santé

Chương 4:

Y học hạt nhân chẩn đoán

Cách đây gần 60 năm, các đồng vị phóng xạ (ĐVPX) đ được sử dụng cho mục

đích chẩn đoán và điều trị Hiện nay các nghiệm pháp chẩn đoán bệnh bằng ĐVPX

được chia thành 3 nhóm chính:

- Các nghiệm pháp thăm dò chức năng

- Ghi hình nhấp nháy các cơ quan, tổ chức hoặc toàn cơ thể

- Các nghiệm pháp in vitro (không phải đưa các ĐVPX vào cơ thể)

Nguyên tắc chung của chẩn đoán bệnh bằng đồng vị phóng xạ như sau:

Để đánh giá hoạt động chức năng của một cơ quan, phủ tạng nào đó ta cần đưa vào một loại ĐVPX hoặc một hợp chất có gắn ĐVPX thích hợp, chúng sẽ tập trung đặc

hiệu tại cơ quan cần khảo sát Theo dõi quá trình chuyển hoá, đường đi của ĐVPX này

ta có thể đánh giá tình trạng chức năng của cơ quan, phủ tạng cần nghiên cứu qua việc

đo hoạt độ phóng xạ ở các cơ quan này nhờ các ống đếm đặt ngoài cơ thể tương ứng

với cơ quan cần khảo sát Ví dụ người ta cho bệnh nhân uống 131I rồi sau những

khoảng thời gian nhất định đo hoạt độ phóng xạ ở vùng cổ bệnh nhân, từ đó có thể

đánh giá được tình trạng chức năng của tuyến giáp

Để ghi hình nhấp nháy (xạ hình) các cơ quan người ta phải đưa các ĐVPX vào cơ

thể người bệnh Xạ hình (Scintigraphy) là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của

phóng xạ ở bên trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên

ngoài cơ thể Phương pháp xạ hình được tiến hành qua hai bước:

- Đưa dược chất phóng xạ (DCPX) vào cơ thể và DCPX đó phải tập trung được ở những mô,

cơ quan định nghiên cứu và phải được lưu giữ ở đó một thời gian đủ dài

- Sự phân bố trong không gian của DCPX sẽ được ghi thành hình ảnh Hình ảnh này

được gọi là xạ hình đồ, hình ghi nhấp nháy (Scintigram, Scanogram, Scan)

Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà

nó còn giúp ta hiểu và đánh giá được chức năng của cơ quan, phủ tạng và một số biến

đổi bệnh lí khác

Để ghi hình các cơ quan, có thể sử dụng 2 loại máy xạ hình: xạ hình với máy có

đầu dò (detector) di động (hay còn gọi là máy Scanner) và xạ hình với máy có đầu dò

không di động (Gamma Camera) Với các máy Scanner, người ta căn cứ vào độ mau

thưa của vạch ghi và sự khác nhau của màu sắc để có thể nhận định được các vùng, các

vị trí phân bố nhiều hoặc ít phóng xạ Đối với các máy Gamma Camera do có đầu dò

lớn, bao quát được một vùng rộng lớn của cơ thể nên có thể ghi đồng thời hoạt độ

phóng xạ của toàn phủ tạng cần nghiên cứu, không phải ghi dần dần từng đoạn như với

máy Scanner (đầu dò di động) Việc ghi hình lại được thực hiện với các thiết bị điện tử

nên nhanh hơn ghi hình bằng máy cơ của các máy xạ hình (Scanner)

Hiện nay, ngoài Gamma Camera, SPECT, người ta còn dùng kỹ thuật PET (Positron Emission Tomography) để ghi hình

Ngày đăng: 23/07/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.58: Hình ảnh cửa sổ tròn  (bulls eye) ng−êi b×nh th−êng. - Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt
Hình 4.58 Hình ảnh cửa sổ tròn (bulls eye) ng−êi b×nh th−êng (Trang 1)
Hình  4.57:  Phân  vùng  phân  bố  động  mạch  vành  (bên  trái),  phân  bố  vùng  tim  theo cấu trúc  “cửa sổ tròn” (giữa) và hình ảnh cửa sổ tròn (mắt bò) (bên phải) - Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt
nh 4.57: Phân vùng phân bố động mạch vành (bên trái), phân bố vùng tim theo cấu trúc “cửa sổ tròn” (giữa) và hình ảnh cửa sổ tròn (mắt bò) (bên phải) (Trang 1)
Hình  4.59:  Hình  ảnh  t−ới  máu  (hàng  trên)  và  hình  ảnh  chuyển  hoá  cơ - Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt
nh 4.59: Hình ảnh t−ới máu (hàng trên) và hình ảnh chuyển hoá cơ (Trang 2)
Hình 5.61: Hình ảnh nhồi máu  cơ  tim.  Ghi  hình  bằng  máy  SPECT (ở trạng thái gắng sức) - Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt
Hình 5.61 Hình ảnh nhồi máu cơ tim. Ghi hình bằng máy SPECT (ở trạng thái gắng sức) (Trang 3)
Hình  4.62:  Hình  ảnh  đa  ổ  nhồi  máu  cơ  tim - Giáo trình hướng dẫn cách sử dụng máy ghi hình phóng xạ điện tử trong chẩn đoán bệnh phần 7 ppt
nh 4.62: Hình ảnh đa ổ nhồi máu cơ tim (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm