1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai potx

15 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 399,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung một dự án đầu tư thường bao gồm các nội dung chính như sau: + Giới thiệu chung về khách hàng vay vốn và về dự án, + Phân tích sự cần thiết phải đầu tư dự án, + Phân tích sự kh

Trang 1

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 1 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

1 Cơ sở lý luận về thẩm định và quyết định cho vay trung và dài hạn:

1.1 Mục tiêu, đối tượng thẩm định tín dụng trung và dài hạn

Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 cho đến 5 năm Tín dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm Ngân hàng cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn cho khách hàng nhằm mục đích tài trợ cho đầu tư vào tài sản cổ định hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn

để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy đại đa

số các khoản tín dụng trung và dài hạn nhằm mục đích đầu tư vào các dự án đầu tư

Khi có nhu cầu vay vốn trung hoặc dài hạn, khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng hồ

sơ dự án đầu tư vốn dài hạn, thay vì gửi cho ngân hàng phương án sản xuất kinh doanh hoặc kế hoạch vay vốn như khi vay ngắn hạn Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét và quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn hay không Nhìn chung một dự án đầu

tư thường bao gồm các nội dung chính như sau:

+ Giới thiệu chung về khách hàng vay vốn và về dự án,

+ Phân tích sự cần thiết phải đầu tư dự án,

+ Phân tích sự khả thi về mặt tài chính của dự án,

+ Phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của dự án

Trong những nội dung trên, phân tích sự khả thi về tài chính của dự án cực kỳ quan trọng

vì dựa vào đây ngân hàng có thể phân tích và đánh giá khả năng trả nợ và lãi của khách hàng Để thấy được sự khả thi về tài chính của dự án, khách hàng phải nêu bật được những căn cứ sau:

+ Phân tích và đánh giá tình hình nhu cầu thị trường và giá cả tiêu thụ để làm căn cứ dự báo doanh thu từ dự án

+ Phân tích và đánh giá tình hình thị trường và giá cả chi phí để làm căn cứ dự báo chi phí đầu tư ban đầu và chi phí trong suốt quá trình hoạt động của dự án

+ Phân tích và dự báo dòng tiền ròng thu được từ dự án

+ Xác định các chỉ tiêu (NPV, IRR, PP) dùng để đánh giá và quyết định sự khả thi về tài chính của dự án

+ Nếu dự án lớn và phức tạp cần có thêm các phân tích về rủi ro thực hiện dự án như phân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng

Tóm lại, đối tượng cần thẩm định khi cho vay dự án là tính khả thi của dự án về mặt tài chính Mục tiêu thẩm định là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng sinh lợi của một

dự án, qua đó, xác định được khả năng thu hồi nợ khi ngân hàng cho vay để đầu tư vào dự án đó

1.2 Các nội dung thẩm định tín dụng trung và dài hạn

Thẩm định tín dụng trung và dài hạn thực chất là thẩm định dự án đầu tư, do khách hàng lập

và nộp cho ngân hàng khi làm thủ túc vay vốn, dựa trên quan điểm của ngân hàng Nhiệm vụ của

Trang 2

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 2 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

nhân viên tín dụng khi thẩm định dự án là phát hiện những điểm sai sót, những điểm đáng nghi ngờ hay những điểm chưa rõ rang của dự án và cùng với khách hàng thảo luận, làm sang tỏ them nhằm đánh giá chính xác và trung thực được thực chất của dự án Để có sự phối hợp tốt với khách hàng, nhân viên tín dụng cần nắm vững quy trình lập và phân tích dự án đầu tư của khách hàng Quy trình phân tích và ra quyết định đầu tư của khách hàng có thể được mô tả bẳng sơ đồ sau:

Hình 1.1: Quy trình lập, phân tích và quyết định đầu tư dự án

1.2.1 Thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu:

Các thông số dự báo thị trường là những thong số dung căn cứ để dự báo tình hình thị trường và thị phần của doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị trường; qua đó, có thể ước lượng được doanh thu của dự án Do vậy, mức độ chính xác của doanh thu ước lượng phụ thuộc rất lớn vào những thông số này Các thông số dự báo thị trường sử dụng rất khác nhau tuỳ theo từng ngành cũng như từng loại sản phẩm Nhìn chung, các thông số thường gặp bao gồm:

+ Dự báo tăng trưởng của nền kinh tế,

+ Dự báo tỷ lệ lạm phát,

+ Dự báo tỷ giá hối đoái,

+ Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu,

+ Dự báo tốc độ tăng giá,

+ Dự báo nhu cầu thị trường về loại sản phẩm dự án sắp đầu tư,

+ Ước lượng thị phần của doanh nghiệp,

+ Ngoài ra, còn có nhiều loại thông số dự báo khác nữa tuỳ theo từng dự án, chẳng hạn như công suất máy móc thiết bị, …

Nhìn chung, các loại thông số trên có thể chia thành các thông số có thể thu thập được từ

dự báo kinh tế vĩ mô và các thông số chỉ có thể thu thập từ kết quả nghiên cứu thị trường

1.2.2 Thẩm định các thông số xác định chi phí:

Tương tự như dự báo thị trường và doanh thu, cũng có các thông số dung để làm căn cứ

dự báo chi phí hoạt động dự án, và nó cũng phụ thuộc vào đặc điểm của từng dự án Thông thường các thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toán quản trị ước lượng và đưa ra Các thông số dung để làm cơ sở xác định chi phí thường thấy bao gồm:

+ Công suất máy móc thiết bị,

Xác định dự án:

Tìm cơ hội và đưa ra đề

nghị đầu tư vào dự án

Đánh giá dự án: Ước lượng

ngân lưu liên quan và suất chiết khấu hợp lý

Lựa chọn tiêu chuẩn quyết định: Lựa chọn luật quyết

định (NPV, IRR, PP)

Ra quyết định:

Chấp nhận hay từ chối dự án

Trang 3

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 3 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

+ Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động, …,

+ Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, …, + Phương pháp khấu hao, tỷ lệ khấu hao,

+ Ngoài ra còn có nhiều loại thông số dự báo khác nữa tuỳ theo từng dự án

Việc thẩm định mức độ tin cậy của các thông số này thật chẳng đơn giản Để vượt qua khó khăn này và hoàn thành tốt công việc thẩm định các thông số dùng để dự báo chi phí hoạt động của dự án

Để thẩm định thông số dự báo thị trường, doanh thu và xác định chi phí được tốt thì nhân viên tín dụng nên làm những việc sau:

+ Nhận thẩm định dự án thuộc những ngành nào mà mình có kiến thức và am hiểu kỹ về tình hình chi phí hoạt động của ngành đó,

+ Tổ chức tốt cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông tin liên quan đến chi phí hoạt động của ngành mà mình phụ trách,

+ Liên hệ các thông số của dự án đang thẩm định với các thông số tương ứng ở các dự án

đã triển khai hoặc cơ sở sản xuất tương tự đang hoạt động,

+ Viếng thăm, quan sát, thảo luận và trao đổi thêm với các bộ phận liên quan của doanh nghiệp để có thêm thông tin, hình thành kỳ vọng hợp lý về các thông số đang thẩm định

1.2.3 Thẩm định dòng tiền hay ngân lưu của dự án:

Ngân lưu hay dòng tiền tệ là bảng dự báo thu chi trong suốt thời gian tuổi thọ của dự án,

nó bao gồm những khoản thực thu hay dòng tiền vào (inflows) và thực chi hay dòng tiền ra (outflows) của dự án tính theo từng năm

Khi phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án, chúng ta sử dụng dòng tiền kỳ vọng chứ không sử dụng lợi nhuận như là cơ sở để đánh giá dự án, vì lợi nhuận không phản ánh chính xác thời điểm thu và chi tiền của dự án, vì vậy không phản ánh một cách chính xác tổng lợi ích của dự án theo thời giá tiền tệ

Thẩm định cách thức xử lý các loại chi phí ước lượng ngân lưu: Thông thường, nhân

viên tín dụng cần chú ý các xử lý các loại chi phí sau: Chi phí cơ hội, chi phí chìm, chi phí lịch

sử, nhu cầu vốn lưu động, thuế thu nhập công ty, các chi phí gián tiếp, dòng tiền tăng thêm

Thẩm định cách xử lý lạm phát: khi thẩm định cần chú ý xem khách hàng có xử lý lạm

phát ảnh hưởng đồng thời lên doanh thu và chi phí khi ước lượng ngân lưu hay không Thường khách hàng hoặc là bỏ qua yếu tố lạm phát, hoặc là xử lý lạm phát như là yếu tố làm tăng giá bán, do đó tăng doanh thu mà vô tình hay cố ý bỏ qua yếu tố lạm phát làm tăng chi phí đồng thời với tăng doanh thu

Tách biệt quyết định đầu tư và quyết định tài trợ: Dự án có thể được thực hiện một

phần từ vốn vay, một phần từ vốn cổ đông Tuy nhiên, khi thẩm định để quyết định cho vay

Trang 4

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 4 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

chúng ta đánh giá hiệu quả của dự án dựa trên quan điểm của ngân hàng hay quan điểm tổng đầu tư, chứ không phải dựa trên quan điểm của chủ đầu tư

1.2.4 Thẩm định chi phí sử dụng vốn:

Một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến việc ra quyết định đầu tư là suất chiết khấu của dự án Một dự án có NPV dương khi suất sinh lời mang lại từ dự án vượt quá suất sinh lời yêu cầu đối với dự án Suất sinh lời yêu cầu của một dự án phải bằng với suất sinh lời mang lại từ việc đầu tư vào một tài sản có độ rủi ro tương đương trên thị trường tài chính.Vì vậy suất sinh lời yêu cầu tối thiểu chính là chi phí sử dụng vốn của dự án

Suất chiết khấu chính là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, là cái giá mà công ty phải trả khi đầu tư vào dự án hay suất sinh lời mà các nhà đầu tư đòi hỏi từ chứng khoán của công ty, nếu rủi ro của dự án bằng rủi ro của công ty

Chi phí sử dụng vốn bộ phận là chi phí công ty hoặc dự án phải trả khi huy động nguồn vốn đó Chi phí sử dụng vốn bộ phận bao gồm hai loại cơ bản: Chi phí sử dụng nợ và chi phí sử dụng vốn của chủ sở hữu (vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường)

1.2.5 Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án và quyết định đầu tư:

- Thẩm định cách tính chỉ tiêu hiện giá ròng (NPV): đây là chỉ tiêu cơ bản dung để

đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư vì nó thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án đem lại cho công ty Giá trị hiện tại ròng (NPV) là tổng hiện giá ngân lưu ròng của dự án với suất chiết khấu thích hợp Công thức xác định hiện giá ròng NPV như sau:

NCFt NPV =

n

t = 0 (1 + r) t

trong đó NCFt là ngân lưu ròng năm t, r là suất chiết khấu của dự án, và n là tuổi thọ của dự án

Ý nghĩa kinh tế của chi tiêu NPV như sau:

+ NPV > 0: Dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn

+ NPV = 0: Dự án có suất sinh lời bằng với chi phí cơ hội của vốn

+ NPV < 0: Dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội của vốn

- Thẩm định cách tính và sử dụng chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ (IRR): suất sinh lời nội

bộ là suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0 Để xác định suất sinh lời nội bộ IRR, chúng ta giải phương trình:

NCF t NPV =

n

t = 0 (1 + IRR) t

= 0

Suất sinh lời nội bộ (IRR) chính là suất sinh lời thực tế của dự án đầu tư Vì vậy một dự

án được chấp nhận khi suất sinh lời thực tế của nó (IRR) bằng hoặc cao hơn suất sinh lời yêu cầu (suất chiết khấu)

- Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (PP): là thời gian để ngân lưu tạo ra từ dự án đủ bù

đắp chi phí đầu tư ban đầu

Trang 5

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 5 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

n

∑ NCF t

t = 0

(1 + i) t

- Suất sinh lời bình quân trên giá trị sổ sách: được xác định dựa vào lợi nhuận ròng

bình quân hàng năm chia cho giá trị sổ sách ròng bình quân của vốn đầu tư

- Tiêu chuẩn chỉ số lãi của đầu tư (PI): là tỷ số giữa tổng hiện giá của lợi ích ròng chia

cho tổng hiện giá của chi phí đầu tư ròng của dự án

∑ PV t (1 + i) - t NPV 0 + PV 0

∑ PV (Chi phí đầu tư ròng) = PV 0

2 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung - dài hạn tại Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai

2.1 Giới thiệu về VIBank chi nhánh Đồng Nai và khách hàng tiềm năng của VIBank:

VIBank là một trong những định chế tài chính hàng đầu ở Việt Nam chuyên cung cấp các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng cá nhân và dịch vụ ngân hàng định chế Đứng thứ 4 trong số các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu ở Việt Nam xét về phương diện quy mô tổng tài sản tính đến 31/12/2007, tính đến 31/12/2007, vốn điều lệ của VIBank đạt 2.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 40.000 tỷ đồng Các cổ đông sáng lập bao gồm Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam, các cá nhân và doanh nhân thành công ở trong và ngoài nước

VIBank chi nhánh Đồng Nai được thành lập năm 2006, nhằm đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng, với khách hàng là cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Do đặc điểm của Tỉnh Đồng Nai là vùng chuyên canh cây công nghiệp (cà phê, điều, cao su, …) và cây hoa quả, đồng thời cũng là tỉnh phát triển mạnh về khu công nghiệp và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Khu vực Đông Nam Bộ, nên các nghành nghề đầu tư chủ yếu là kinh doanh lương thực, chế biến hàng nông sản, da giầy, may mặc, điện tử, chế biến gỗ, Mặc khác, tính đến cuối năm 2008, tỉnh Đồng Nai đã có 29 KCN tập trung được thành lập với 33 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tư với tổng số 1.078 dự án, trong đó có 807

dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 11.843,11 triệu USD và 271 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư 22.643,80 tỷ đồng Tình hình triển khai dự án cụ thể như sau:

- Dự án có vốn đầu tư nước ngoài:

+ Dự án đang hoạt động: 644 dự án với vốn đăng ký là 10.221,89 triệu USD

+ Dự án đang xây dựng: 46 dự án với vốn đăng ký là 377,15 triệu USD

+ Dự án chưa triển khai xây dựng: 117 dự án với vốn đăng ký là 1.244,08 triệu USD

Trang 6

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 6 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

- Dự án có vốn đầu tư trong nước:

+ Dự án đang hoạt động: 179 dự án với vốn đăng ký là 16.373,27 tỷ đồng

+ Dự án đang xây dựng: 25 dự án với vốn đăng ký là 2.476,85 tỷ đồng

+ Dự án chưa triển khai xây dựng: 67 dự án với vốn đăng ký là 3.793,68 tỷ đồng

Vì vậy, với điều kiện thuận lợi như trên, tiềm năng về khách hàng của VIBank chi nhành Đồng Nai là rất lớn

2.2 Thực trạng công tác thẩm định và quyết định cho vay trung - dài hạn của VIBank chi nhánh Đồng Nai

Một số chỉ tiêu về nguồn vốn và dư nợ mà VIBank chi nhánh Đồng Nai trong hoạt động kinh doanh:

Dư nợ theo thời gian cho vay:

Dư nợ theo thành phần kinh tế:

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.845 2.078 +12,62%

- Hộ sản xuất, hộ gia đình, cá nhân 818 1.194 -46,0%

Trang 7

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 7 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

* Quy trình cho vay đối tượng là hộ, cá nhân hay các doanh nghiệp của chi nhánh thông thường thực hiện theo các bước:

- Tiếp nhận, hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ vay vốn

- Kiểm tra hồ sơ và mục đích vay vốn

- Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án vay vốn

- Kiểm tra, xác minh thông tin

- Phân tích ngành

- Phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn

- Dự kiến lợi ích cho ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt

- Phân tích, thẩm định phương án vay vốn/ dự án đầu tư

- Các biện pháp bảo đảm tiền vay

- Lập báo cáo thẩm định cho vay

- Tái thẩm định khoản vay

- Xác lập phương thức và nhu cầu cho vay

- Xem xét khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán của chi nhánh

- Phê duyệt khoản vay

- Ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và giao nhận giấy tờ, tài sản đảm bảo (nếu có)

- Tuân thủ thời gian thẩm định, xét duyệt cho vay

- Giải ngân

- Kiểm tra, giám sát khoản vay

- Thu nợ lãi, gốc và xử lý những phát sinh

- Thanh lý hợp đồng tín dụng

- Giải toả tài sản bảo đảm (nếu có)

* Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt để tạo ra lợi nhuận cho chi nhánh trong kinh doanh tiền tệ, trên bảng số liệu cho thấy hoạt động cho vay luôn chiếm trên 80% tài sản có của ngân hàng, dư nợ cho vay tăng dần với các loại hình cho vay cũng trở nên đa dạng (cho vay từng lần, hạn mức, cho vay trả góp, cho vay dưới hình thức thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay hợp vốn ) bởi chỉ có tiền lãi thu được từ cho vay mới bù nổi các chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại , chi phí rủi

ro đầu tư Tuy nhiên từ quy trình cho vay thể hiện những mặt đạt được cũng như các bất cập trong quá trình thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn của chi nhánh

Trang 8

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 8 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

A/ Các mặt đạt được:

- Chi nhánh đã chấp hành tương đối tốt các quy định về việc cho vay khách hàng theo các văn bản quy định hiện hành của ngân hàng quốc doanh (VIBank) Riêng các khoản cho vay cầm cố giấy tờ có giá đều có đầy đủ vật cầm, mệnh giá các giấy tờ có giá đều đảm bảo cho khoản vay, quy trình, thủ tục cầm cố thực hiện đúng theo quy định

- Trong cho vay chú trọng đến đối tượng cho vay, chất lượng thẩm định dự án, phương

án sản xuất kinh doanh, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, tuân thủ tốt các quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay, thực hệin bảo lãnh đúng theo quy trình và quy định

- Thực hiện tốt việc phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro theo quy định tại quyết định 493/QĐ; Quyết định số 18, số 636/QĐ-HĐQT-XLRR của hội đồng quản trị VIBank

B/ Một số bất cập trong quá trình thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn :

b1/ Hồ sơ pháp lý:

- Theo quy trình cấp tín dụng hiện hành, khi thiết lập quan hệ tiền vay, cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ phải đi thực tế đến tận nơi cư ngụ của khách hàng vay vốn để thu thập, tìm hiểu

về thân nhân, đánh giá uy tín, nguồn thu nhập chính, nhà xưởng, thiết bị, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính, thực trạng tài sản bảo đảm và các thông tin khác nhằm phân tích, đánh giá về khách hàng và hiệu quả của dự án xin vay vốn cảu khách hàng vấn đề trở nên khó khăn và mơ hồ đối với các khách hàng ở xa trụ sở của ngân hàng bởi cán bộ tín dụng không đủ thời gian và có sẵn đầu mối tin cậy để phân tích, nắm bắt hoặc dễ rơi vào sự sắp đặt trước của những khách hàng lừa đảo đồng thời chi phí cho một lần thẩm định như vậy cho một khách hàng mới của ngân hàng (việc xin vay vốn lần đầu hay vay lại cũng đều cần phải xem xét thực tế khách hàng) là khá lớn so với số tiền lãi dự kiến ngân hàng thu nếu duyệt khoản vay, các chi phí đó có thể là chi phí xăng xe đi lại, công tác phí, chi phí lưu trú cho cán bộ làm nhiệm vụ thẩm định, xét duyệt cho vay… trường hợp khách hàng vay vốn ở nhiều ngân hàng thì chi phí phát sinh của việc cùng tiến hành thẩm định của các ngân hàng cộng lại còn lớn hơn nhiều

- Hiện tại các KCN trên địa bàn Đồng Nai, mặc dù đã qua nhiều năm từ khi nhà nước có chủ trương định hướng phát triển KCN và đồng thời giao cho các công ty kinh doanh hạ tầng được phép thuê lại đất của Nhà nước và cho các nhà đầu tư đầu tư vào KCN thuê lại nhưng vấn

đề có tới 60% số doanh nghiệp đang đầu tư trong KCN được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy có rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh không đủ các giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn nhưng vẫn được ngân hàng giải quyết cho vay Trong trường hợp này, giấy tờ thế chấp là giấy xác nhận hợp đồng thuê đất tại Ban Quản lý các KCN Đồng Nai (đối với doanh nghiệp trong KCN) hoặc chính quyền địa phương (doanh nghiệp nằm ngoài KCN) về tình trạng tài sản hay đất không có tranh chấp về quyền sử dụng đối với thửa đất mà thuê lại từ công ty kinh doanh hạ tầng KCN Do đó, rủi ro dễ xảy ra tổn thất cho ngân hàng xảy ra khi doanh nghiệp vay không đủ khả năng trả nợ

Trang 9

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 9 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

- Thẩm định khách hàng chính xác nhằm góp phần hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng nên đòi hỏi cán bộ tín dụng cần có nhiều thông tin chính xác, đầy đủ về đối tượng thẩm định Tuy nhiên, do thiếu thông tin về khách hàng hoặc tình trạng che dấu bớt thông tin của cán bộ tín dụng mặc dù đã có sự hổ trợ của trung tâm cung cấp thông tin CIC nên tại chi nhánh xảy ra hàng loạt các sai sót như thiếu bổ nhiệm kế toán trưởng hoặc bổ nhiệm không đúng thẩm quyền, không xếp loại doanh nghiệp, giấy uỷ quyền của giám đốc cho phó giám đốc về việc vay vốn ngân hàng thiếu thời hạn uỷ quyền và mục đích vay vốn, thế chấp phương tiện vận chuyển không mua bảo hiểm…

b2/ Hồ sơ kinh tế:

- Chi nhánh luôn đặt tính hiệu quả của món vay lên hàng đầu và xem đó là điều kiện tiên quyết để cán bộ tín dụng thẩm định trình duyệt cho vay vốn tuy nhiên việc lấy dự án hay phương án làm căn cứ cho vay vốn đã bộc lộ những khó khăn nhất định vì thời gian qua chi nhánh đã gặp một số doanh nghiệp và cá nhân khi xây dựng phương án đã không trung thực, thường đưa ra các con số ảo, số mà làm ngân hàng rất khó tính toán, xác định cho vay Vì thế chi nhánh ngoài việc xem xét phương án còn ràng buộc khách hàng vay vốn phải có thêm tài sản đảm bảo tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể là của chính khách hàng vay vốn hoặc tài sản hình thành trong tương lai hay tài sản do bên thứ ba đứng ra bảo lãnh Tuy nhiên phương pháp xác định giá trị tài sản để cho vay là một vấn đề khó Trong nhiều năm nay ngân hàng thường áp dụng giá đất thực tế, sau đó cho vay với mức tối đa không quá 70% giá đất thực tế chuyển nhượng trên thị trường hiện tại chứ không dựa trên khung giá đất do UBND tỉnh Đồng Nai quy định Với cách tính này không có một khung giá cụ thể để áp giá , dễ gây cho cán bộ tín dụng có những cách hiểu khác nhau, hiểu sai vấn đề hay lợi dụng cách đánh giá theo giá thị trường để nâng cao giá đất thế chấp, gây rủi ro cho việc thu hồi vốn vay, nhất là việc vay thế chấp bất động sản trong năm 2008 đã để lại tổn thất lớn cho chi nhánh tại chi nhánh, nhiều hồ

sơ không có khả năng thu hồi nợ

- Phần lớn các hồ sơ vay của khách hàng, công tác đánh giá các chỉ tiêu về khả năng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, mức độ tín nhiệm, xếp loại khách hàng, quy mô hoạt động, tính chất sở hữu còn rất sơ sài và không chặt chẽ, chủ yếu là cán bộ tín dụng vẽ cùng với khách hàng để đưa ra con số hợp lý, không sai với quy định cho vay của ngân hàng Các doanh nghiệp hay các hộ sản xuất thường không đưa ra kế hoạch cụ thể cho việc sản xuất kinh doanh, điều này không thể xác định tiến độ thực hiện và kết quả đạt được của công việc kinh doanh khách hàng Trong quy trình cho vay , việc giải ngân chỉ được tiến hành khi khách hàng chứng minh đầy đủ chứng từ, hoá đơn sử dụng vốn vay tuy nhiên, hầu hết các khoản vay đều phớt lờ điều này khiến cho vốn vay sử dụng vốn không đúng mục đích sử dụng, không phản ánh tính lành mạnh cho khoản vay

- Việc thực hiện không nghiêm túc các điều kiện quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay theo các quyết định VIBank đã quy định, nhất là trong trường hợp cho vay không có tài sản bảo đảm như công ty Đông Quan, công ty Cheerfield Vina (KCN Long Bình) Sự hời hợt, chủ quan

Trang 10

GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 10 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển

trong phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng về mức độ đáp ứng các điều kiện vay vốn làm nảy sinh tình trạng “lỡ theo lao thì phải theo” Cán bộ tín dụng đánh giá và xếp loại khách hàng loại

A, cho vay tín chấp, cho vay không cần tài sản thế chấp và họ cho rằng uy tín là tài sản vô giá của mọi khách hàng., điều này không sai nhưng chưa đủ vì có ai dám chắc uy tín là bất nhất, nó

sẽ không bị suy giảm, đó là chưa kể vớ phải loại uy tín “ảo” Trường hợp này, chi nhánh đã nhận tài sản bảo đảm tiền vay với giá trị của tài sản nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm nhưng khách hàng vay chưa đáp ứng đủ điều kiện vay không có tài sản bảo đảm Bảo đảm theo loại hình thức này gây cho chi nhánh lúng túng, thiếu nhất nhát trong việc xét duyệt cho vay, thể hiện một cách mơ hồ bằng cách ghi chép theo kiểu hàng hai trong tờ trình thẩm định và trên hợp đồng tín dụng đại loại như : “có tài sản đảm bảo + không có tài sản đảm bảo” hay “thế chấp tài sản của khách hàng vay, tài sản của bên thứ ba và tín chấp” Như vậy, chi nhánh ngân hàng

đã sử dụng đồng thời biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản và biện pháp bảo đảm tiền vay không có tài sản trong một hợp đồng tín dụng là để che dấu hành vi cho vay vượt giá trị tài sản bảo đảm Đồng thời khách hàng vay vốn tại nhiều ngân hàng Vì thế khoản nợ của công ty Chefleer không thể hoàn trả lên đến 550.000 USD

- Ngoài ra, cơ sở để đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung, biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có tài sản nói riêng không ít cán bộ tín dụng chị dựa vào nguồn số liệu khách hàng cung cấp, chưa có sự kiểm chứng giữa các sổ sách kế toán và thực tế kiểm kê Nhiều cán bộ tín dụng phân tích, đánh giá chưa đi vào chiều sâu cho nên kết quả thẩm định thường đi ngược lại vời thực tế khách hàng vay Nhiều trường hợp khách hàng vay có các chỉ tiêu tài chính rất khả quan: doanh số hoạt động tăng qua mỗi năm, doanh thu và lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước nhưng khách hàng vẫn không trả được

nợ vay vì nguồn số liệu mà cán bộ tín dụng sử dụng để tính toán với các số liệu không chính xác hoặc nguồn số liệu đã quá xa so với thời điểm vay vốn nên hiệu quả thẩm định thấp, thậm chí mất tác dụng kết quả cuối năm, nhóm khách hàng vay này tại chi nhánh hầu hết rơi vào trạng thái suy giảm về mặt tài chính, kinh doanh kém hiệu quả, nếu không tiếp tục được vay thì không thể trả được nợ cũ nên kiếm cách trì hoãn gửi báo cáo tài chính bằng cách đánh bóng lại số liệu, đôi khi có sự tiếp tay của cán bộ tín dụng

- Tình trạng đặt nặng yếu tố tài sản để xem xét quyết định cho vay đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người vay, nhất là khách hàng mới có quan hệ lần đầu, nhóm khách hàng chưa đủ niềm tin trong quan hệ tín dụng, một số khách hàng là các công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp tư nhân, khiến họ cảm nhận sự rắc rối và nhiêu khê của đơn vị ngân hàng thương mại nhà nước Người cho vay đều thừa nhận tài sản bảo đảm là nguồn thu thứ hai nếu khách hàng gặp rủi ro trong làm ăn, không còn khả năng thanh toán Tuy nhiên tình trạng thiên về tài sản bảo đảm, coi đây là yếu tố quan trọng cho vay đôi khi quá khắt khe mà không đặt hiệu của

dự án, phân tích đánh giá nguồn thu của khách hàng từ dự án cấp vốn sẽ gây không ít phiền phức cho khách mà còn đánh mất cơ hội đầu tư, nhất là các nhóm khách hàng được đánh giá là

có dự án tốt nhưng bị từ chối trong thời gian qua như: các công ty có quy mô hoạt động lớn

Ngày đăng: 23/07/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm