1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài viết 1: Hệ thống NHTM ở Việt Nam thời gian qua docx

18 311 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình này, Nhà nước độc quyền nắm giữ, vừa làm chức năng quản lý của ngân hàng trung ương, vừa trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng của NHTM.. Tới tháng 5/1990 Pháp lệnh NHNN và Pháp

Trang 1

Bài viết

1:

Hệ thống NHTM ở Việt Nam thời gian

qua

Trang 2

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Chưong I

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Lịch sử ra đời và quá trình phát triển của Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt

Nam:

Trước cách mạng tháng 8/1945, ở Việt Nam có ngân hàng Đông Dương do Pháp thành

lập Hệ thống tiền tệ-tín dụng này được thiết lập và hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính

sách khai thác thuộc địa của Nhà nước Pháp ở Việt Nam Ngân hàng Đông Dương hoạt

động với tư cách là một ngân hàng phát hành trung ương đồng thời là một ngân hàng kinh

doanh đa năng

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/1945 đến tháng 5/1951, mặc dù Bộ Tài Chính và các

địa phương đã phát hành tiền và các loại tín phiếu nhưng chính quyền cách mạng chưa có

một hệ thống ngân hàng

Ngày 06/05/1951, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia

Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Hệ thống ngân hàng Việt Nam tổ chức

theo mô hình một cấp ở miền Bắc trước 1975 và cả nước từ năm 1975 tới năm 1990 Mô

hình này, Nhà nước độc quyền nắm giữ, vừa làm chức năng quản lý của ngân hàng trung

ương, vừa trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng của NHTM

Từ năm 1988, thực hiện Nghị định 53/HĐBT của Chính phủ, thành lập các ngân hàng

chuyên doanh tách khỏi ngân hàng nhà nước Tới tháng 5/1990 Pháp lệnh NHNN và Pháp

lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ra đời, chính thức đánh dấu sự

hình thành ngân hàng hai cấp: NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ và tín dụng,

là ngân hàng phát hành, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam;

các NHTM và các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân

hàng theo cơ chế thị trường trong khuôn khổ pháp luật Đây có thể coi là thời điểm ra đời

của hệ thống NHTM Việt Nam và hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp

Như vậy, hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu sự ra đời và

phát triển khoảng trên 15 năm (từ 1990 đến nay) Trải qua chặng đường trên, hệ thống

NHTM VN đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạng

lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh

2.Định nghĩa , chức năng và vai trò của NHTM

2.1 Định nghĩa NHTM:

Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm

2007, định nghĩa:

Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tòan bộ họat

động ngân hàng và các họat động khác có liên quan

Trong đó, Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của

Luật này và các quy định khác của pháp luật để họat động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ

ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các

dịch vụ thanh tóan

* Tổ chức hoạt động:

Trang 3

Hệ thống tổ chức hoạt động của NHTM Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển của nền

kinh tế bao gồm:

- Ngân hàng thương mại quốc doanh

- Ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài

- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài đặt tại Việt Nam

Mỗi ngân hàng là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập và được mở các chi nhánh

trực thuộc tại các tỉnh, thành phố thích hợp

2.2 Chức năng và vai trò của NHTM:

Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển ngân hàng thương mại thực hiện các

chức năng cơ bản sau: chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng sản

xuất

1.2.1 Chức năng trung gian tài chính:

Hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên chức năng trung gian tài chính là chức

năng cơ bản nhất của ngân hàng NHTM đóng vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp

vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh tóan, nghiệp vụ kinh doanh ngọai tệ,

kinh doanh chứng khóan, và nhiều họat động môi giới khác

“Trung gian” được hiểu theo hai nghĩa:

+ Trung gian giữa các khách hàng với nhau Như NHTM làm trung gian giữa người gửi

tiền và người vay tiền, hay trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền hoặc trung

gian giữa người mau và người bán ngoại tệ

+ Trung gian giữa ngân hàng Trung ương và công chúng Ngân hàng trung ương hay còn

gọi là Ngân hàng Nhà nước không có giao dịch trực tiếp với công chúng mà chỉ giao dịch

với các NHTM, trong khi các ngân hàng thương mại vừa giao dịch với ngân hàng Trung

ương vừa giao dịch với công chúng

Thực hiện chức năng này ngân hàng vừa huy động triệt để nguồn vốn trong xã hội vừa

kích thích quá trình luân chuyển vốn nhằm tái sản xuất mở rộng nhằm thúc đẩy nền kinh tế

tăng trưởng

1.2.2 Chức năng tạo tiền:

Tức là chức năng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ thực hiện cho nhu cầu chu

chuyển và phát triển nền kinh tế

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế gọi tắt là IMF, khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: Tiền

giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kỳ hạn ở các ngân hàng

Gọi U1: Số tiền gửi đầu tiên của 1 khách hàng

Sn: Số tiền gửi tổng cộng được tạo ra

Được tính theo công thức như sau:

Trong đó: q: Là công bội cấp số nhân

q= 1- tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định

Ngân hàng Trung ương bằng việc vận dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể tăng hay giảm

khối tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ của mình

Thực hiện chức năng này ngân hàng đã trực tiếp tiết kiệm một khoản chi phí lưu thông

cho xã hội như chi phí in ấn tiền, bảo quản, vận chuyển tiền,…

1.2.3 Chức năng “ Sản xuất “ của NHTM

Được hiểu là việc huy động các nguồn lực để sử dụng tạo ra sản phẩm và dịch vụ Ngân

hàng cung cấp cho nền kinh tế

Trang 4

Chúng ta cần hiểu NHTM cũng như các doanh nghiệp khác, cũng sử dụng đất đai, lao

động và vốn để tạo ra các sản phẩm dịch vụ như các doanh nghiệp sản xuất khác Nhưng sử

dụng các yếu tố đầu vào có tính chất rất đặc biệt

Đất đai: Sử dụng đất đai nằm ở các trung tâm thương mại để tiện giao dịch với khách

hàng

Lao động: Có kỹ năng, lao động được đào tạo ở một trình độ nhất định,

Vốn: NHTM sử dụng đại bộ phận vốn từ nguồn vốn huy động của khách hàng

Trên cơ sở sử dụng các yếu tố đầu vào đặc thù, NHTM tạo ra sản phẩm và dịch vụ đặc

thù để cung cấp cho khách hàng Các sản phẩm bao gồm:

 Các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi và chứng từ có giá các loại

 Các sản phẩm cấp tín dụng như: Cho vay doanh nghiệp, vay cá nhân, vay tiêu dùng,

cho vay tài trợ xuất nhập khẩu

 Các sản phẩm thẻ như: Thẻ tín dụng, thẻ ATM

 Các dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ chuyển tiền, thanh tóan không dùng tiền mặt,

thanh tóan quốc tế

 Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như hợp đồng giao ngay, giao sau, quyền chọn

 NHTM cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất khác nên cũng cần phải chú

trọng trong quản trị NHTM:

 NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình, do vậy

cần phải tiếp thị, bán hàng, khuyến mãi, và thậm chí đến cả hậu mãi nữa

 NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản phẩm sao

cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng

 NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân hàng

3 Các họat động chủ yếu của NHTM

3.1 Họat động huy động vốn:

NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:

 Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng các dưới hình thức tiền

gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn

của tổ chức, cá nhân trong nước và ngòai nước

 Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác họat động tại Việt Nam và của các tổ chức

tín dụng nước ngòai

 Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước

 Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

3.2 Họat động cấp tín dụng:

 Cho vay: Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

 Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh tóan, bảo lãnh thực hiện hợp

đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín, bằng

khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh

 Chiết khấu: Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ

chức, cá nhân

 Cho thuê tài chính

Trang 5

 Bao thanh tóan: bao thanh tóan truy đòi, bao thanh tóan miễn truy đòi, bao thanh

tóan ứng trước bao thanh toan chiết khấu, bao thanh toan khi đáo hạn trong phạm vi

buôn bán nội địa lẫn quốc tế

 Tài trợ nhập khẩu: để các doan hnghiệp nhập khẩu có thể thực hiện hợp đồng mua

bán hàng hóa, bao gồm:Mở L/C thanh tóan hàng nhập khẩu, cho vay ứng trước một

phần để thanh toan cho người bán, bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh tóan hối

phiếu khi đến hạn

 Tài trợ xuất khẩu: Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, mua nguyên vật liệu để sản

xuất , cho vay nộp thuế xuất khẩu

 Cho vay thấu chi

 Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tían dụng dự phòng

3.3 Họat động dịch vụ thanh tóan và ngân quỹ:

 Cung cấp các phương tiện thanh tóan

 Thực hiện các dịch vụ thanh tóan trong nước cho khách hàng

 Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

 Thực hiện các dịch vụ thanh tóan khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước cho

phép

 Thực hiện dịch vụ thanh tóan quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

 Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

 Tổ chức hệ thống thanh tóan nội bộ và tham gia hệ thống thanh tóan liên ngân hàng

trong nước

 Tham gia hệ thống thanh tóan quốc tế khi được Ngân hàng Nhà Nước cho phép

3.4 Các họat động khác:

 Góp vốn và mua cổ phần

 Tham gia thị trường tiền tệ

 Kinh doanh ngoại hối

 Ủy thác và nhận ủy thác

 Cung ứng dịch vụ bảo hiểm

 Tư vấn tài chính

 Bảo quản vật quý giá

Trang 6

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG NHTM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam trong năm 2006:

2.1.1 Mặt được:

1 Hệ thống ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng hoạt động cao, chất lượng và hiệu quả

hoạt động được nâng cao nhất trong nhiều năm qua:

Tính đến hết năm 2006 ước tổng số vốn huy động và tổng dư nợ cho vay, đầu tư của hệ

thống ngân hàng đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua và vượt xa so với mức dự kiến

từ đầu năm Quy mô lợi nhuận trước thuế của tất cả các khối ngân hàng đạt cao nhất từ

trước đến nay Trong khi đó chất lượng tín dụng được tăng cường, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp

nhất trong nhiều năm qua Ngân hàng Nhà nước tổ chức thành công 52 phiên đấu thầu tín

phiếu Kho bạc Nhà nước, với tổng khối lượng trúng thầu đạt 22.075 tỷ đồng Đồng thời

Ngân hàng Nhà nước cũng tổ chức thành công 155 phiên giao dịch thị trường mở, với tổng

khối lượng trúng thầu Ngân hàng Nhà nước mua vào tín phiếu còn thời hạn ngắn là 26.332

tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước bán ra tín phiếu thu hút tiền về với doanh số 86.302 tỷ

đồng Nguồn kiều hối chuyển về Việt Nam cũng tăng cao, ước tính đạt 4,2 tỷ USD, trong

đó trên 80% được chuyển qua các ngân hàng thương mại

2.Các ngân hàng nước ngoài mở rộng hoạt động tại Việt Nam với tốc độ tăng số vốn

đầu tư lớn nhất từ trước tới nay

Năm 2006, ở nước ta có 35 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh

với nước ngoài, 4 công ty liên doanh cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài Các ngân

hàng và công ty cho thuê tài chính đó đến từ 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Tổng số vốn điều lệ và vốn góp mua cổ phần của các tập đoàn ngân hàng, tài chính nói

trên đã thực sự đưa vào Việt Nam hiện nay lên tới gần 1,0 tỷ USD Đó là chưa kể số vốn

các chi nhánh ngân hàng nước ngoài huy động ở nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế Việt

Nam Tổng tài sản của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng có vốn đầu

tư nước ngoài lên tới 200.000 tỷ đồng, chiếm khoảng trên 20% tổng tài sản của hệ thống

ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng ở Việt Nam, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm

ngoái Tốc độ tăng trưởng đó chứng tỏ trong năm qua các ngân hàng và tổ chức tài chính

nước ngoài chuyển số vốn rất lớn vào Việt Nam

Tổng dư nợ cho vay và đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam của các chi nhánh ngân hàng

nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty cho thuê tài chính có vốn nước ngoài lên tới

khoảng 60.000 tỷ đồng, tương đương gần 4,0 tỷ USD, tăng trên 20% so với năm 2005

3 Thị trường thẻ Ngân hàng phát triển mạnh và sôi động

Cả nước các ngân hàng thương mại Việt Nam đã phát hành đạt khoảng 3,8 -4,0 triệu thẻ

các loại, tương ứng với nó là hệ thống máy rút tiền tự động ATM được các ngân hàng

thương mại trang bị cũng tăng lên nhanh Năm 2002 các ngân hàng thương mại trong cả

nước mới đưa vào vận hành khoảng 200 máy ATM, năm 2003 khoảng 320 máy ATM và

đến cuối năm 2004 có khoảng gần 500 máy ATM, hết năm 2005 là 1.800 máy và đến hết

tháng 12-2006 khoảng trên 3500 máy Dự báo đến giữa năm 2007, trong cả nước sẽ có trên

5000 máy ATM được các NHTM đưa vào vận hành

4.Thị trường lãi suất ổn định, cụ thể:

Trang 7

- Thông qua việc cung ứng tiền mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và

hút tiền về qua nghiệp vụ thị trường mở (bán tín phiếu NHNN)

- Giữ nguyên các mức lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản 8,25%/năm, tái cấp vốn

6,5%/năm, chiết khấu 4,5%/năm) và tỷ lệ dự trữ bắt buộc như cuối năm 2005 nhằm ổn định

lãi suất thị trường trước tác động tăng lãi suất trên thị trường quốc tế

- Chủ động can thiệp mua - bán ngoại tệ và thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm

soát của Nhà nước để duy trì tỷ giá VND so với USD biến động tăng ở mức độ thấp (giảm

nhẹ giá của VND so với USD)

- Để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận các kênh tái cấp vốn và tăng khả

năng điều tiết tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng danh mục giấy tờ có giá trong các

giao dịch tái cấp vốn,

5.Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng kiềm chế lạm phát, bảo đảm an toàn, hiệu quả

trong hoạt động tín dụng Nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát tăng trưởng tài sản có

rủi ro; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh

Đổi mới công nghệ: hiện đại hoá ngân hàng và phát triển thanh toán không dùng tiền

mặt Hệ thống ngân hàng tiếp tục có những nỗ lực mới nhằm hiện đại hoá công nghệ

2.1.2 Mặt chưa được:

1.Lãi suất diễn biến trái chiều, thị trường tiền tệ thường xuyên nóng lên

Lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay cả nội tệ và ngoại tệ tăng nhẹ, trong khi lãi suất

trên thị trường tiền tệ lại giảm

Lãi suất huy động vốn nội tệ của các NHTM thường xuyên đươc điều chỉnh tăng, bình

quân tăng 0,10%/tháng, tương đương 1,2%/năm; lãi suất huy động vốn USD bình quân

tăng 1,0%/năm Lãi suất cho vay nội tệ bình quân tăng 0,10% - 0,12%/tháng, lãi suất cho

vay ngoại tệ tăng 0,50%/năm

Song lãi suất một số thị trường do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành thì lại

giảm mạnh.Lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước giảm từ 6,3%/năm

thời điểm đầu tháng 1- 2006 xuống còn 3,35%/năm thời điểm giữa tháng 12-2006 Lãi suất

nghiệp vụ thị trường mở cũng giảm từ 6,0%/năm thời điểm đầu năm xuống còn 0,90%/năm

trong tháng 12/2006

2 Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam thách thức lớn nhất nằm ở nội lực của chính các

ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lực hạn chế, trình độ công nghệ còn chậm tiến so với

các nước trong khu vực

Mặc dù vốn điều lệ của các ngân hàng đã tăng mạnh so với trước đây nhưng còn nhỏ bé so

với thế giới và khu vực Mức vốn tự có trung bình của một ngân hàng thương mại Nhà nước là

4.200 tỷ đồng, tổng mức vốn tự có của 5 ngân hàng thương mại Nhà nước chỉ tương đương với

một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm

đến trên 75% thị trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng

Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại Việt Nam thấp

(dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế (8%) Chất

lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro

kỳ hạn và rủi ro tỷ giá

3 Điểm hạn chế thứ ba, của các ngân hàng trong nước là hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước

còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ

ngân hàng truyền thống Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng

nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu

Trang 8

nhập Các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút

khách hàng Tuy nhiên, công cụ này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định

4.Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là các tổ

chức tín dụng nhà nước TS Lý cũng cho biết thêm, một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá

hạn gia tăng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh là do: việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản

đảm bảo, trong khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều

biến động phức tạp; tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên,

tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng

Tuy nhiên, lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, tạo thêm gánh nặng về

chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay từ ngân hàng Hậu quả là, ngân

hàng vẫn tiếp tục cho vay để nuôi nợ, dẫn đến tình trạng mất vốn ngày càng lớn

5 Cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn

trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn vay huy động

ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn

Việc sử dụng vốn cho vay trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá

lâu sẽ là yếu tố gây rủi ro lớn và có nguy cơ gây ra thiếu an toàn cho toàn bộ hệ thống

Tình hình hoạt động của các NHTM năm qua có những mặt được và chưa được nguyên nhân

chủ yếu do tác động của tình hình kinh tế thế giới tới kinh tế Việt Nam trong năm 2006 Những

biến động trên thị trường quốc tế đã có tác động trái chiều đến nền kinh tế nước ta

+ Một mặt, tăng trưởng kinh tế thế giới ở mức cao có tác động tích cực đối với xuất

khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam;

+Nhưng mặt khác, giá cả hàng hoá và lãi suất trên thị trường quốc tế tăng mạnh đã

gây áp lực lớn đến điều hành giá cả và điều hành tài chính, tiền tệ trong nước, đặc biệt là

trong điều kiện hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn thấp Bên cạnh

đó, nước ta còn gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh bùng phát

Tổng quan nền kinh tế năm 2006 là năm các NHTM đạt được các kết quả nhất định

cả về nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng mà vẫn đảm bảo nền kinh tế ổn định,

kích thích tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiềm chế lạm phát ở mức thấp

2.2 Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam trong năm 2007:

2.2.1 Mặt được:

Tính đến cuối năm 2007, hệ thống ngân hàng của nước ta đã có tới 6 ngân hàng

thương mại nhà nước (NHTM NN), 37 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM CP), 31 chi

nhánh ngân hàng nước ngoài, 10 công ty cho thuê tài chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân

Năm 2007 cũng là năm các NHTM phát triển hệ thống mạng lưới (chi nhánh và các điểm

giao dịch) với tham vọng bành trướng thị phần bán lẻ, dịch vụ tài chính trung hạn

Sự tăng trưởng của hệ thống này tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng của toàn nền

kinh tế Đặc biệt là nhiều lĩnh vực kinh doanh mới như thương mại điện tử, bán lẻ, chứng

khoán, viễn thông, phụ thuộc rất lớn vào các dịch vụ ngân hàng

Độ sâu tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã tăng rất đáng kể, thể

hiện ở các chỉ số tổng tiền gửi/GDP và tổng dư nợ/GDP ngày càng tăng Nếu năm 2006

tổng tiền gửi/GDP là 78,4% so với mức 66,7% năm 2005 (tăng khoảng 12%), tín

dụng/GDP tăng khoảng 5% thì năm 2007 tốc độ tăng này đã mạnh hơn nhiều, chỉ số tăng

lần lượt là khoảng 92,4% và 84,6%

Xét về năng lực tài chính thể hiện ở quy mô vốn điều lệ, cũng có tốc độ tăng nhanh

hơn năm 2006 (năm 2006 vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng tăng 44% so với năm 2005,

Trang 9

thì năm 2007 tăng 54% so với 2006, nhất là khối NHTM nhà nước tăng 59%, vượt xa con

số 2% của năm 2006 so với 2005) Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng có sự tăng

trưởng nhanh về quy mô vốn, tài sản có trong năm 2007, đưa thị phần tín dụng và huy động

năm 2007 tăng khoảng 0,4% so với năm 2006, trong khi thời điểm trước năm 2006 thị

phần của khối này hầu như không thay đổi

Bên cạnh các chỉ số tài chính thể hiện tốc độ phát triển và độ sâu tài chính của hệ thống

ngân hàng trong năm 2007, chúng ta cũng thấy rõ tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

ở khía cạnh khác như mức độ sôi động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn Sự cạnh

tranh để chiếm lĩnh thị trường của các NHTM cũng khá gay gắt, thể hiện ở việc các đơn vị

đã mở thêm nhiều chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch

Xu hướng hình thành tập đoàn tài chính từ các NHTM đã có bước phát triển trong

năm 2007 Cùng với việc đa dạng hoá hoạt động ra nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, tài chính,

thuê mua tài chính , một số NHTM đang tích cực mở rộng thị trường ra nước ngoài

2.2.2 Mặt chưa được:

Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đáng ghi nhận nêu trên, hoạt động của khối ngân

hàng năm 2007 cũng xuất hiện những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro cần có biện pháp ngăn chặn

1 Về hoạt động tín dụng:

Đó là sự cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường bằng lãi suất, bằng việc nới lỏng điều kiện

vay vốn để mở rộng tín dụng (trong năm 2007 mức tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng

37%, vượt xa so với mức bình quân năm 2006)

Trong tăng trưởng tín dụng, đáng chú ý là một số NHTM đang mở rộng cho vay tiêu

dùng, vay mua bất động sản với những điều kiện rất hấp dẫn Mặc dù chưa có số liệu thông

kê đầy đủ mức cho vay trong lĩnh vực này, nhưng qua những sản phẩm dịch vụ mở ra cùng

với nhu cầu tiêu dùng gia tăng thấy cho vay tiêu dùng và bất động sản đang có xu hướng

tăng nhanh

2.Về sản phẩm ngân hàng:

- Một năm sau WTO, chúng ta dường như không cảm nhận được một đột phá nào về

sản phẩm ngân hàng, quanh đi quẩn lại vẫn là những cải tiến cho những sản phẩm đã có

- Những sản phẩm tài chính cá nhân phổ biến ở các nước khác, kết hợp những biến

động từ đầu tư, giá cả vào sản phẩm ngân hàng truyền thống như sản phẩm phức hợp

(structured products), hợp đồng hưởng chênh lệch (CFD) đều không có, còn sản phẩm

phái sinh thì chả thấy phát triển gì

- Nếu cho rằng tại những cái đó cao cấp quá, mình không phát triển được, thì e rằng

không hợp lý Những cái này nước người ta phát triển đã nhiều năm, nhiều nước châu Á

như Hàn Quốc, Singapore đều có, mình không có, nghĩa là mình đi sau quá lâu, và còn

đang muốn tiếp tục đi sau

- Ngay cả những sản phẩm phục vụ thanh toán thương mại điện tử, và những thanh

toán thông thường cũng chưa có gì đột phá So với mức độ nóng của nền kinh tế, thì những

con số về tỷ lệ người dùng thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán thẻ, tiện ích hỗ trợ giao dịch

điện tử dường như chưa tương xứng

- Một minh chứng nữa của việc chậm trễ và thiếu nhạy bén là trong giai đoạn vàng

tăng giá, dường như chỉ có ACB đưa ra sản phẩm mới để thích ứng với tình hình Các ngân

hàng khác, kể cả nhiều ngân hàng có tiềm lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh

vàng và ngoại tệ, tỏ ra quá thận trọng và thụ động trong việc thiết kế sản phẩm mới

Trang 10

3.Về khía cạnh pháp lý:

- Để quản lý ngành ngân hàng Đã có nhiều bài báo công khai chỉ rõ cái hạn chế của

việc dùng “nghị định thay luật”, dùng “giấy phép con” dưới dạng các quyết định, chỉ thị

trong quản lý ngành ngân hàng

- Đó là chưa kể cách chúng ta quản lý ngành ngân hàng theo kiểu “một cho tất cả”,

bất kể ngân hàng tiềm lực mạnh, yếu, năng lực quản trị rủi ro, lợi nhuận thế nào Tình hình

như vậy cho thấy chúng ta lúng túng và đi sau diễn biến thị trường khá xa trong quản lý

Điều này là hết sức nguy hiểm đối với ngành Ngân hàng, một lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro

- Với chỉ thị 03 siết lại cho vay cầm cố chứng khoán và cảnh báo của NHNN trước

việc nhiều NH lao vào chứng khoán đã khiến hàng lọat NH đổ vốn vào bất động sản

- Theo báo cáo của NHNN, Chi nhánh TPHCM, tổng dư nợ cho vay BĐS của 57 NH

tính đến cuối năm 2007 tại TPHCM đạt 34.643 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,74%/tổng dư nợ

cho vay của tòan hệ thống

- Nhưng nguồn tin của chúng tôi cho biết con số này có thể lên đến 45.000-50.000 tỷ

đồng Đây được xem là một trong những lý do chính khiến tăng trưởng tín dụng năm 2007

đạt 38%, và không ít NH cổ phần thông báo lãi từ 500- 1.000 tỷ đồng trong năm 2007

Nếu như vào thời điểm cuối năm 2006, tính thanh khoản là vấn đề nóng đối với

ngân hàng Còn sang năm mới 2007, lãi suất sẽ trở lại vòng quay cạnh tranh khốc liệt Tuy

nhiên, năm 2007, áp lực tăng lãi suất không nóng bỏng như năm 2006 Vậy nguyên nhân

từ đâu?

Năm 2006, lãi suất tăng trong khi vốn khả dụng của nhiều ngân hàng dư thừa đã

khiến cho các ngân hàng không vội vàng đua tranh tăng lãi suất Ngay từ đầu năm 2007,

người ta còn thấy một số ngân hàng giảm giá dịch vụ, giảm lãi suất cho vay, khuyến mãi

cho khách đến vay- một cử chỉ khá hiếm hoi trước đây, chứng tỏ họ đang không thiếu vốn

Bên cạnh đó, đầu năm 2007, NHNNVN tiếp tục duy trì các mức lãi suất chủ đạo; áp

lực tăng lãi suất trên thị trường thế giới cũng giảm bớt, đặc biệt là lãi suất USD

Tóm lại trong năm 2007 là một năm mà NH và giới kinh doanh BĐS quá thành công và

thu lợi nhuận khổng lồ từ địa ốc, cho thấy ngành ngân hàng Việt Nam vẫn đang phát triển

thuận lợi, nhưng lại hàm chứa nhiều sóng ngầm Mục đích chính dẫn đến những tình trạng

trên trong ngành ngân hàng là đặt lợi nhuận lên đầu

2.3 Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam trong năm 2008:

Năm 2007, thị trường ngân hàng chứng kiến sự bùng nổ về tăng trưởng tín dụng (tăng

51,39%), trong đó tăng trưởng mạnh ở các nghiệp vụ cho vay đầu tư bất động sản, chứng

khoán và tín dụng tiêu dùng

Bước sang năm 2008, đây là năm đầy “sóng gió” của thị trường tiền tệ và hoạt động ngân

hàng, nhưng với những bước đi vừa thận trọng, quyết liệt, vừa linh hoạt, táo bạo ngành

Ngân hàng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn, thách thức chưa từng có để giữ ổn định

thị trường tiền tệ và bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời góp phần quan trọng kiềm chế

thành công lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bước đầu ngăn chặn đà suy giảm kinh tế của

nước ta.

2.3.1 Mặt được:

1 Sử dụng biện pháp phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc để hút tiền về từ lưu

thông (Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008)

Ngày đăng: 23/07/2014, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w