1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Hệ thống Ngân hàng Thương mại potx

20 200 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 463,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả, và sử dụng số tiền này để cấp

Trang 1

Đề tài Hệ thống Ngân hàng Thương mại

Trang 2

Phần 1: Lý thuyết chung về hệ thống Ngân hàng Thương mại

1.1./- Khái niệm Ngân hàng thương mại

- NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng (cho vay), thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và dịch vụ ngân hàng

Như vậy, qua khái niệm đã khẳng định Ngân hàng thương mại là một doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ Các nghiệp vụ trên của ngân hàng được thực hiện một cách thường xuyên và bản thân ngân hàng, không phải chỉ là người môi giới trung gian tín dụng, vì vậy trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải chịu trách nhiệm về các nghiệp vụ độc lập của mình Ngoài ra, NHTM còn có một số đặc trưng khác, đó là:

- NHTM là đối tượng và đồng thời là các trung gian chuyển tải chính sách tiền tệ Thông qua các hoạt động có tính chất đặc thù của mình, các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng chuyển tải chính sách tiền tệ từ NHTW (ở Việt Nam là NHNN) đến toàn

bộ nền kinh tế Như vậy cho thấy các NHTM thực sự trở thành một kênh đặc biệt, qua đó

mà ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ lên toàn bộ nền kinh tế

- Phân bổ tín dụng: Đây cũng là lý do làm cho NHTM trở nên đặc biệt vì các NHTM là nguồn chính tài trợ, cung cấp tín dụng cho một số lĩnh vực nhất định, được xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn Ở hầu hết các nước trên thế giới, những nhà làm chính sách luôn xác định các lĩnh vực cần được trợ giúp về vốn để phát triển Ở nước ta hiện nay vốn tín dụng ngân hàng được tập trung vào thực hiện các mục tiêu, chương trình lớn của Đảng và Nhà nước như: chương trình phát triển nông nghiệp – nông thôn, chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình CNH - HĐH đất nuớc…

- Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán cũng là đặc thù của NHTM, tín hiệu quả của dịch vụ này đã đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế Chúng ta thấy rằng, trong thực tế bất kỳ một trục trặc nào trong hệ thống thanh toán của ngân hàng cũng đủ gây sự

bế tắc và thiệt hại cho nền kinh tế

Để có thể hiểu rõ tầm quan trọng của các NHTM trong nền kinh tế, cần thiết phải

đi sâu vào nghiên cứu các chức năng cơ bản của nó

1.2/- Chức năng của Ngân hàng thương mại

NHTM có các chức năng chủ yếu sau đây:

1.2.1 Chức năng mở rộng tín dụng:

Chức năng chủ yếu và quan trọng bậc nhất của NHTM là mở rộng tín dụng phải dựa vào các điều kiện và nguyên tắc tín dụng, áp dụng với các khách hàng đáng tin cậy Chức năng này được hình thành rất sớm từ khi các NHTM ra đời đến nay Vì NHTM là

tổ chức trung gian tín dụng, cho nên quan hệ tín dụng là quan hệ trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu về vốn khó tìm được người có khả năng cung cấp Do vậy, sự ra đời và đi vào hoạt động của các NHTM đã khắc phục hạn chế nói trên, đứng ra tập trung tiền tệ chưa sử dụng thông qua việc huy động vốn của tất cả các chủ thể

Trang 3

trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu cần bổ sung vốn tạm thời

Từ phân tích trên có thể nói ngân hàng vừa là “người đi vay” vừa là “người cho vay”, hay nói cách khác nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng là đi vay để cho vay

Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và các

cá nhân hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong toàn xã hội Trái lại với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung cấp tín dụng cho các nhà doanh nghiệp, cá nhân

Cũng cần phải khẳng định rằng trong nền sản xuất hàng hoá phát triển, chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phần lớn các quan hệ tín dụng được tập trung vào ngân hàng, còn đối với các doanh nghiệp thì nguồn tín dụng do các NHTM cung cấp đã trở nên phổ biến và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong kết cấu tổng nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp

Bên cạnh tín dụng ngắn hạn, NHTM còn thực hiện tín dụng trung, dài hạn nhằm

mở rộng và nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, hoặc cho Chính phủ vay trong trường hợp ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt, thông qua việc mua các chứng khoán tài chính công cộng, ví dụ như mua trái phiếu kho bạc do Chính phủ phát hành

Đặc biệt với năng lực của hệ thống NHTM trong việc tạo tiền không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân các NHTM, mà còn có ý nghĩa to lớn hơn: với một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực kỳ quan trọng như là người mở đầu, người tham gia và có khi như là người nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất

Thực tế trong đời sống, kinh tế cho thấy, trong mỗi doanh nghiệp, mỗi một thành viên trong xã hội quá trính tích luỹ và sử dụng vốn luôn luôn diễn ra không trùng khớp và không giống nhau, có lúc tạm thời thừa vốn, có lúc xuất hiện nhu cầu bổ sung vốn Để góp phần khắc phục tình trạng này, vai trò của NHTM chiếm một vị trí rất quan trọng, nhằm sử dụng tốt nhất vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp và cá nhân, rộng hơn

ra là của cả nền kinh tế, đồng thời bổ sung kịp thời nhu cầu thiếu vốn

1.2.2 Chức năng tạo tiền:

Tạo tiền của NHTM là hoạt động của cá hệ thống NHTM trong việc sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay, là làm cho tiền thông qua hệ thống NHTM phục vụ chu chuyển một khối lượng hàng lớn gấp nhiều lần

Số tiền lớn lên qua hệ thống NHTM được xác định theo công thức:

1

n  

Tỷ lệ Dự trữ bắt buộc

Vì vậy, thông qua việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối các NHTM là biết được

số lần tiền lớn lên qua hệ thống NHTM Chức năng này được thực hiện thông qua các

Trang 4

hoạt động tín dụng và đầu tư, trong mối liên hệ chặt chẽ với NHTW của mỗi nước (Ở Việt Nam là NHNN Việt Nam)

Để tạo điều kiện cho sự gia tăng các hoạt độ tín dụng và đầu tư của các NHTM, vấn đề đặt ra là bản thân các NHTM, bằng các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống phải tạo mọi khả năng để tăng trưởng nguồn vốn, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng nền kinh

tế

Việc thực hiện chức năng tạo tiền, xét trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì bao giờ và lúc nào cũng phải tuân thủ một nguyên tắc hết sức quan trọng là cung tiền tệ phải vừa đủ nhu cầu phát triển kinh tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế dự kiến Nếu như vô tình hay hay cố ý dẫn đến lượng tiền cung ứng quá nhanh, NHNN không điều tiết được khối lượng tiền tệ trong lưu thông, trong đó có việc sử dụng công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với NHTM thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát hoặc thiểu phát và dĩ nhiên nền kinh

tế phải gánh chịu hậu quả này Do vậy, càng cho thấy rằng các NHTM có vai trò hết sức quan trọng góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

1.2.3 Chức năng thanh toán:

Cùng với chức năng tạo tiền, các NHTM còn thực hiện chức năng cũng có tầm quan trọng khác là đưa ra các cơ chế thanh toán trong nền kinh tế Hiện nay, ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, đa số công tác thanh toán được thông qua séc, phần lớn thanh toán ở trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ, thông qua hệ thống NHTM

Trong quá trình từng bước hiện đại hoá công nghệ, các NHTM nhanh chóng đầu

tư trang bị đầy đủ hệ thống máy tính và các phương tiện kỹ thuật khác và do vậy đã làm cho quá trình thực hiện thanh toán trở nên nhanh chóng, đạt độ chính xác cao, đồng thời giảm bớt được chi phí

Trước những bước phát triển mới của khoa học công nghệ trên thế giới hiện nay, phần lớn các nước có những đổi mới quan trọng theo hướng hoạt động ngân hàng không dùng séc, nghĩa là người ta đã sử dụng hình thức chuyển tiền điện tử, hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang áp dụng hình thức thanh toán này đã đưa đến việc không

sử dụng dần séc ngân hàng, mà vốn đã được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài Các NHTM đã đưa vào thực nghiệm có kết quả một hệ thống sử dụng thẻ, giống như thẻ tín dụng Từ đó có thể tiến hành nối mạng các máy vi tính của các NHTM trong nước để thực hiện thanh toán một cách dễ dàng, nhanh chóng, tiện lợi

1.2.4 Chức năng huy động tiết kiệm:

Huy động tiết kiệm đã trở thành một chức năng quan trọng và hết sức cần thiết của NHTM, một mặt tạo điều kiện đầu tư vào sản xuất, kinh doanh hưởng lợi, gửi vào các NHTM để có khoản thu nhập danh nghĩa thông qua lãi suất, với mức độ an toàn và khả năng chi trả cao Với số vốn huy động được, các NHTM sử dụng vào việc đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất cũng như dùng vào mục đích cá nhân khác Phần lớn tiền gởi tiết kiệm được thực hiện thông qua hệ thống NHTM

Trang 5

1.2.5 Chức năng tài trợ ngoại thương:

Xuất phát từ những đặc điểm trong hoạt động ngoại thương, thể hiện qua sự khác nhau về hệ thống tiền tệ ở mỗi nước, năng lực tài chính của người mua và người bán ở các quốc gia cũng khác nhau Chính từ sự khác nhau này, các NHTM cần thiết cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đối với các hoạt động ngoại thương như: tín dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh XNK, tín dụng thư, mua và bán séc du lịch…

Do quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng mạnh mẽ, việc giao lưu trao đổi mua bán giữa các nước trong khu vực và quốc tế tăng nhanh Cho nên nghiệp

vụ tài trợ ngoại thương của các NHTM không ngừng phát triển

1.2.6 Dịch vụ uỷ thác:

Với quá trình phát triển kinh tế và đã tăng tưởng kinh tế ngày càng cao sẽ dẫn đến thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng lên tạo ra khả năng tích luỹ lành mạnh Trong bối cảnh như vậy, mỗi cá nhân có thể có một khối lượng tài sản giá trị lớn, làm xuất hiện nhu cầu muốn phân chia tài sản trước khi qua đời, từ đó làm phát triển các dịch vụ uỷ thác của các NHTM Qua hình thức uỷ thác, người ủy thác sẽ viết di chúc đó Các văn phòng ủy thác có trách nhiệm sử dụng vốn để đầu tư quản lý số vốn này, kể cả việc phân phối thu nhập, theo các điều khoản ghi trong hợp đồng uỷ thác

Các văn phòng uỷ thác của các NHTM còn cung cấp và thực hiện nhiều dịch vụ khác như quản lý tiền hưu trí, phân chia lợi tức, làm đại lý thanh toán và giữ sổ theo dõi các trái phiếu đó cho các công ty, các dịch vụ liên quan đến việc phát hành và chuộc lại các chứng khoán Hiện nay, các NHTM Việt Nam gần như chưa thực hiện chức năng này

1.2.7 Bảo quản an toàn vật có giá:

Thông thường cơ sở vật chất của các NHTM được xây dựng kiên cố, trang bị hiện đại để bảo quản tiền bạc và các tài sản có giá trị của bản thân ngân hàng Chính từ những

ưu điểm đó mà các NHTM có điều kiện để mở rộng thực hiện các chức năng bảo quản vật có giá của khách hàng có nhu cầu gửi bảo quản

Ngày nay với sự phát triển của các phương tiện bảo quản hiện đại với tình hình trật tự an toàn trong xã hội còn nhiều phức tạp ảnh hưởng đến mức độ an toàn bí mật, cho nên dịch vụ bảo quản an toàn tài sản, vật có giá trị của các NHTM không ngừng phát triển Công việc bảo quản vật có giá đựơc phân thành 2 bộ phận khác nhau trong mỗi một ngân hàng, đó là dịch vụ cho thuê két sắt bảo quản ký thác và trực tiếp bảo quản vật có giá của khách hàng

Vì tính chất quan trọng của chức năng này, đồng thời cũng để đảm bảo uy tín đặc biệt với khách hàng, thường việc bảo quản vật có giá chỉ diễn ra ở các ngân hàng lớn, có

đủ điểu kiện cơ sở vật chất, kho tàng đảm bảo an toàn cao

1.2.8 Đa dạng hoá cung ứng dịch vụ:

Theo đại từ điển kinh tế thị trường “Đa dạng hoá kinh doanh là một sách lược của một doanh nghiệp cùng một lúc kinh doanh từ hai ngành nghề trở lên; doanh nghiệp áp

Trang 6

dụng kinh doanh đa dạng, tham gia vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhiều loại hàng hoá và dịch vụ Trước tiên cần chọn phương hướng đa dạng hoá và chọn loại nào để đa dạng hoá thì hữu hiệu hơn, kinh doanh đa dạng hoá, không chỉ hạn chế ở chỗ mở rộng chủng loại sản phẩm; mà còn gồm cả mở rộng phạm vi sản xuất và thị trường Mục đích của nó là để phân tán nguy cơ, tránh cho thị trường của một loại hàng nào đó có biến động, ảnh hưởng đến thu lợi và lợi dụng đầy đủ tiềm lực sản xuất, tiềm lực tiêu thụ của thị trường, dùng sản phẩm phụ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ”

Như vậy đối với mỗi NHTM, đa dạng hoá nghiệp vụ là việc ngân hàng thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ khác nhau, tạo ra sự phong phú, đa dạng trong toàn bộ các dịch vụ tài chính, mà ngân hàng đó có thể cung cấp cho tất cả đối tượng khách hàng trong nền kinh tế Đồng thời, đa dạng hoá nghiệp vụ không chỉ hạn chế ở việc mở rộng các loại nghiệp vụ, mà còn bao hàm cả mở rộng, phát triển nghiệp vụ về phạm vi, qui mô, hình thức thực hiện; không tập trung hầu hết ngân quỹ vào một tài sản, hay một số ít tài sản rủi

ro có tương quan thu nhập thuận chiều với nhau Nói cách khác, cần duy trì một ngân hàng hoạt động theo mô hình đa năng: thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàngcho tất cả các đối tượng trong nền kinh tế

Giữa đa dạng hoá nghiệp vụ với nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM có quan

hệ biện chứng

Đa dạng hoá nghiệp vụ giúp các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

và vị thế cạnh tranh bởi vì đa dạng hoá nghiệp vụ giúp NHTM phân tán và giảm rủi ro, làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, thúc đẩy các nghiệp vụ cùng phát triển đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường

Mặt khác hiệu quả hoạt động cao, sẽ tạo điều kiện tốt hơn để các NHTM thực hiện

đa dạng hoá nghiệp vụ Hiệu quả hoạt động cao, lợi nhuận nhiều, ngân hàng sẽ có điều kiện bổ sung nguồn vốn để thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ Với hiệu quả hoạt động cao ngân hàng hoàn toàn có điều kiện để lựa chọn danh mục đầu tư phù hợp, lựa chọn triển khai những nghiệp vụ Dịch vụ ngân hàng hiện đại để hướng đạo thị trường sử dụng; trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, một ngân hàng hoạt động ổn dịnh, chắc chắn, có hiệu quả cao sẽ tạo được lòng tin và thu hút khách hàng Sản phẩm mới triển khai của ngân hàng đó sẽ dễ dàng được các khách hàng chấp nhận; hoạt động có hiệu quả, mức lương cao, ổn định sẽ giúp cho ngân hàng thu hút đuợc lao động có trình độ chuyên môn cao, khuyến khích họ làm việc nhiệt tình, tận tụy và có trách nhiệm với khách hàng Đồng thời, ngân hàng có điều kiện phát triển chuyên môn hoá sâu, nâng cao

kỹ năng từng nhóm nhân viên hoặc từng bộ phận và đó là một torng những điều kiện để thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ

Việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa đa dạng hoá nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động cho thấy: đa dạng hoá nghiệp vụ ngân hàng là giải pháp cơ bản, không thể thiếu để nâng cao hiệu quả hoạt động các NHTM trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mà kinh nghiệm của nhiều NHTM thành đạt trên thế giới đã cho thấy rõ điều đó Đây là xu thế tất yếu, một đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế và là lợi ích sống còn của bản thân mỗi ngân hàng

Trang 7

1.3 Vai trò của NHTM :

Ngày nay, với cơ chế kinh tế thị trường NHTM là cầu nối quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế Với sự chuyển mình của ngân hàng về một lĩnh vực nào đó có thể làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gạp khó khăn Như đã biết, vốn lưu động của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đáp ứng kịp thời cho nhu cầu SXKD, đặc biệt với cơ chế thị trường sôi động, cạnh tranh, đầy rủi ro bất trắc

Như vậy khả năng thanh toán sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ yếu đi Do đó phải nhờ đến Ngân hàng giải quyết nguồn vốn bổ sung cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp tức ngân hàng đã thực hiện vai trò thông mạch máu lưu thông hàng hóa và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp SXKD Mặt khác để tạo nguồn vốn ngân hàng đã khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, giúp các doanh nghiệp tận dụng tài nguyên này Từ đó giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội

1.4 Các hoạt động chủ yếu của NHTM :

1.4.1 NGUỒN VỐN

Gồm nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn huy động: dưới các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi cĩ kỳ hạn, v cc loại tiền gửi khc

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

- Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của các TCTD nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN

- Cac kênh huy động khác theo quy định của NHNN

1.4.2 SỬ DỤNG VỐN

Cho vay

Trong thời gian qua các ngân hàng thương mại đã đóng góp nhất định trong việc cung ứng vốn vay cho nền kinh tế, cụ thể hơn, trong việc tài trợ vốn phát triển khu vực kinh tế tư nhân Tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn bám sát với tốc độ tăng của huy động vốn Tình hình có cải thiện tương đối vào những năm trở lại đây, với tốc độ huy động bình quân đã tăng nhanh hơn tốc độ cho vay các tổ chức kinh tế NHTM cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới hình thức:

- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

- Cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

Đầu tư

Tỷ lệ phần liên kết, liên doanh, mua cổ phần của một số ngân hàng cổ phần trên tổng tài sản vẫn còn thấp Tình hình trên là do nhiều ngân hàng có vốn điều lệ thấp, không đủ năng lực tài chính cho các đầu tư trung- dài hạn Bên cạnh đó, chính sách của

Trang 8

chính phủ đối với đầu tư trong nước còn nhiều bất bình đẳng, không khuyến khích như với khu vực đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, dịch vụ triết khấu thương phiếu, các giấy tờ

có giávẵn chư phát triển, do vẫn thiếu những hàng lang pháp lý cần thiết cho việc lưu thông thông suất của các sản phẩm này

Bảo lãnh

Các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh chủ yếu dưới hình thức

mở LC nhập khẩu, bảo lnh thực hiện hợp đồng, thanh toán, đấu thầu… Các hình thức bảo lãnh khác ít được áp dụng Đây là lãnh vực nhạy cảm vì nó thể hiện uy tín của các ngân hàng đối với giới tài chính ngân hàng quốc tế

Các dịch vụ khác

Một số ngân hàng đã thực hiện các dịch uỷ thác đầu tư cho các tổ chức nước ngoài, quản lý tài sản, dịch vụ kinh doanh chứng khoán … nhưng kết quả đạt được chưa cao

Việc kinh doanh ngoại tệ vẫn chủ yếu ở hình thức giao ngay, do hạn chế của vốn điều lệ, nên ít có ngân hàng nào thực hiện được các hình thức mua bán có kỳ hạn và hoán đổi

Các dịch vụ truyền thống khác như cho thuê két sắt, bảo quản giấy tờ có giá,… cũng không phát triển do hầu hết các ngân hàng gặp thế bị động do việc trụ sở chính không phải là tài sản riêng của mình

Các dịch vụ như cho thuê tài chính, bao thanh toán, đầu tư mạo hiểm đang được một số ngân hàng triển khai thực hiện

Vẫn còn những khó khăn nhất định cho việc phát triển các dịch vụ của các ngân hàng thương mại Các khó khăn đó là: vấn đề vốn, cơ sở hạ tầng công nghệ, việc bảo mật thông tin khách hàng Bên cạnh đó chất lượng, cung cách phục vụ, chăm sóc khách hàng

và các khó khăn từ môi trường bên ngoài đã ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

Trang 9

Phần 2: Thực trạng về hoạt động hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian qua

(2006-2008)

2.1 Đánh giá về ưu-nhược điểm:

2.1.1 Ưu Điểm:

- Cĩ hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp

- Am hiểu về thị trường trong nước

- Đội ngũ khách hàng của NHTM VN khá đơng đảo

- Chiếm thị phần lớn về hoạt động tín dụng, huy động vốn và dịch vụ

- Đội ngũ nhân viên tận tụy, ham học hỏi và cĩ khả năng tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện đại

- Cĩ được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía NH Trung ương

- Mơi trường pháp lý thuận lợi

- Hầu hết đều đang thực hiện hiện đại hĩa ngân hàng

Thuận lợi về mơi trường kinh doanh trong năm 2008 của các NHTM:

- Mặc dù gặp nhiều khĩ khăn do khủng hoảng kinh tế tồn cầu nhưng nền kinh tế đất nước vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước trong khu vực, tăng trưởng GDP ước khoảng 6,23 %, nền chính trị - xã hội được giữ vững rất ổn định

- Các hoạt động xuất khẩu đạt chỉ số khá cao, thương mại quốc tế phát triển ổn định, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 63 tỷ USD, tăng 30 % so với năm 2007, cao nhất trong 10 năm qua, nhập siêu giảm 3 tỷ USD

- Hoạt động ngân hàng năm 2008 cĩ nhiều biến động, song với những giải pháp hợp

lý, linh hoạt của chính phủ phát huy hiệu quả, tạo điều kiện cho các NHTM đặc biệt là các NHTM lớn hạn chế đột biến xấu để tiếp tục phát triển ổn định, an tồn

2.1.2 Nhựơc điểm:

Mặc dù trong nhiều năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã cĩ nhiều đổi mới, song đến nay hệ thống ngân hàng vẫn được đánh giá là đang ở giai đoạn đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam cịn yếu, nợ quá hạn cao và nhiều rủi ro

Nhĩm 5 NHTM quốc doanh hiện chiếm thị phần lớn trong hệ thống ngân hàng với khoảng gần 70% tổng nguồn vốn huy động và thị phần tín dụng, nhưng tổng số vốn tự cĩ chỉ khoảng 2,5 tỷ USD (tương đương với một ngân hàng nhỏ trong khu vực) Với tỷ lệ vốn tự cĩ thấp, rõ ràng khả năng cạnh tranh của các NHTM quốc doanh - vốn được coi là xương sống của hệ thống NHTM Việt Nam sẽ gặp nhiều khĩ khăn khi hội nhập theo lộ trình đã cam kết

Hoạt động dịch vụ của các NHTM trong nước cịn nghèo nàn, đơn điệu, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các ngân hàng; các loại hình dịch vụ gia tăng và

Trang 10

nghiệp vụ mới như thanh tốn dịch vụ ngân hàng, mơi giới kinh doanh, tư vấn dự án cịn ít được chú ý phát triển (nếu cĩ cũng chỉ ở trong giai đoạn khởi phát ban đầu)

Các hoạt động ngân hàng bán lẻ và cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nhĩm các NHTM cổ phần hiện cĩ 36 ngân hàng, chiếm khoảng 20% tổng nguồn vốn huy động và thị phần tín dụng Do nhận thức được sự hạn chế về vốn và thị phần của mình so với các NHTM quốc doanh nên các NHTM cổ phần chủ yếu tập trung vào các hoạt động bán lẻ Các NHTM cổ phần đã bắt đầu kết hợp được các dịch vụ ngân hàng truyền thống và các dịch vụ gia tăng Gắn liền sự phát triển

đĩ là việc mở rộng nhanh chĩng mạng lưới hoạt động ở các tỉnh/thành phố lớn Do đĩ, quy mơ bộ máy khơng quá lớn và cơ chế tiền lương linh hoạt, các NHTM cổ phần hiện khơng gặp những vấn đề lớn về duy trì và nâng cao năng lực cán bộ Đội ngũ cán bộ đa phần là trẻ, mới được đào tạo, cĩ động lực phát triển tốt, kết hợp với một số cán bộ lâu năm, cĩ kinh nghiệm hoạt động trong ngành Tuy nhiên, nhĩm ngân hàng này cũng mới chiếm một thị phần khiêm tốn trên thị trường

Nhĩm các chi nhánh ngân hàng nước ngồi và liên doanh với 35 ngân hàng, chiếm khoảng 10% tổng nguồn vốn huy động và thị phần tín dụng Tuy nhiên, nhĩm các ngân hàng này cĩ tiềm lực kinh tế mạnh và được sự hậu thuẫn từ ngân hàng mẹ về hệ thống thanh tốn, các sản phẩm dịch vụ hiện đại sẽ là đối thủ cạnh tranh chính của các NHTM trong nước trong quá trình hội nhập Nhĩm các ngân hàng này hiện chủ yếu mới chỉ phục

vụ các khách hàng là các cá nhân và cơng ty nước ngồi hiện đang đầu tư tại Việt Nam và bắt đầu tiếp cận với các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hoạt động, các ngân hàng nước ngồi tập trung vào chất lượng và hiệu quả của dịch vụ cung cấp, đồng thời tiếp tục mở rộng mạng lưới, áp dụng các cơng nghệ tiên tiến trong quản lý hoạt động và kiểm sốt rủi ro Một lợi thế cạnh tranh của nhĩm ngân hàng này là sự hỗ trợ về vốn, nguồn nhân lực và cơng nghệ của các ngân hàng mẹ Đồng thời, hiện đang cĩ xu hướng các ngân hàng nước ngồi mua cổ phần của các NHTM Việt Nam để mở rộng tầm hoạt động tại thị trường

Hiện tại, hình thức ngân hàng 100% vốn nước ngồi cĩ 2 ngân hàng đã được chấp thuận thành lập về mặt nguyên tắc và đang chờ giấy phép hoạt động là HSBC và Standard Chartered Bank Đây thực sự sẽ là những nhân tố mới trên thị trường ngân hàng tài chính Việt Nam, hứa hẹn một cuộc cạnh tranh gay gắt với các NHTM trong nước Tuy nhiên, ưu thế của các ngân hàng Việt Nam so với các ngân hàng nước ngồi là cĩ được mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh/thành phố trong cả nước, cĩ được mối quan hệ truyền thống với khách hàng qua nhiều năm và sự hiểu biết một cách cụ thể khả năng, yêu cầu của khách hàng và những vấn đề văn hố, phong tục mà các ngân hàng nước ngồi chưa thể cĩ được trong quan hệ với khách hàng bản địa Ngồi ra, hiện nay các NHTM Việt Nam đang tích cực triển khai đề án tái cơ cấu lại và cổ phần hố 5 NHTM nhà nước Nếu thực hiện thành cơng chương trình tái cơ cấu và cổ phần hố này thì năng lực cạnh tranh của các NHTM trong nước sẽ được tăng lên đáng kể

Những khĩ khăn mà NHTM phải đối mặt trong năm 2008:

Ngày đăng: 23/07/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w