1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân

86 658 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia: Công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy Cục An toàn bức xạ và hạt nhân
Tác giả Vương Hữu Tấn, Lê Minh Tuấn
Trường học Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý năng lượng nguyên tử, An toàn bức xạ và Hạt nhân
Thể loại Tập san
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 5,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân

Trang 1

1 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014

Hoạt động của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia

Công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy Cục An toàn bức xạ và hạt nhân

Vương Hữu Tấn, Lê Minh Tuấn

Cục ATBXHN

Cục Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân được thành lập năm 2003 và được đổi tên thành Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) vào tháng 10/2008 Căn cứ Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Cục ATBXHN (Quyết định số 2248/QĐ-BKHCN ngày 10/10/2008)

Luật Năng lượng nguyên tử (NLNT) được Quốc hội thông qua tháng 6/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 Luật NLNT đã quy định cụ thể các chức năng quản lý nhà nước của Cơ quan An toàn bức xạ và hạt nhân thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN)

Quy hoạch tổng thể phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 957/QĐ-TTg ngày 24/6/2010, trong đó có nhiệm vụ kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Nghị định số 20/2013/NĐ-CP ngày 26/2/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN đã có một số nội dung thay đổi so với Nghị định số 28/2008/NĐ-CP, trong đó có thay đổi trong nội dung về năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân

Vì vậy, yêu cầu sửa đổi Điều lệ tổ chức và hoạt động của Cục ATBXHN là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật NLNT, các yêu cầu mới về kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

và những thay đổi trong chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ KH&CN

Trang 2

2 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Sự điều chỉnh mô hình tổ chức của Cục ATBXHN dựa trên đòi hỏi thực tiễn quản

lý nhà nước về đảm bảo an toàn an ninh hạt nhân cũng như đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc

tế

Thực tiễn quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn, an ninh hạt nhân

Cục ATBXHN thuộc Bộ KH&CN đã giúp Bộ KH&CN thực hiện tốt công tác quản

lý về an toàn bức xạ và hạt nhân đối với các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - xã hội trong giai đoạn vừa qua

Mô hình tổ chức của Cục ATBXHN được xây dựng vào năm 2003 và điều chỉnh vào 2008 chủ yếu nhằm phục vụ cho nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động sử dụng nguồn bức xạ Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, thực tiễn ứng dụng bức xạ, năng lượng nguyên tử trong phát triển kinh tế xã hội đã có rất nhiều thay đổi Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược ứng dụng năng lượng vì mục đích hòa bình đến năm

2020, hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các ngành kinh tế xã hội đã phát triển rất mạnh trong phạm vi toàn quốc Hàng năm, Cục đã cấp trung bình khoảng 1000 giấy phép cho các công việc bức xạ mới và các chứng chỉ liên quan Đặc biệt, Quốc hội đã phê duyệt chủ trương xây dựng và đưa vào vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam tại Ninh Thuận vào năm 2020 Chính phủ đã phê duyệt Định hướng Quy hoạch phát triển điện hạt nhân của Việt Nam đến 2030 Dự án xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân với việc xây dựng lò phản ứng nghiên cứu đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương và Hiệp định liên chính phủ với Nga về việc này đã được ký kết Tất cả các vấn đề nêu trên đã đặt ra các yêu cầu mới về chức năng, nhiệm vụ và năng lực đối với Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân

Thực tiễn cho thấy các hoạt động ứng dụng bức xạ đã phát triển mạnh trong phạm

vi toàn quốc đòi hỏi Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân cần được mở

Trang 3

3 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

rộng để bảo đảm có thể thực thi chức năng quản lý nhà nước một cách đầy đủ, nhanh chóng và không gây cản trở hoạt động của các doanh nghiệp; các chủ trương của nhà nước

về xây dựng nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng nghiên cứu mới đòi hỏi Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân phải có thêm các đơn vị chức năng mới để có thể đảm trách các chức năng quản lý của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia về an toàn hạt nhân, phóng xạ môi trường, chuẩn đo lường bức xạ, an ninh hạt nhân, thanh sát hạt nhân, thông tin hạt nhân và đào tạo cán bộ pháp quy hạt nhân Ngoài ra, để bảo đảm hoạt động quản lý của Cục ATBXHN được thực hiện một cách hiệu quả và không gây cản trở cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân tiến hành các công việc bức xạ cần phải có thêm Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật khu vực phía Nam để kịp thời giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phục vụ công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân tại các vùng miền cũng như thực hiện chức năng hỗ trợ công tác thẩm định an toàn, thanh tra, quan trắc và phân tích phóng xạ môi trường, ứng phó sự cố và bảo đảm các dịch vụ kỹ thuật về an toàn bức

xạ cho khu vực

Yêu cầu hội nhập quốc tế

Theo thông lệ quốc tế, Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân của các nước thường có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước của các nước (Bộ, cơ quan ngang Bộ hay cơ quan thuộc Bộ nhưng lãnh đạo cơ quan này do Thủ tướng bổ nhiệm) Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nước đặc biệt là các nước có điện hạt nhân đều thành lập Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia độc lập trực thuộc Tổng thống, Thủ tướng hoặc Quốc hội

Nhằm tăng cường địa vị pháp lý cũng như năng lực của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia của Việt Nam để có thể đảm đương nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân đối với Chương trình điện hạt nhân nói chung và Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận nói riêng theo khuyến cáo của Đoàn đánh giá pháp quy tích hợp (IRRS) của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cũng như Đoàn cấp cao của Cơ quan

An toàn công nghiệp, môi trường và hạt nhân Liên bang Nga (Rostechnadzor), ở giai đoạn hiện nay cần kiện toàn lại cơ cấu tổ chức của Cục ATBXHN như một bước chuyển tiếp để tiến đến thành lập Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia độc lập Việc nâng cấp Cục ATBXHN thành Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia độc lập chỉ có thể thực hiện được khi Quốc Hội sửa đổi Luật NLNT

Như vậy, các yêu cầu thực tế và quốc tế đòi hỏi cơ cấu tổ chức của Cục ATBXHN phải được điều chỉnh để bảo đảm có đủ năng lực hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ nặng

nề hơn rất nhiều so với giai đoạn trước đây

Theo định hướng trên, Cục ATBXHN đã đề xuất và được Lãnh đạo Bộ đồng ý cho phép kiện toàn và thành lập các đơn vị với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng

Theo Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Cục ATBXHN đã được Bộ trưởng Bộ KH&CN phê duyệt Mô hình tổ chức mới của Cục được xây dựng trên cơ sở kiện toàn lại các đơn vị quản lý nhà nước và hình thành thêm các đơn vị sự nghiệp có chức năng hỗ trợ

kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân Các đơn vị sự nghiệp này sẽ được thành lập trên cơ sở Nghị định 115 và Nghị định 96 để tạo điều kiện cho Cục có được sự tự chủ cao nhất trong việc phát triển năng lực đội ngũ cán bộ

kỹ thuật nhằm hỗ trợ tốt nhất cho công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân

Trang 4

4 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Ngày 18/2/2014, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ký Quyết định số 217/QĐ-BKHCN ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân thay thế Quyết định 2248/QĐ-BKHCN ký ngày 10/10/2008 Theo đó, mô hình tổ chức của Cục sẽ bao gồm 8 đơn vị quản lý nhà nước là:

1 Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật an toàn bức xạ hạt nhân và ứng phó sự cố

2 Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật an toàn bức xạ thành phố Hồ Chí Minh

3 Trung tâm Thông tin và Đào tạo

Để triển khai thực hiện mô hình tổ chức theo Điều lệ mới của Cục, Lãnh đạo Cục đã họp thảo luận về chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các đơn vị trực thuộc, xin ý kiến lãnh đạo các đơn vị và dự kiến trong tháng 5/ 2014 sẽ ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các đơn vị trực thuộc Lãnh đạo Cục cũng đã họp để xem xét và thông qua việc bố trí nhân sự cho các đơn vị trong các đơn vị theo Điều

lệ mới và tiến hành thủ tục bổ nhiệm thủ trưởng của các đơn vị mới thành lập hoặc bổ sung quyết định lãnh đạo cho các đơn vị cho phù hợp với thực tế (không thay đổi hoặc đổi tên hoặc giảm chức năng, nhiệm vụ) Đối với những đơn vị không còn trong mô hình tổ chức mới, Cục sẽ có các quyết định thôi giữ các chức vụ của các cán bộ lãnh đạo và bảo lưu hệ

số phụ cấp chức vụ theo quy định của pháp luật Sau khi triển khai bổ nhiệm thủ trưởng các đơn vị, Lãnh đạo Cục sẽ xem xét việc bổ nhiệm các lãnh đạo cấp phó theo quy định, hướng dẫn bổ nhiệm cán bộ của Bộ KH&CN và các quy định pháp luật trong tháng 5/2014 Đồng thời với việc kiện toàn về tổ chức và cán bộ, Cục đang chuẩn bị để trình Bộ hai văn bản quan trọng: i) Đề án phát triển nguồn nhân lực của Cục đến năm 2020 (trong

đó làm rõ nhu cầu nhân lực, kế hoạch tuyển dụng và đào tạo cán bộ), ii) Dự án đầu tư ODA tăng cường năng lực hỗ trợ kỹ thuật của Cục Hai văn bản này sẽ dự kiến trình Hội đồng Khoa học và Quản lý của Bộ KH&CN thông qua trong tháng 6 để trình Bộ trưởng phê duyệt Mô hình tổ chức hiện nay là bước chuyển tiếp để Cục tiến đến hoàn thiện theo mô hình tổ chức sẽ được quy định trong Luật NLNT sửa đổi, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của một

Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia

Với việc được phê duyệt điều chỉnh mô hình tổ chức và sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ KH&CN, Cục ATBXHN phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cũng như hoàn thành trách nhiệm của một Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia, đặc biệt trong quản

lý an toàn dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận và Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân./

Trang 5

5 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CHO CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN

Lê Quang Hiệp, Lê Minh Tuấn

Cục ATBXHN

I Mở đầu

Ứng dụng bức xạ và hạt nhân trong các ngành kinh tế xã hội đã mang lại các lợi ích không thể phủ nhận Nhiều ứng dụng bức xạ trong khám, chữa bệnh đã góp phần trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng và không thể thay thế Các ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp cũng đã đem lại các hiệu quả về kinh tế đáng ghi nhận Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích đem lại, việc sử dụng bức xạ ion hóa cũng tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng môi trường nếu không được quản lý chặt chẽ Bên cạnh việc phải xây dựng một khung pháp lý đầy đủ cho quản l ý an toàn bức xạ, hạt nhân thì xây dựng cơ quan quản lý nhà nước có đủ năng lực để thực thi các nhiệm vụ quản lý là một yêu cầu quan trong để bảo đảm mục tiêu an toàn trong đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên

tử vì mục đích hòa bình Điều này lại đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đã quyết định chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) với mục tiêu khởi công xây dựng vào năm 2014 và đưa vào vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2020 Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả và tiến độ của dự án điện hạt nhân (ĐHN) đòi hỏi nhiều yếu tố trong

đó yếu tố nguồn nhân lực là hết sức quan trọng

Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của chương trình phát triển ĐHN và yêu cầu nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là yếu tố quyết định sự thành công của chương trình phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử ở mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia bắt đầu xây dựng NMĐHN đầu tiên

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia về đào tạo nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, trong năm 2013 Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) - Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, hạt nhân đã xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Cục với mục tiêu bảo đảm để có đủ năng lực đáp ứng cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân đối với các ứng dụng bức xạ và dự án NMĐHN

II Kế hoạch tuyển dụng nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, hạt nhân

Nhu cầu nhân lực cần thiết cho Cục ATBXHN được đánh giá trên cơ sở hoạt động thực tiễn của Cục trong những năm qua và tham khảo kinh nghiệm của các nước có ĐHN ở quy mô nhỏ và tham khảo các tài liệu hướng dẫn của IAEA (TECDOC 1254 Training the staff of the regulatory for nuclear facilities; IAEA Safety Standard GSR part 1 Governmental, Legal and Regulatory Framework for Safety; IAEA Safety Guide GS.G.1.1 Organization and Staffing of the Regulatory Body for Nuclear Facilities) và tài liệu của Uỷ ban Pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ (Staffing, Training and technical support for startup of a nuclear safety regulatory program, G-OI-ST, US NRC 2009)

Nhu cầu nguồn nhân lực của Cục ATBXHN đến năm 2015

Nhu cầu nguồn nhân lực của Cục ATBXHN đến 2015 được xác định để đảm bảo đáp ứng được các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong giai đoạn này, cụ thể:

- Bảo đảm các hoạt động quản lý nhà nước đối với các ứng dụng sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ và quản lý chất thải phóng xạ

Trang 6

6 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn

kỹ thuật về an toàn, an ninh, thanh sát hạt nhân phục vụ quản lý NMĐHN, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu giai đoạn phê duyệt địa điểm, phê duyệt dự án đầu tư, cấp giấy phép xây dựng

- Bảo đảm các hoạt động quản lý nhà nước về an toàn đối với dự án NMĐHN, dự án xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu giai đoạn phê duyệt địa điểm, phê duyệt dự án đầu tư, cấp giấy phép xây dựng

- Bảo đảm năng lực chuyên môn về an toàn bức xạ để hỗ trợ công tác cấp giấy phép, thanh tra đối với các hoạt động sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ và quản lý chất thải phóng xạ

- Bảo đảm năng lực chuyên môn về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân để tổ chức, tham gia thẩm định an toàn trong phê địa điểm, phê duyệt báo cáo đầu tư, cấp giấy phép xây dựng và hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra trong giai đoạn sản xuất, chế tạo và xây dựng, lắp đặt NMĐHN, lò phản ứng nghiên cứu

Nhu cầu nhân lực đến 2015 của Cục ATBXHN được đánh giá khoảng 200 người, so với số nhân lực hiện có, thì đến năm 2015 cần tuyển dụng thêm khoảng 100 người

Nhu cầu nguồn nhân lực của Cục ATBXHN đến 2020

Nhu cầu nguồn nhân lực của Cục ATBXHN đến 2020 được xác định để đảm bảo đáp ứng được cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước mới trong giai đoạn này so với giai đoạn đến

2015, chủ yếu là các nhiệm vụ liên quan đến quản l ý an toàn NMĐHN, lò phản ứng nghiên cứu trong quá trình xây dựng, lắp đặt, chuyển giao đưa vào sử dụng và vận hành

Nhu cầu nhân lực đến 2020 của Cục ATBXHN được đánh giá là 300 người, nếu trong giai đoạn đến 2015 đã tuyển dụng đủ 200 người thì từ 2016 đến 2020 cần tuyển dụng thêm 100 người

Kế hoạch tuyển dụng cán bộ đến năm 2015 theo chuyên môn đào tạo Chuyên môn tuyển dụng Tổng

cộng Chuyên môn tuyển dụng Tổng cộng

Kỹ thuật xây dựng 3 Ngoại ngữ, ngoại giao, quan hệ quốc tế 12

Kỹ thuật điện và điện tử, tự

3

Tổng cộng 168

III Kế hoạch đào tạo nhân lực

Một quốc gia khi quyết định chương trình phát triển ĐHN cần xây dựng cơ quan pháp quy có đủ nguồn nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm trong các chuyên ngành kỹ

Trang 7

7 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

thuật Các nhân viên kỹ thuật phải có kiến thức chuyên sâu về vật lý lò, công nghệ điện hạt nhân, bảo vệ bức xạ, bảo vệ thực thể và quản lý sự cố

Cán bộ của cơ quan pháp quy cần được đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn để thực thi các nhiệm vụ quản lý đối với NMĐHN Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng một số nhiệm vụ có tần suất sử dụng trong hoạt động quản lý và đòi hỏi các kiến thức

kỹ thuật chuyên ngành rất sâu nên sử dụng hỗ trợ từ các đơn vị bên ngoài có thể là các chuyên gia trong nước hoặc quốc tế

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu hướng dẫn về phát triển và đào tạo nguồn nhân lực cho

cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia đối với các nước bắt đầu phát triển điện hạt nhân của IAEA và của US NRC, Cục ATBXHN đã xây chương trình đào tạo cán bộ của Cục đến năm 2020 với 3 loại hình chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo cơ bản cho cán bộ quản lý và hỗ trợ kỹ thuật

Chương trình đào tạo cơ bản liên quan đến lĩnh vực chuyên môn quản lý sẽ được tổ chức định kỳ hàng năm và là chương trình đào tạo bắt buộc cho tất cả các cán bộ chuyên môn được tuyển dụng vào làm việc tại Cục ATBXHN Chương trình đào tạo cơ bản bao gồm các khóa với nội dung chi tiết như sau:

1

Khóa đào tạo về

quản lý pháp quy an

toàn hạt nhân

- Kiến thức pháp quy hạt nhân

- Khái niệm cơ bản an toàn lò phản ứng hạt nhân

Trang 8

8 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Khoá bồi dưỡng nâng cao kiến thức về phân tích tai nạn vỡ ống nước vòng I (sự cố LOCA)

Chương trình đào tạo thực hành on - the job - training

Một số cán bộ chủ chốt có hướng đào tạo thành các trưởng nhóm chuyên môn tại các đơn vị quản lý nhà nước (Pháp chế, thanh tra, cấp phép, thanh sát hạt nhân) sau khi hoàn thành khóa đào tạo cơ bản sẽ được lựa chọn gửi đào tạo thực hành tại nước ngoài khoảng 6 tháng tại các nước có kinh nghiệm về quản lý NMĐHN

Dự kiến trong các năm đầu mỗi năm cử đi đào tạo 1- 2 người cho mỗi nhóm chuyên môn sâu để bảo đảm có đủ nguồn nhân lực phục vụ cho dự án ĐHN Ninh Thuận Các năm sau đó sẽ tiếp tục đào tạo theo phương thức này nhưng với số lượng khoảng 2 - 3 người Nội dung chương trình đào tạo thực hành dự kiến thực hiện trong giai đoạn đến năm

2015 như sau:

Nội dung chương trình đào tạo thực hành

6 Quản lý chất thải phóng xạ và tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân 2 tháng

Chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ hỗ trợ kỹ thuật

Chương trình đào tạo chuyên môn sâu cho nhóm các cán bộ hỗ trợ kỹ thuật sẽ được

tổ chức theo các nhóm chuyên gia và chủ yếu được gửi đào tạo tại nước ngoài Tuy nhiên, chính sách đào tạo nhân lực chuyên gia sẽ hướng tới các chuyên môn thường được sử dụng

Trang 9

9 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

trong hoạt động quản lý của cơ quan pháp quy đó là Vật lý lò phản ứng, Thủy nhiệt, Phân tích rủi ro, Phân tích tai nạn nghiêm trọng, Hệ thống NMĐHN Các chuyên môn khác có thể sử dụng chuyên gia sẵn có trong nước từ các cơ quan khác

Nội dung chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ kỹ thuật (Đào tạo chuyên gia)

dự kiến thực hiện trong giai đoạn đến 2015 như trong bảng

Chương trình đào tạo chuyên gia

Thời lượng

Trang 10

10 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử

Đinh Ngọc Quang

Cục ATBXHN

I Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Năng lượng nguyên tử (NLNT)

Luật NLNT (Luật số 18/2008-QH12) đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03/6/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Luật NLNT gồm có

93 điều quy định về các hoạt động trong lĩnh vực NLNT và bảo đảm an toàn, an ninh trong

các hoạt động đó; được phân thành 11 chương Ngoài Chương I Những quy định chung và

Chương XI Điều khoản thi hành là 9 chương có nội dung như sau: Chương II: Các biện pháp đẩy mạnh phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử; Chương III: An toàn bức xạ,

an toàn hạt nhân và an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân; Chương IV: Cơ sở bức xạ; Chương V: Cơ sở hạt nhân; Chương VI: Thăm dò, khai thác, chế biến quặng phóng xạ; Chương VII: Vận chuyển và nhập khẩu, xuất khẩu vật liệu phóng xạ, thiết

bị hạt nhân; Chương VIII: Dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử; Chương IX: Khai báo và cấp giấy phép; Chương X: Ứng phó sự cố, bồi thường thiệt hại bức xạ, hạt nhân

Trong hơn 5 năm được thi hành, Luật NLNT đã tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các ngành, các cấp, các cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân và người dân về vai trò của ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn, an ninh cho các ứng dụng đó

Luật NLNT đã khẳng định vai trò quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước an toàn bức xạ và hạt nhân (Điều 7, Điều 8 của Luật)

Việc quản lý an toàn, an ninh đối với các cơ sở bức xạ đã được tăng cường và dần dần đi vào nề nếp Công việc bức xạ, nguồn bức xạ và nhân viên bức xạ đã được khai báo đầy đủ; hầu hết các cơ sở bức xạ đều được cấp giấy phép sử dụng nguồn bức xạ Nhìn chung, các cơ sở tiến hành công việc bức xạ có ý thức hơn, thực hiện nghiêm túc hơn các quy định của Luật NLNT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật NLNT

Lần đầu tiên ở nước ta có một đạo luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về NLNT, đặc biệt là về lò phản ứng hạt nhân và nhà máy ĐHN Luật NLNT được thông qua đã tạo khung pháp luật để thực hiện chủ trương đẩy mạnh ứng dụng NLNT và phát triển điện hạt nhân (ĐHN) của Đảng, Nhà nước

Luật NLNT ra đời kịp thời đã có tác dụng tích cực, làm cơ sở pháp luật cho Quốc hội thông qua chủ trương xây dựng nhà máy ĐHN (tháng 11/2009) và Chính phủ đàm phán, ký kết Hiệp định hợp tác xây dựng nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 với Chính phủ Liên bang Nga (tháng 10/2010), nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2 với Chính phủ Nhật Bản (tháng 01/2011) Thực hiện các quy định của Luật NLNT, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các

Bộ ngành liên quan và chủ đầu tư Dự án ĐHN Ninh Thuận là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang khẩn trương thực hiện các thủ tục về phê duyệt địa điểm, dự án đầu tư, cấp

phép xây dựng để có thể sớm khởi công nhà máy ĐHN Ninh Thuận

Luật NLNT hiện hành đã bao hàm tương đối đầy đủ các nội dung theo thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật NLNT, đã bộc lộ một số bất cập Đặc biệt còn một số quy định trong Luật NLNT chưa phù hợp với các yêu cầu, tiêu chuẩn

Trang 11

11 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

khuyến cáo của Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA) và thông lệ quốc tế Một số nội dung quan trọng còn chưa được quy định, cập nhật trong Luật NLNT

Đặc biệt đối với ĐHN, do chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoàn toàn mới ở Việt Nam, chưa hiểu hết đặc thù về bảo đảm an toàn, an ninh đối với nhà máy ĐHN và còn phụ thuộc vào pháp luật của các lĩnh vực có liên quan (Đầu tư, Xây dựng, Bảo vệ môi trường…), mà Luật NLNT đã bộc lộ một số bất cập mang tính nguyên tắc cần phải chỉnh sửa như:

- Chưa có cơ quan chịu trách nhiệm cấp phép xuyên suốt các giai đoạn của nhà máy ĐHN: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt địa điểm, Bộ KH&CN, Bộ Công Thương cấp phép vận hành, cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân phê duyệt kế hoạch tháo dỡ (chấm dứt hoạt động);

- Trách nhiệm thẩm định để phê duyệt, cấp phép được quy định chồng chéo, thậm chí giao cho cơ quan tư vấn (được thành lập tạm thời) chịu trách nhiệm

Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật NLNT là rất cần thiết, nhằm các mục tiêu sau:

- Sửa đổi nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc, không khả thi bộc lộ trong quá trình thực thi Luật NLNT;

- Bổ sung, đảm bảo quy định đầy đủ các nội dung cơ bản theo yêu cầu quản lý, phù hợp với luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế;

- Đảm bảo tính phù hợp, tính thống nhất của Luật NLNT với Hiến pháp năm 2013, với các luật có liên quan (đặc biệt là các luật vừa được sửa đổi, bổ sung trong giai đoạn từ

2008 đến nay), với các điều ước quốc tế đang có hiệu lực mà Việt Nam là thành viên

II Sửa đổi, bổ sung Luật Năng lượng nguyên tử

Sau đây là một số nội dung chính cần sửa đổi, bổ sung so với Luật NLNT hiện hành:

1 Chỉnh sửa, bổ sung một số thuật ngữ

Trên cơ sở nghiên cứu các thuật ngữ được các nước thành viên (IAEA) thống nhất

sử dụng rộng rãi (Tài liệu “Thuật ngữ an toàn của IAEA” (IAEA Safety Glossary), IAEA, xuất bản tháng 6/2007), đề nghị chỉnh sửa lại các thuật ngữ sử dụng trong Luật NLNT như

An toàn bức xạ; An toàn hạt nhân; Miễn trừ khai báo, cấp phép; Mức miễn trừ, Nhân viên bức xạ, Người phụ trách an toàn bức xạ

2 Đảm bảo tính độc lập của cơ quan quản lý

Phù hợp với khuyến cáo của IAEA, cần sửa Khoản 3 Điều 6 nhằm thể hiện nguyên

tắc: cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân phải có vị trí độc lập

với cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm về việc phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử Sửa Điều 8 theo hướng hoàn thiện chức năng, tăng thẩm quyền của cơ quan an toàn bức xạ

và hạt nhân quốc gia

3 Cấp phép nhà máy ĐHN

Các Điều 47, 48, 49, 50 và 40 của Luật NLNT mới chỉ quy định các việc cần phải làm nhưng chưa rõ trách nhiệm và mối quan hệ giữa các cơ quan tham gia thẩm định, cơ chế phối hợp giữa các tổ chức được tham gia thẩm định, đặc biệt chưa thấy rõ trách nhiệm

và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân Những mối quan hệ nêu trên cần được làm rõ hơn trong Điều 8 của Luật NLNT cũng như vai trò của Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia

Trang 12

12 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Không thể giao cho Bộ Công Thương cấp phép vận hành nhà máy ĐHN bao gồm

cả vận hành thử vì như vậy là “vừa đá bóng vừa thổi còi” vi phạm nguyên tắc đảm bảo an toàn hạt nhân Bộ Công Thương hiện đang giữ vị trí là cơ quan chủ quản của Tập đoàn Điện lực Việt Nam – chủ đầu tư của Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Bất cập này đã được các tổ chức, cơ quan đối tác của Việt Nam như IAEA, Liên bang Nga, Hoa Kỳ khuyến cáo cần phải giải quyết; đặc biệt sau sự cố hạt nhân nghiêm trọng tại nhà máy ĐHN Fukushima

số 1 tại Nhật Bản

Để đảm bảo tính xuyên suốt của trách nhiệm cấp phép đã được quy định trong Luật NLNT và chức năng, nhiệm vụ được giao theo Nghị định của Chính phủ, cơ quan cấp phép nên là Bộ KH&CN

4 Ứng phó sự cố

Cần sửa Điều 82 và Điều 83 liên quan tới quy định nhóm tình huống và phân công xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố Quy định cụ thể việc phân công trách nhiệm trong chỉ huy ứng phó sự cố

5 Các vấn đề cần quy định thêm hoặc hoàn thiện

Tham khảo hướng dẫn mới của IAEA (Tài liệu “Sổ tay Luật hạt nhân - Ứng dụng lập pháp” (Handbook on Nuclear Law – Implementing Legislation), IAEA, xuất bản tháng 8/2010), để phù hợp với thông lệ quốc tế về những nội dung chính cần quy định trong luật hạt nhân, nghiên cứu bổ sung thêm hoặc quy định chi tiết hơn các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề sau:

- Nguyên tắc xây dựng và không ngừng củng cố văn hóa an toàn trong hoạt động ứng dụng NLNT;

- Thanh tra và khen thưởng, xử lý vi phạm;

- Thanh sát (safeguards);

- Quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân đã cháy;

- An ninh hạt nhân, bảo vệ thực thể và chống vận chuyển trái phép nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân;

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại hạt nhân (gồm trách nhiệm của bên thứ ba) Khuyến cáo số 1 trong Báo cáo của Đoàn đánh giá cơ sở hạ tầng ĐHN (INIR) của

IAEA năm 2012 có nội dung như sau: “Việt Nam cần nhanh chóng rà soát và ban hành

Luật NLNT sửa đổi để đáp ứng đầy đủ một số vấn đề quan trọng, bao gồm sự cần thiết phải có: (1) một cơ quan pháp quy độc lập có hiệu lực (với các tổ chức có trách nhiệm hoặc lợi ích liên quan đến triển khai chương trình ĐHN) với thẩm quyền và nguồn lực cần thiết để thực hiện các trách nhiệm được quy định; (2) xác định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan tham gia chương trình ĐHN; và (3) quy định đầy đủ về ứng phó sự cố, quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân đã cháy, tháo dỡ, an ninh hạt nhân, thanh sát hạt nhân và trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân”

*

* *

Kế hoạch sửa đổi, bổ sung Luật NLNT đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XIII (Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011) Việc sửa đổi Luật NLNT đồng thời cũng là một nhiệm vụ của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu

Trang 13

13 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

BCH Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (ban hành kèm theo Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013

của Chính phủ) Thực hiện Nghị quyết này, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ban hành Quyết định số 1037/QĐ-BKHCN ngày 06/5/2013 phân công nhiệm vụ cho Cục ATBXHN xây dựng Dự án Luật NLNT (sửa đổi), thời gian hoàn thành vào năm 2015

Hy vọng với sự quan tâm và chỉ đạo sát sao, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị có liên quan, Dự thảo Luật Năng lượng nguyên tử sẽ được trình xin ý kiến Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII vào kỳ họp cuối năm 2015 và sẽ được thông qua vào đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV./

Trang 14

14 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỊCH VỤ ĐO LIỀU CHIẾU XẠ CÁ NHÂN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HỖ TRỢ ỨNG

DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

Nguyễn Việt Hùng

Cục ATBXHN

Hoạt động dịch vụ đo liều chiếu xạ cá nhân là một trong những hoạt động dịch vụ

hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) được quy định tại khoản 5 Điều 68 Luật NLNT Tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử phải đăng ký hoạt động theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ (khoản 3 Điều 69 Luật NLNT)

Theo quy định tại Điều 21 Luật NLNT về kiểm soát chiếu xạ do công việc bức xạ gây ra, tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải tuân thủ các nguyên tắc kiểm soát chiếu xạ bảo đảm cho liều chiếu xạ đối với công chúng và đối với nhân viên bức xạ không vượt quá liều giới hạn Quy định này cũng được cụ thể hóa trong Thông tư số 19/2012/TT- BKHCN ngày 08/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) quy định

về kiểm soát và bảo đảm an toàn bức xạ trong chiếu xạ nghề nghiệp và chiếu xạ công chúng: “Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải trang bị liều kế cá nhân cho tất

cả nhân viên làm việc trong khu vực kiểm soát, khu vực giám sát” Như vậy, tất cả các nhân viên bức xạ đều phải được trang bị và theo dõi liều xạ kế cá nhân

Trong tình hình kinh tế - xã hội ngày càng phát triển hiện nay, trên cả nước có khoảng hơn 4000 tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ, sử dụng khoảng 15000 nhân viên bức xạ Với nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, số lượng này sẽ ngày một gia tăng

và nhu cầu về trang bị, theo dõi liều cá nhân sẽ ngày càng nhiều

Hiện nay, trên cả nước có 04 tổ chức đã được cấp giấy đăng ký thực hiện dịch vụ

hỗ trợ ứng dụng NLNT trong lĩnh vực này là:

- Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân;

- Viện Nghiên cứu hạt nhân;

- Trung tâm hạt nhân TP Hồ Chí Minh;

- Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (Bình Dương)

Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp

Bộ trưởng Bộ KH&CN quản lý và cấp giấy đăng ký thực hiện dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử trong đó có các tổ chức thực hiện dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn và dịch vụ đo liều chiếu xạ cá nhân Tuy nhiên, trong thời gian qua, vấn đề quản lý, giám sát chất lượng của các đơn vị đăng ký hoạt động các dịch vụ này chưa được tổ chức, triển khai một cách chặt chẽ dẫn đến việc tồn tại những đơn vị không tuân thủ quy tắc bảo đảm chất lượng trong hoạt động dịch vụ đã đăng ký

Tháng 3/2014, Cục ATBXHN đã tiến hành triển khai công tác kiểm tra giám sát quy trình bảo đảm chất lượng đối với bốn tổ chức thực hiện dịch vụ hỗ trợ ứng dụng NLNT – dịch vụ đo liều chiếu xạ cá nhân nêu trên Mỗi tổ chức đo liều gửi 29 liều kế cá

Trang 15

15 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

nhân (liều kế) về Cục ATBXHN Cục ABXHN đã thực hiện mã hóa và chiếu liều chuẩn đồng bộ cho các liều kế trên tại Phòng chuẩn liều của Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân Liều kế sau khi chiếu chuẩn được gửi đi đo liều tại từng tổ chức thực hiện dịch vụ dưới sự giám sát của Cục ATBXHN Sau khi nhận được kết quả đo liều, Cục ATBXHN đã triển khai đánh giá kết quả đo liều dựa trên các khuyến cáo của IAEA nêu tại tiêu chuẩn số RS- G-1.3 “Đánh giá chiếu xạ nghề nghiệp từ các nguồn bức xạ ngoài” (Safety Standards Series, No RS-G-1.3 - Assessment of occupational Exposure Due to External Sources of Radiation)

Trang 16

16 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Đồng thời, Cục ATBXHN nhận thấy vấn đề bảo đảm chất lượng đối với dịch vụ đo liều chiếu xạ cá nhân, cần phải có sự đầu tư thích đáng của tổ chức thực hiện dịch vụ về cả nhân lực và trang thiết bị cũng như sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ phía cơ quan quản lý

Vì vậy, Cục ATBXHN đã xác định nhiệm vụ kiểm tra, giám sát quy trình bảo đảm chất lượng đối với các tổ chức đo liều chiếu xạ cá nhân là cần thiết và cấp bách Cục ATBXHN sẽ triển khai thực hiện công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên đối với các tổ chức dịch vụ này từ đó có những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trong tương lai./

Trang 17

17 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH CỦA CỤC AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN NĂM 2013

Dương Quốc Hùng, Hoàng Thị Luyến, Nguyễn Thị Thủy,

Đào Ngọc Phương, Hoàng Thị Phương

Thanh tra Cục ATBXHN

1 Hoạt động thanh tra ATBXHN của Cục ATBXHN năm 2013

Trong năm 2013, Cục ATBXHN đã tiến hành 12 đợt thanh tra theo kế hoạch, 05 đợt thanh tra đột xuất trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố trên cả nước

Trọng tâm thanh tra năm 2013 là tập trung vào các cơ sở công nghiệp, đặc biệt là các

cơ sở sử dụng các nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh; các cơ

sở y tế lớn sử dụng nhiều nguồn phóng xạ và thiết bị bức xạ; các cơ sở nghiên cứu đào tạo Tổng số 62 cơ sở đã được thanh tra, trong đó có 33 cơ sở công nghiệp (chiếm 53,2%), 11

cơ sở y tế (chiếm 17,7%), 06 cơ sở nghiên cứu đào tạo (chiếm 9,7%), 07 cơ sở ứng dụng bức xạ trong vàng bạc (chiếm 11,3%), 03 cơ sở dịch vụ năng lượng nguyên tử (chiếm 4,8%) và 02 cơ sở hạt nhân (01 cơ sở, chiếm 3,2%)

Các đoàn thanh tra của Cục ATBXHN đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với 03 cơ sở, chuyển hồ sơ cho Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền là 28 triệu đồng

Ngoài việc tiến hành thanh tra chuyên ngành về an toàn hạt nhân đối với lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, điểm mới trong hoạt động thanh tra an toàn hạt nhân năm 2013 của Cục ATBXHN là đã tiến hành đợt thanh tra đối với hoạt động khảo sát, đánh giá địa điểm nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận với việc huy động và phối hợp với các chuyên gia trong các lĩnh vực địa chất, địa chấn, xây dựng, Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng thuộc Bộ Xây dựng

Bên cạnh đó, Cục ATBXHN còn tham gia phối hợp với các đoàn kiểm tra về quản lý chất thải, vệ sinh môi trường và an toàn bức xạ tại các đơn vị y tế do Bộ Y tế tổ chức Hoạt động thanh tra đã phát hiện và rút ra các bài học quan trọng cho công tác quản

lý nhà nước thời gian qua:

- Hệ thống quản lý đảm bảo an toàn bức xạ của nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử chưa được quan tâm đầy đủ và chưa được tổ chức hiệu quả ;

- Việc tổ chức theo dõi liều chiếu xạ cá nhân cho nhân viên bức xạ có nhiều tiến bộ

so với những năm trước đây Tuy nhiên, tại một số đơn vị sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ việc theo dõi liều xạ cá nhân vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo đúng quy định của Pháp luật;

- Vẫn còn tình trạng nhân viên bức xạ nhận liều chiếu cao tại một số đơn vị sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ nhưng không được xử lý và làm rõ nguyên nhân, đặc biệt tại các đơn vị chụp ảnh phóng xạ công nghiệp tiến hành ngoài hiện trường;

- Việc khai báo và xin cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn trường hợp sử dụng thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ không có giấy phép hoặc giấy phép đã hết hạn;

- Vi phạm phổ biến của một số đơn vị xuất nhập khẩu thiết bị có chứa nguồn phóng

xạ là không báo cáo với Cục ATBXHN tình trạng xuất nhập khẩu nguồn theo như điều

Trang 18

18 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

kiện đã được ghi trong giấy phép hoặc sau khi nhập khẩu nguồn phóng xạ không tiến hành xin cấp giấy phép sử dụng theo quy định;

- Một số trường hợp khi ngừng hoạt động, đơn vị không gửi công văn báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân dẫn tới nguy cơ mất kiểm soát đối với các nguồn phóng xạ và các thiết bị bức xạ;

- Việc báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ hàng năm của một số cơ

sở bức xạ cho cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân chưa được thực hiện đầy đủ

Hoạt động thanh tra cũng phát hiện các thiếu sót, bất cập trong công tác quản lý, các quy định còn chưa phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử từ đó đưa ra các đề xuất kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý bảo đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật

và đảm bảo an toàn đối với các đơn vị sử dụng bức xạ và các cơ sở hạt nhân

2 Đánh giá việc thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực an toàn bức xạ qua hoạt động thanh tra ATBXHN của Cục ATBXHN năm 2013

Kết quả đánh giá việc thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực an toàn bức xạ, hạt nhân của các đoàn thanh tra Cục ATBXHN năm 2013 theo các tiêu chí được tổng hợp trong bảng dưới đây

Trang 19

19 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Trang 20

20 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

So sánh kết quả đánh giá việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn bức xạ dựa trên kết quả hoạt động các đoàn thanh tra trong 3 năm gần đây: 2011, 2012, 2013 được trình bày trong biểu đồ dưới đây

Biểu đồ 1: Kết quả thực hiện tốt 16 tiêu chí đánh giá công tác đảm bảo ATBX của các cơ sở

được Cục ATBXHN tiến hành thanh tra các năm 2011, 2012 và 2013

Kết quả đánh giá, so sánh cho thấy một số tiêu chí và chỉ tiêu năm 2013 đã có sự tiến bộ so với những năm trước đây Cụ thể là các chỉ số Quyết định bổ nhiệm người phụ trách ATBX (2), Người phụ trách ATBX đã có chứng chỉ đào tạo về an toàn bức xạ do cơ quan QLNN cấp (3), Thực hiện theo dõi liều cá nhân cho nhân viên bức xạ (4), Công tác quản lý hồ sơ kỹ thuật của thiết bị bức xạ, các chứng chỉ tài liệu liên quan đến nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ (6), Lập sổ theo dõi vận hành thiết bị bức xạ (7), Quy trình hướng dẫn vận hành thiết bị an toàn (8), Thực hiện các quy định về biển báo tại nơi sử dụng nguồn bức xạ, thiết bị bức xạ (13), Thực hiện các yêu cầu của cơ quan QLNN về ATBX và khuyến cáo các đoàn thanh tra trước đây (14), Thực hiện việc đánh giá ATBX và báo cáo định kỳ hàng năm (16) có kết quả cao nhất trong 3 năm gần đây

Các tiêu chí khác như tiêu chí số 1 khai báo, xin cấp phép chỉ số thực hiện tốt có thấp hơn

so với năm 2012 chủ yếu là do các đơn vị không xin cấp phép kịp thời cho các nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ mới có hoặc mới được đưa vào sử dụng

Việc Lập hồ sơ theo dõi sức khỏe cho nhân viên bức xạ định kỳ (tiêu chí số 5) đã được các đoàn thanh tra quan tâm nhắc nhở nhưng vẫn chuyển biến chậm; việc xây dựng và ban hành Nội quy ATBX (tiêu chí số 9) các đơn vị vẫn chưa thực sự quan tâm chú ý thực hiện; Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ (tiêu chí số 10) và Quy chế đảm bảo an ninh nguồn phóng xạ (tiêu chí số 11) các đơn vị đã thực hiện nhưng chất lượng còn chưa đạt yêu cầu

Tiêu chí số 12 Thực hiện kiểm tra chất lượng thiết bị, kiểm xạ định kỳ khu vực làm việc về

cơ bản tình hình vẫn duy trì như những năm trước đây Các đơn vị đã quan tâm, lưu ý thực hiện các quy định về kiểm định, đánh giá an toàn khu vực làm việc Tuy nhiên, vẫn còn phổ biến các sai sót như chưa thực hiện việc kiểm định, đánh giá đúng thời hạn, còn bỏ sót thiết bị cần kiểm

Trang 21

21 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

định hay khu vực cần đánh giá an toàn Tiêu chí 15 Kết quả kiểm tra thực tế tại nơi sử dụng thiết

bị vẫn giữ ở mức như các năm trước

3 Một số nhận xét và đánh giá chung

Nhìn chung, kết quả thanh tra những năm gần đây của Cục ATBXHN cho thấy thông qua hoạt động thanh tra định kỳ hằng năm việc tuân thủ các quy định pháp luật về ATBX của các đơn vị sử dụng bức xạ đã có những chuyển biến rõ rệt và đã đi vào nền nếp Điều này được thể hiện qua chỉ số đánh giá một số tiêu chí đảm bảo ATBX được các đơn vị thực hiện tốt tăng dần

và đạt giá trị khá cao trong những năm gần đây

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa được khắc phục triệt để trong công tác đảm bảo ATBX tại các đơn vị Điều này dẫn đến việc luôn tiềm ẩn các nguy cơ rủi ro, mất an toàn bức xạ nếu công tác thanh tra của Cục ATBXHN không được triển khai đều đặn, chặt chẽ, đạt chất lượng cao

Bên cạnh vai trò động lực thúc đẩy của Cục ATBXHN, nhiệm vụ quản lý bảo đảm an toàn bức xạ, hạt nhân ngày càng đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả hơn của các cơ quan quản

lý về ATBX, đặc biệt là vai trò của cơ quan quản lý ATBX tại các địa phương cần được tăng cường, nâng cao chất lượng công tác quản lý, cương quyết xử lý các sai phạm được phát hiện qua công tác thanh tra nhằm khắc phục và hạn chế tối đa các vấn đề tồn đọng trong công tác đảm bảo ATBX hiện nay./

Trang 22

22 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân

và những đóng góp của Việt Nam vào tiến trình Hội nghị

tổ chức quốc tế tham dự Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ nhất tại Oa-sinh-tơn, Hoa Kỳ năm 2010 Mục đích của Hội nghị nhằm thu hút sự chú ý của các cấp lãnh đạo cao nhất đối với sự cần thiết phải bảo đảm an ninh cho vật liệu hạt nhân và do đó ngăn chặn khủng bố hạt nhân Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ hai được tổ chức tại Xê-un, Hàn Quốc năm

2012 với sự tham gia của 53 nước và 4 tổ chức quốc tế Trong khi HNTĐ lần thứ nhất quan tâm đến việc có được cam kết chính trị của các Nhà Lãnh đạo cấp cao, thì Hội nghị lần thứ hai tập trung vào những tiến bộ đạt được trong quá trình thực hiện các cam kết đã thống nhất tại Hội nghị lần thứ nhất, và Hội nghị lần thứ ba tổ chức tại La Hay, Hà Lan năm 2014 tập trung vào các kết quả đã đạt được và tương lai của cơ chế Hội nghị

Để chuẩn bị cho các HNTĐ, nhiều cuộc họp tư vấn đã được tổ chức Đối với HNTĐ ANHN lần thứ ba năm 2014, quá trình này đã bắt đầu ngay từ năm 2012 Các nhà đàm phán của các nước (được gọi là các sherpa và sous-sherpa) thảo luận những tiến bộ đã đạt được và các chủ

đề chính cũng như kế hoạch và các biện pháp về an ninh hạt nhân để cuối cùng đưa ra một Thông cáo chung (Communiqué) được các Nhà lãnh đạo phê duyệt tại Hội nghị

Hội nghị sous-sherpa tháng 4/2013

1 Tiến trình Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân

Trang 23

23 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ nhất được tổ chức tại Oa-sinh-tơn, Hoa

Kỳ từ ngày 12-13/4/2010 Hội nghị có sự tham dự của Lãnh đạo cấp cao 44 nước (trong đó có các nước lớn như Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, cùng nhiều nước đang phát triển; trong ASEAN có In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan và Việt Nam) và 3 tổ chức quốc tế (Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, Liên hợp quốc và Cộng đồng chung châu Âu)

Phiên toàn thể Hội nghị thượng đỉnh ANHN lần thứ nhất tại Oa-sinh-tơn, Hoa Kỳ

Mục đích chính của Hội nghị này là thúc đẩy hợp tác quốc tế để tăng cường an ninh đối với vật liệu hạt nhân, chống lại việc vận chuyển, chuyển giao trái phép vật liệu hạt nhân và các thông tin công nghệ nhạy cảm, với mong muốn mở rộng các hợp tác song phương thành hợp tác

đa phương trong lĩnh vực này Kết quả của Hội nghị là một Thông cáo chung của các nhà lãnh đạo thế giới, cam kết sẽ áp dụng mức an ninh hạt nhân cao nhất và coi đây là vấn đề mấu chốt cho việc phát triển và mở rộng năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình Ngoài ra, Hội nghị còn thông qua một Kế hoạch làm việc được xây dựng để thực hiện Thông cáo chung Thông cáo chung và Kế hoạch làm việc đã đề cập một cách toàn diện đến tất cả các cơ chế hiện có liên quan đến an ninh hạt nhân Nội dung chính của hai văn kiện này gồm:

- Khuyến khích việc thực hiện các văn bản mang tính ràng buộc về pháp lý như: Nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an về chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, Công ước quốc tế

về ngăn chặn các hành động khủng bố hạt nhân, Công ước bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân và bản Bổ sung cho Công ước;

- Ủng hộ các cơ chế hợp tác đa phương như Sáng kiến toàn cầu chống khủng bố hạt nhân

và Đối tác toàn cầu G8;

- Nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống thanh sát của IAEA cũng như Hệ thống kế toán và kiểm soát hạt nhân của quốc gia và cơ sở hạt nhân; khuyến khích thực hiện theo các Hướng dẫn về an ninh hạt nhân của IAEA nhằm phát hiện, ngăn chặn và đối phó với việc lấy cắp, phá hoại, tiếp cận trái phép, chuyển giao bất hợp pháp vật liệu hạt nhân và các cơ sở sử dụng vật liệu hạt nhân cũng như Kế hoạch hỗ trợ an ninh hạt nhân của IAEA nhằm nâng cao năng lực và hỗ trợ về an ninh hạt nhân đối với các quốc gia thành viên;

- Khuyến khích các quốc gia thúc đẩy và hỗ trợ việc chuyển đổi nhiên liệu urani có độ giàu cao (HEU) xuống urani có độ giàu thấp (LEU) đối với các lò phản ứng nghiên cứu và đảm bảo an ninh cho nhiên liệu HEU đã cháy;

Trang 24

24 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

- Khuyến khích sự tham gia của ngành công nghiệp điện hạt nhân cũng như tất cả các bên liên quan trong vấn đề bảo đảm an ninh hạt nhân;

- Khuyến khích việc chia sẻ thông tin và phát triển năng lực trong việc phát hiện, ngăn chặn và đối phó với việc buôn bán bất hợp pháp vật liệu hạt nhân

Mục đích của Thông cáo chung và Kế hoạch làm việc là nhằm khẳng định cam kết chính trị của các quốc gia, khẳng định tầm quan trọng của các văn kiện, biện pháp hiện có, kêu gọi các quốc gia xem xét việc thực hiện tại quốc gia mình, đồng thời tham gia các cuộc thảo luận, thương lượng và các hình thức hợp tác quốc tế liên quan

Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ hai được tổ chức tại Xê-un, Hàn Quốc, từ

ngày 26-27/3/2014 Tại Hội nghị này, Hàn Quốc đã mời thêm 6 nước, đó là A-déc-bai-zan, Đan Mạch, Ga-bông, Hung-ga-ri, Li-thu-an-ni-a và Ru-ma-ni và một tổ chức quốc tế là Interpol Như vậy, tổng cộng có 53 nước và 4 tổ chức quốc tế tham dự Hội nghị lần này

Hội nghị đã nhất trí thông qua Thông cáo chung khẳng định lại mục tiêu chung về không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân, sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình và tiếp tục đề cao các biện pháp đã nêu ở Hội nghị lần thứ nhất như hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế quản lý quốc gia; chống buôn lậu hạt nhân, đảm bảo an ninh vận tải; đề cao vai trò của các

cơ chế đa phương toàn cầu như IAEA, Liên hợp quốc; tăng cường hợp tác quốc tế Trong bối cảnh sự cố hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) làm dấy lên quan ngại quốc tế về an ninh hạt nhân khi các cơ sở hạt nhân bị mất an toàn do tác động tự nhiên, Thông cáo chung đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa an toàn và an ninh hạt nhân, đề ra các biện pháp mới đảm bảo an toàn và

an ninh hạt nhân như việc thiết kế, xây dựng, quản lý các cơ sở hạt nhân cần được thực hiện đảm bảo cả an toàn và an ninh, khuyến khích trao đổi thông tin về quan hệ tương tác giữa an toàn và

an ninh hạt nhân; khuyến khích các quốc gia xây dựng kế hoạch phù hợp quản lý các vật liệu hạt nhân và chất thải phóng xạ Đồng thời, Thông cáo chung cũng cụ thể hóa một số biện pháp đã nêu ở Hội nghị trước thông qua việc xác định thời gian thực hiện như: khuyến khích các nước phê chuẩn để hướng tới đưa Phần Sửa đổi của Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân có hiệu lực năm 2014; và khuyến khích các nước thông báo các biện pháp tự nguyện giảm thiểu sử dụng u-ran-ni làm giàu cao trước cuối năm 2013

Tại Hội nghị lần này, một số nước tham gia Hội nghị quan tâm đến việc tiến một bước xa hơn trong việc thực hiện các cam kết nêu ra trong các Thông cáo chung Vì vậy, đã đưa ra các Sáng kiến được gọi là “Rổ quà” (gift basket) Các nước đề xuất sáng kiến sẽ đề xuất các nước khác cùng tham gia với mình để trở thành như những khuôn mẫu cho một khía cạnh an ninh hạt nhân cụ thể Năm sáng kiến (được gọi là Gift Basket) thúc đẩy một số lĩnh vực khác nhau trong

an ninh hạt nhân đã được đề xuất, gồm Sáng kiến về An ninh Thông tin (Anh), Sáng kiến về An ninh Nguồn Phóng xạ (Đức), Sáng kiến xây dựng Bộ hướng dẫn Pháp lý quốc gia về An ninh hạt nhân (In-đô-nê-xi-a), Sáng kiến về Chống buôn lậu Hạt nhân (Gióoc-đa-ni) và Sáng kiến về Các Trung tâm Hỗ trợ và Đào tạo An ninh hạt nhân (Mỹ) Nhìn chung, các sáng kiến, đặc biệt sáng kiến của Anh và In-đô-nê-xi-a, được các nước ủng hộ, cam kết thực hiện trên cơ sở tự nguyện và phù hợp điều kiện quốc gia

Trang 25

25 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Các nhà lãnh đạo tại Hội nghị thượng đỉnh ANHN La Hay, Hà Lan Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ ba được tổ chức tại La Hay, Hà Lan, từ

ngày 24-25/3/2014 Hội nghị cũng có sự tham dự của 53 nước và 4 tổ chức quốc tế

Hội nghị lần này được cho là rất thành công với việc các Nhà lãnh đạo cùng cam kết ngăn chặn những kẻ khủng bố lấy được vật liệu hạt nhân có thể sử dụng làm vũ khí hạt nhân Thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần này đưa thêm nhiều cam kết mới, bao gồm:

- Giảm lượng vật liệu hạt nhân nguy hiểm mà khủng bố có thể sử dụng làm vũ khí hạt nhân (urani có độ làm giàu cao và plutoni)

- Cải thiện an ninh đối với vật liệu phóng xạ (bao gồm cả urani có độ làm giàu thấp) có thể sử dụng làm bom bẩn

- Tất cả các quốc gia tham gia HNTĐ ANHN sẽ thực hiện theo các hướng dẫn của IAEA

về an ninh hạt nhân Đặc biệt, 35 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã cam kết đưa các hướng dẫn này vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong nước

- Giám định hạt nhân là một công cụ quan trọng trong đấu tranh chống lại việc sử dụng vật liệu hạt nhân bất hợp pháp vì có thể xác định được nguồn gốc của vật liệu hạt nhân cũng như đường di chuyển của vật liệu hạt nhân

- Tăng cường trao đổi thông tin và hợp tác quốc tế Sự tin tưởng lẫn nhau sẽ cho phép hợp tác hiệu quả hơn và dễ dàng đánh giá liệu vật liệu hạt nhân trên toàn thế giới có được bảo đảm an ninh hay không

- Các quốc gia tham gia HNTĐ ANHN cũng đã đặt cơ sở cho một cấu trúc an ninh hạt nhân hiệu quả và bền vững, bao gồm các điều ước quốc tế, các hướng dẫn và các tổ chức quốc

tế, trong đó IAEA đóng vai trò quan trọng

- Liên quan đến việc sử dụng vật liệu hạt nhân trong các ngành công nghiệp, Hội nghị xác định, chính phủ và các ngành công nghiệp cần hợp tác chặt chẽ Việc bảo đảm an ninh cho

Trang 26

26 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

vật liệu hạt nhân phải được điều chỉnh bằng pháp luật, nhưng cũng không để ảnh hưởng đến hoạt động của các ngành công nghiệp một cách không cần thiết

Tại Hội nghị lần này, 15 sáng kiến đa phương tự nguyện đã được đề xuất

2 Tham dự và những đóng góp của Việt Nam vào tiến trình Hội nghị thượng đỉnh

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh ANHN lần thứ 3

Thủ tướng cũng nêu rõ những đóng góp của Việt Nam vào sự thành công trong tiến trình của Hội nghị Cụ thể là Việt Nam đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật về an ninh hạt nhân, bảo đảm kiểm soát các nguồn phóng xạ, đào tạo đội ngũ cán bộ và xây dựng văn hóa an ninh cho các cơ quan có liên quan, đồng thời tích cực tham gia các công cụ pháp lý và sáng kiến quốc tế

có liên quan đến hạt nhân Từ Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ nhất năm 2010 và lần thứ hai năm 2012 đến Hội nghị lần thứ ba, Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư bổ sung (9/2012); gia nhập và phê chuẩn Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân và Phần Sửa đổi (10/2012); hợp tác với IAEA, Liên bang Nga và Hoa Kỳ hoàn thành việc chuyển trả toàn bộ số nhiên liệu uran có độ làm giàu cao đã qua sử dụng về Liên bang Nga, kết thúc thành công chương trình chuyển đổi nhiên liệu cho Lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt (7/2013); gia nhập Công ước chung

về An toàn quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn quản lý chất thải phóng xạ (10/2013)

Trang 27

27 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Trong khi cùng lãnh đạo các nước thông qua Thông cáo chung của các Hội nghị, Thủ tướng khẳng định đây là các cam kết chính trị sẽ được các nước thực hiện trên cơ sở tự nguyện

và phù hợp với khả năng của mình

Tại Hội nghị lần thứ hai, Việt Nam đã tham gia Sáng kiến về An ninh thông tin và Sáng kiến xây dựng Bộ hướng dẫn Pháp lý quốc gia về An ninh hạt nhân Tại Hội nghị lần thứ ba, Việt Nam tham gia thêm 06 sáng kiến, đó là các sáng kiến về: Tăng cường an ninh của chuỗi cung ứng đường biển, Bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ, Tăng cường thực hiện an ninh hạt nhân, Tuyên bố chung về loại bỏ urani có độ làm giàu cao, Tuyên bố chung an ninh mở rộng, Tuyên bố chung về các Trung tâm đào tạo và hỗ trợ an ninh hạt nhân

3 Tương lai của Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân

Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba, các Nhà lãnh đạo đã có một Phiên toàn thể không chính thức để thảo luận về tương lai của Hội nghị Để làm cơ sở thảo luận, Hà Lan đã mời Trưởng đoàn Pakistan, Trung Quốc, Kazakhstan và Hung-ga-ri đọc tham luận Quan điểm của các nước này có mức độ khác nhau về cơ chế Hội nghị thượng đỉnh Kazakhstan ủng hộ mạnh mẽ cơ chế này và đề nghị được đăng cai Hội nghị tiếp theo sau năm 2016 Hung-ga-ri cũng ủng hộ việc tổ chức Hội nghị Pakistan đề nghị giãn việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh và giữa các Hội nghị thượng đỉnh có thể tổ chức các Hội nghị cấp Bộ trưởng Trung Quốc cho rằng cần thể chế hóa các cam kết của Hội nghị thượng đỉnh Tuy nhiên, đa số các nước tham gia các cuộc họp Sherpa chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh (các nước trong phong trào không liên kết, các nước không

có vũ khí hạt nhân) không nhất trí việc tiếp tục tổ chức Hội nghị thượng đỉnh vì lo ngại các nước lớn sẽ lợi dụng cơ chế này để gây sức ép với các nước khác và vì vậy muốn kết thúc cơ chế này tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư Vì vậy, tại Hội nghị này, các Nhà lãnh đạo nhất trí năm 2016

sẽ tổ chức Hội nghị tại Hoa Kỳ

Thay cho lời kết

Trong tiến trình các Hội nghị thượng đỉnh An ninh hạt nhân, các nước đã nỗ lực để tăng cường an ninh hạt nhân trong nước trên cơ sở Kế hoạch hành động đã được thống nhất tại HNTĐ Oa-sinh-tơn, trong đó đưa ra nhiều biện pháp và hành động cần thực hiện Tại Hàn Quốc, nhiều hành động đã được đưa thêm vào Thông cáo chung Xê-un Tiến trình HNTĐ ANHN là một tiến trình liên tục và từ năm 2009 đến nay, các nhà lãnh đạo trên thế giới cũng như các nhà ngoại giao đã dành nhiều quan tâm hơn đối với vấn đề an ninh hạt nhân

Trang 28

28 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Hoạt động chuẩn bị dự án ODA đầu tư tăng cường năng lực kỹ thuật cho

Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia

Vương Hữu Tấn, Lưu Nam Hải, Nguyễn An Trung

Cục ATBXHN

Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 41/2009/NQ-QH12 phê duyệt đầu tư

dự án điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận, trong đó nêu rõ tổ máy điện hạt nhân đầu tiên dự kiến được khởi công xây dựng vào năm 2014 và vận hành phát điện thương mại năm 2020 Cùng với Chủ đầu tư là Tập đoàn điện lực Việt Nam đang triển khai dự án, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) được Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) giao là đơn vị chuẩn bị cơ sở hạ tầng an toàn cho chương trình phát triển điện hạt nhân, trong đó đặc biệt quan tâm tới xây dựng một cơ quan pháp quy có đủ năng lực và thẩm quyền để quản lý an toàn cho chương trình điện hạt nhân, thực hiện theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và theo thực tiễn tốt nhất từ các cơ quan pháp quy của các quốc gia có nền công nghiệp điện hạt nhân phát triển Dự án “Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy hạt nhân Việt Nam” sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản được bắt đầu xây dựng từ tháng 7/2012 nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách trên

Tính cấp thiết của Dự án

Trong khi trách nhiệm về an toàn của nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) trước tiên phải thuộc về tổ chức vận hành thì Chính phủ phải có trách nhiệm xây dựng được một cơ sở hạ tầng đầy đủ nhằm bảo đảm an toàn đối với chương trình điện hạt nhân quốc gia Theo báo cáo INSAG-22 của IAEA, cơ sở hạ tầng an toàn hạt nhân là một hệ thống các yếu tố và các điều kiện

về kỹ thuật, tổ chức và luật pháp được thiết lập trong một quốc gia để tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc đảm bảo an toàn hạt nhân ở mức cao nhất

Trong các yếu tố của hạ tầng an toàn hạt nhân thì khuôn khổ pháp lý, hệ thống văn bản pháp quy và hệ thống tổ chức quản lý an toàn của Chính phủ đóng vai trò quan trọng nhất Điều này bao hàm việc thiết lập Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia và các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia nhằm đảm bảo kiểm soát pháp quy có hiệu quả đối với các cơ sở và các hoạt động từ việc sử dụng các nguồn phóng xạ đến chương trình điện hạt nhân Đây chính là trách nhiệm của Chính phủ hay phần của Chính phủ đối với “cơ sở hạ tầng an toàn hạt nhân”

Việt Nam đang chuẩn bị cho việc triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, bao gồm NMĐHN Ninh Thuận 1 và 2 Tuy nhiên cơ sở hạ tầng an toàn hạt nhân quốc gia của Việt Nam

vẫn chưa đầy đủ so với các yêu cầu từ tài liệu hướng dẫn của IAEA về “Cơ sở hạ tầng an toàn

cho chương trình điện hạt nhân” (SSG-16) Như vậy, việc đáp ứng các yêu cầu của SSG-16 mà

cụ thể là xây dựng và phát triển năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy hạt nhân độc lập, hiệu quả là nhu cầu cần thiết, khách quan để Cơ quan này có thể thực hiện được chức năng quản lý nhà nước về an toàn đối với chương trình điện hạt nhân quốc gia

Với nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước được quy định trong Luật Năng lượng nguyên tử, Cục ATBXHN phải chịu trách nhiệm hầu hết các nhiệm vụ về cơ sở hạ tầng an toàn hạt nhân, bao gồm: i) phát triển Cơ quan pháp quy hạt nhân và Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan pháp quy (TSO); ii) phát triển khung pháp lý và năng lực kỹ thuật cho quản lý chất thải phóng xạ, quản lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, chuẩn bị và ứng phó sự cố bức

xạ hoặc hạt nhân, vận chuyển vật liệu hạt nhân, quan trắc phóng xạ môi trường, các vấn đề liên quan đến an ninh hạt nhân, thực hiện các công ước điều ước quốc tế liên quan đến hạt nhân, các hoạt động đào tạo về an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và hoạt động nghiên cứu an toàn và an ninh hạt nhân

Trang 29

29 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Để giúp Cục ATBXHN thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm được quy định trong Luật Năng lượng nguyên tử thì sự đầu tư của Chính phủ và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế là rất quan trọng Trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, thực hiện dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, Việt Nam sẽ đề xuất một số dự án viện trợ phát triển (ODA) nhằm hỗ trợ thực hiện Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 Được sự gợi ý từ Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản (METI) về việc hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng an toàn cho chương trình điện hạt nhân quốc gia, mà tập trung vào việc xây dựng năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy hạt nhân thông qua nguồn vốn ODA từ Chính phủ Nhật Bản, Cục ATBXHN đã xây dựng dự án ODA về "Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy Việt Nam" Dự

án ODA này sẽ góp hoàn thiện một phần cơ sở hạ tầng an toàn hạt nhân và hỗ trợ để thực hiện an toàn các dự án điện hạt nhân nói chung và Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 nói riêng

Tư vấn Nhật Bản xây dựng dự án

Trong khuôn khổ hợp tác giữa Cục ATBXHN và Cơ quan phát triển điện hạt nhân Nhật Bản (JINED), ngay từ khi có ý tưởng hình thành Dự án ODA về "Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy Việt Nam", Cục ATBXHN đã trao đổi và hợp tác với JINED nhằm tư vấn, xây dựng Dự án trên

JINED với vai trò là tổ chức đầu mối, điều phối để thu nhận các ý kiến tư vấn của các tổ chức trong hệ thống quản lý an toàn điện hạt nhân của Nhật Bản nhằm học hỏi kinh nghiệm và thực tiễn phát triển của các tổ chức đó Trên cơ sở các ý kiến tư vấn này, JINED giúp Cục ATBXHN hình thành thiết kế của dự án với chức năng và nhiệm vụ của mỗi đơn vị kỹ thuật và xác định năng lực cần thiết (bao gồm nguồn nhân lực, các thiết bị, chương trình tính toán, các quy trình thủ tục nội bộ, quản lý nội bộ) của các đơn vị này Cụ thể:

- Cơ quan Pháp quy hạt nhân Nhật Bản (NRA): bộ phận quản lý của cơ quan pháp quy (nguồn nhân lực, quản lý và các cơ quan liên quan), bộ phận thanh tra, bộ phận cấp phép;

- Tổ chức An toàn hạt nhân Nhật Bản (JNES): Đánh giá và thẩm định an toàn, đảm bảo chất lượng, thanh tra, nghiên cứu và đào tạo về an toàn và an ninh hạt nhân, bảo vệ thực thể, kiểm toán vật liệu hạt nhân, Trung tâm Ứng phó và thực hiện các công ước điều ước quốc tế liên quan đến an toàn (nguồn nhân lực, hồ sơ và các thiết bị liên quan);

- Viện Khoa học bức xạ quốc gia (NIRS): bảo vệ bức xạ, quan trắc bức xạ môi trường, chuẩn bị và ứng phó khẩn cấp đối với sự cố bức xạ và hạt nhân (nguồn nhân lực, hồ sơ và các trang thiết bị liên quan);

- Cơ quan Năng lượng nguyên tử Nhật Bản (JAEA): Trung tâm đào tạo an toàn và an ninh hạt nhân; nghiên cứu về an toàn lò phản ứng nghiên cứu, nhà máy điện hạt nhân, chất thải phóng xạ, nhiên liệu đã qua sử dụng và vận chuyển nhiên liệu hạt nhân (nguồn nhân lực, hồ sơ

và các trang thiết bị liên quan)

Quá trình chuẩn bị

Ngày 12/07/2012, Bộ trưởng Bộ KHCN đã gửi Công văn số 1923/BKHCN-ATBXHN tới

Bộ Công thương đề nghị cho phép bổ sung Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng an toàn phục vụ chương trình điện hạt nhân quốc gia vào danh mục các dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản năm 2013 cho thực hiện dự án NMĐHN Ninh Thuật 2

Ngày 27/07/2012, Bộ trưởng Bộ KHCN đã gửi Công văn số 2013/ BKHCN-ATBXHN gửi tới Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Ngoại giao đề nghị sớm có ý kiến chính thức sang các Bộ liên quan của Nhật Bản, đưa nội dung đề xuất từ phía Bộ KHCN về Dự án đầu

tư xây dựng cơ sở hạt tầng an toàn phục vụ chương trình điện hạt nhân quốc gia vào nội dung trao đổi tại cuộc họp giữa METI và Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao Nhật Bản, trong đó xem xét các

đề xuất từ phía Việt Nam liên quan đến các dự án ODA cho chương trình điện hạt nhân

Ngày 10/06/2013, Bộ trưởng đã gửi Công văn số 1667/ BKHCN-ATBXHN tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị bổ sung Dự án “Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy

Trang 30

30 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

của Việt Nam” vào danh mục các dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản năm

2014, sau khi Cục ATBXHN đã hoàn thiện bản đề xuất dự án với sự tham vấn của Cơ quan Phát triển điện hạt nhân Nhật Bản (JINED)

Ngày 2 tháng 1 năm 2014 Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đã họp phiên thứ 9 và tại Thông báo số 7/TB-VPCP ngày 8 tháng 1 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận (Phiên họp thứ chín) đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm việc với các đối tác có liên quan của Nhật Bản về tài trợ ODA cho việc thực hiện dự án tăng cường năng lực cho Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia

Dự án ODA “Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia”

Mục tiêu tổng quan

Tăng cường năng lực kỹ thuật cho Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia và Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia trong việc đảm bảo an toàn, an ninh và thanh sát trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, đặc biệt trong phát triển điện hạt nhân

Cơ quan nhận viện trợ

Cục An toàn bức xạ và hạt nhân

Cơ quan chủ quản

Bộ Khoa học và Công nghệ

Mô hình phát triển của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia và các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật

Mô hình của Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia bao gồm hệ thống các đơn vị quản lý nhà nước và các tổ chức sự nghiệp thực hiện chức năng hỗ trợ kỹ thuật Ước tính số lượng cán

bộ của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia và các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật liên quan cho tới năm

2020 là 300-350 cán bộ

Trang 31

31 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Văn phòng thanh tra thường trực tại Ninh Thuận

Thanh tra Cơ quan pháp quy

Vụ Tiêu chuẩn an toàn

Vụ Pháp chế và Chính sách

Vụ Đăng ký và Cấp phép

Vụ Hợp tác quốc tế

Trung tâm Đào tạo

Trung tâm quốc gia về chuẩn bị và ứng phó sự cố

Trung tâm ứng phó sự cố tại Ninh Thuận

Trung tâm quốc gia về an toàn bức

xạ và quan trắc môi trường

Trung tâm nghiên cứu bảo vệ bức xạ

Trung tâm hỗ trợ các hoạt động

thanh tra

Trung tâm vùng tại Tp Hồ Chí Minh,

Đà Lạt, Quảng Ninh, Đà Nẵng

Trung tâm thông tin an

toàn và an ninh hạt nhân

Trung tâm An ninh và Thanh

Trang 32

32 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Sản phẩm của Dự án

- Sản phẩm của dự án là xây dựng được Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia có năng lực với các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật, các trung tâm khu vực và các văn phòng khu vực của Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia;

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại của Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia;

- Nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia

Tác động của dự án

- Dự án sẽ đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện hạ tầng an toàn quốc gia cho chương trình điện hạt nhân của nước ta, đặc biệt là đối với phần hạ tầng an toàn hạt nhân thuộc trách nhiệm của Chính phủ Điều này sẽ góp phần tạo sự tin cậy của công chúng và qua đó tạo được sự đồng thuận đáng kể từ phía dân chúng cho chủ trương xây dựng NMĐHN của Đảng và Nhà nước;

- Dự án sẽ góp phần thực hiện an toàn các Dự án NMĐHN ở Việt Nam;

- Dự án sẽ hỗ trợ nâng cao năng lực của Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia trong các hoạt động đánh giá và thẩm định báo cáo phân tích an toàn trong quá trình cấp phép các NMĐHN và đảm báo chất lượng, thanh tra trong việc thực hiện các dự án MNĐHN;

- Dự án sẽ nâng cao năng lực quốc gia về nghiên cứu an toàn và an ninh hạt nhân, bảo vệ bức

xạ, chuẩn đo lường bức xạ, phóng xạ môi trường, đánh giá tác động môi trường phóng xạ, bảo vệ thực thể và kiểm soát vật liệu hạt nhân;

- Dự án sẽ nâng cao năng lực quốc gia trong việc chuẩn bị và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân;

- Dự án sẽ nâng cao năng lực quốc gia trong việc quan trắc phóng xạ môi trường;

- Dự án sẽ nâng cao năng lực quốc gia trong giáo dục và đào tạo về an toàn và an ninh hạt nhân

Trang 33

33 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ THẨM ĐỊNH BÁO CÁO PHÂN TÍCH AN TOÀN

DỰ ÁN ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN

Vương Hữu Tấn, Lê Chí Dũng, Nguyễn An Trung

Cục ATBXHN

I Lời mở đầu

Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận Theo kế hoạch, NMĐHN Ninh Thuận 1 (thông qua hợp tác với Nga) sẽ được khởi công xây dựng vào năm 2014 và năm 2020/2021 sẽ đưa tổ máy điện hạt nhân đầu tiên vào vận hành thương mại NMĐHN Ninh Thuận 2 (thông qua hợp tác với Nhật Bản) sẽ đi vào vận hành thương mại một năm sau đó Tuy nhiên với nguyên tắc thận trọng, đảm bảo

an toàn như là một vấn đề ưu tiên cao nhất, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nguyên tắc sẽ không khởi công xây dựng NMĐHN cho tới khi cơ sở hạ tầng an toàn điện hạt nhân được đáp ứng theo từng giai đoạn

Về mặt quản lý nhà nước, chương trình điện hạt nhân được thực hiện theo các giai đoạn khác nhau, từ quyết định chủ trương đầu tư, lựa chọn địa điểm, phê duyệt dự án đầu tư, cấp phép xây dựng, vận hành thử, cấp phép vận hành chính thức, quản lý an toàn trong giai đoạn vận hành cho tới khi tháo dỡ Hiện tại, Việt Nam đang ở giai đoạn phê duyệt địa điểm và phê duyệt dự án đầu tư

Theo quy định của Nghị định 70/2010/NĐ-CP ngày 26/10/2010, cũng như theo thông lệ quốc tế, Báo cáo phân tích an toàn (PTAT) là tài liệu cốt lõi và quan trọng nhất trong việc đánh giá

an toàn NMĐHN Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) có trách nhiệm thẩm định Báo cáo này tại các giai đoạn khác nhau của dự án ĐHN

Tháng 01/2014, chủ đầu tư Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã nộp cho Bộ KHCN Báo cáo PTAT giai đoạn phê duyệt địa điểm và dự án đầu tư cho NMĐHN Ninh Thuận 2 (do tư vấn Nhật Bản JAPC lập) và theo kế hoạch vào quý III/2014, chủ đầu tư sẽ hoàn tất và nộp Báo cáo PTAT cho dự án NMĐHN Ninh Thuận 1 (do tổ hợp tư vấn E4-EPT-KIEP lập)

II Công tác chuẩn bị cho thẩm định Báo cáo Phân tích an toàn

Theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và kinh nghiệm của các quốc gia có điện hạt nhân, thì Việt Nam cần thuê tư vấn quốc tế hỗ trợ phần lớn các công việc có liên quan đến hoạt động thẩm định an toàn đối với nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Nhờ đó, cán bộ của Việt Nam sẽ dần nâng cao trình độ và tăng dần tỉ lệ tự thẩm định ở những nhà máy điện hạt nhân tiếp theo

Theo đó, tại văn bản số 07/TB-VPCP ngày 08/01/2014 thông báo kết luận phiên họp 9, cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao Bộ KHCN chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) khẩn trương xây dựng một gói thầu tư vấn chung để thuê nhà thầu tư vấn độc lập quốc tế thẩm định đồng thời cả Báo cáo

Trang 34

34 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

PTAT và Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trong giai đoạn phê duyệt địa điểm và phê duyệt dự án đầu tư

Cục An toàn bức xạ và hạt nhân đã triển khai công tác chuẩn bị cho thẩm định Báo cáo PTAT như sau

1 Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Bộ KHCN đã giao Cục ATBXHN xây dựng Thông tư quy định nội dung Báo cáo PTAT trong hồ sơ phê duyệt dự án đầu tư (dự kiến ban hành trong tháng 4/2014), Thông tư hướng dẫn thẩm định báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ phê duyệt địa điểm nhà máy điện hạt nhân (dự kiến ban hành trong tháng 4/2014), Thông tư Hướng dẫn thẩm định báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ phê duyệt báo cáo FS dự án nhà máy điện hạt nhân (dự kiến ban hành trước tháng 6/2014),Thông tư quy định nội dung Báo cáo PTAT trong hồ sơ cấp phép xây dựng (dự kiến ban hành trong tháng 10/2014) và Thông tư quy định Phân tích an toàn tất định và phân tích an toàn xác suất (dự kiến ban hành trong tháng 10/2014) Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về việc dựa vào các quy định pháp quy của IAEA trong việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam phục vụ triển khai dự án điện hạt nhân, Cục ATBXHN đã kiến nghị

sử dụng hướng dẫn của IAEA về nội dung báo cáo phân tích an toàn cũng như các yêu cầu an toàn của IAEA trong việc thẩm định các nội dung của Báo cáo phân tích an toàn Khi đó việc xây dựng các văn bản phục vụ cho công tác thẩm định sẽ đơn giản và nhanh chóng

Bộ KHCN đã giao Cục ATBXHN làm việc với Phòng Thẩm định an toàn của IAEA (IAEA/SAS) để xây dựng hệ thống các yêu cầu an toàn đòi hỏi khi thẩm định từng chương của Báo cáo PTAT dựa theo các tiêu chuẩn an toàn của IAEA Đây là cơ sở quan trọng để đưa vào hồ sơ yêu cầu đối với tư vấn quốc tế trợ giúp cho Cục ATBXHN thẩm định Báo cáo PTAT cùng với các yêu cầu riêng của Việt Nam đã có trong các thông tư, tiêu chuẩn đã ban hành

2 Xây dựng Hồ sơ mời thầu tư vấn quốc tế

Theo chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận tại phiên họp Ban chỉ đạo lần thứ 9 về việc thống nhất một gói thầu tư vấn thẩm định đồng thời báo cáo PTAT và Báo cáo ĐTM, Cục ATBXHN và Cục Đánh giá tác động môi trường đã làm việc, thống nhất kế hoạch và chuẩn bị hồ sơ cho mời thầu tư vấn quốc tế, bao gồm xin phép Thủ tướng Chính phủ về nguồn vốn, tổng chi phí và hình thức mời thầu

Cục ATBXHN đã làm việc với Phòng Thẩm định an toàn của IAEA/SAS để tư vấn trong việc xây dựng các yêu cầu thẩm định an toàn theo các chương của Báo cáo PTAT

3 Xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ hỗ trợ công tác chuẩn bị và tổ chức thẩm định

Song song với việc chuẩn bị cho mời thầu tư vấn quốc tế, Cục ATBXHN đề xuất xây dựng một nhiệm vụ khoa học và công nghệ hỗ trợ cho công tác chuẩn bị và tổ chức thẩm định với mục tiêu:

Trang 35

35 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

- Đánh giá tính đầy đủ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn pháp quy và tiêu chuẩn an toàn cần thiết phục vụ công tác thẩm định Báo cáo PTAT và ĐTM;

- Đánh giá tính đầy đủ của hồ sơ Báo cáo PTAT và ĐTM do EVN trình để có thể chấp nhận tiến hành thẩm định chính thức;

- Nghiên cứu đề xuất các nội dung, yêu cầu thẩm định để đưa vào Hồ sơ mời thầu tư vấn quốc tế;

- Nghiên cứu xây dựng chương trình quản lý chất lượng để giám sát hoạt động của nhà thầu

tư vấn quốc tế;

- Tổ chức thực hiện quản lý, giám sát việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu tư vấn quốc tế theo chương trình quản lý chất lượng đã được phê duyệt;

- Tổ chức phối hợp làm việc giữa nhà thầu tư vấn quốc tế với đại điện chủ đầu tư (EVN hoặc

tư vấn của EVN) để thảo luận về các nội dung thẩm định mà nhà thầu tư vấn quốc tế của Bộ KHCN

Để triển khai thực hiện nhiệm vụ này, Bộ KHCN đề xuất phối hợp với Bộ TNMT thành lập

12 nhóm chuyên gia kỹ thuật Các nhóm chuyên gia kỹ thuật bao gồm trưởng nhóm, các chuyên gia chủ chốt và các trợ lý giúp việc của các nhóm Trưởng nhóm và các chuyên gia chủ chốt là các chuyên gia đầu ngành của Việt Nam trong các lĩnh vực có liên quan của Báo cáo SAR và Báo cáo EIA được huy động từ các cơ quan khác nhau ở trong nước Các trợ lý giúp việc phần lớn là cán bộ của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân và Cục Thẩm định đánh giá tác động môi trường Các trợ lý giúp việc đã có thời gian được đào tạo về các nội dung có liên quan trong Báo cáo SAR và Báo cáo EIA

Thông qua nhiệm vụ này, Việt Nam sẽ đào tạo đội ngũ chuyên gia, để trong các dự án điện hạt nhân tiếp theo thì chuyên gia Việt Nam có thể từng bước tự thực hiện được việc thẩm định Báo cáo PTAT và ĐTM

Hình thức hoạt động của các nhóm chuyên gia là nghiên cứu hồ sơ, tài liệu của Báo cáo PTAT và ĐTM; trao đổi thảo luận với các nhà thầu tư vấn quốc tế và tổ chức các buổi làm việc giữa nhà thầu tư vấn quốc tế với chủ đầu tư EVN về các nội dung liên quan của Báo cáo PTAT và ĐTM

để có thể đi đến thống nhất kết quả thẩm định các Báo cáo này; phối hợp các hoạt động thẩm định

hồ sơ và kiểm tra thực địa Trong trường hợp cần thiết, phải phối hợp các công việc kiểm tra phương pháp và kết quả thực nghiệm, mô phỏng

Trang 36

36 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Đây là một loại nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất mới phát sinh phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân và công tác quản lý nhà nước về môi trường đối với dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Các chuyên gia trưởng nhóm và chuyên gia chủ chốt đều là các cán bộ kiêm nhiệm, thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến bảo đảm an toàn dự án điện hạt nhân, vì vậy nên có chế độ đãi ngộ đặc thù, tính theo sản phẩm khoa học đặc thù, không thể dựa theo các quy định hiện hành được tính theo sản phẩm khoa học là các chuyên đề nghiên cứu như hiện nay đối với các đề tài nghiên cứu khoa học

4 Yêu cầu trợ giúp của IAEA về thẩm định an toàn địa điểm

An toàn địa điểm nhà máy điện hạt nhân là vấn đề quan trọng đầu tiên phải được quan tâm khi triển khai thực hiện dự án Vì vậy Cục ATBXHN đã tổ chức nhiều buổi làm việc với Trung tâm quốc tế về an toàn động đất của IAEA để yêu cầu các trợ giúp cần thiết cả trong việc xây dựng các văn bản quy phạm, tiêu chuẩn an toàn và trong hoạt động thẩm định, đăc biệt khi có ý kiến khác nhau của tư vấn và chuyên gia Việt Nam về các vấn đề liên quan

Đối với công tác thẩm định an toàn địa điểm, Cục ATBXHN đã thống nhất với IAEA về hoạt động trợ giúp xem xét đánh giá báo cáo của tư vấn quốc tế, hỗ trợ hoàn thiện công tác thẩm định trước khi trình cho Bộ KHCN và Hội đồng thẩm định Nhà nước

III Kết luận

Thẩm định an toàn cho NMĐHN là công việc rất phức tạp và hoàn toàn mới ở nước ta, có yêu cầu cao về trình độ cán bộ mà hiện nay Việt Nam chưa thể tự thực hiện được Việc mời tư vấn nước ngoài giúp cơ quan quản lý nhà nước trong thẩm định Báo cáo PTAT và Báo cáo ĐTM đối với

dự án ĐHN đầu tiên là cần thiết, và thông qua đó cán bộ của Việt Nam sẽ dần nâng cao trình độ và tăng dần tỉ lệ tự thẩm định ở những NMĐHN tiếp theo.Trong thời gian qua, vấn đề này đã được đặt

ra và chúng ta đã có những chuẩn bị nhất định trong vấn đề này Kết quả đạt được trong thời gian qua là rất đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều điều cần phải làm trong thời gian tới

Trang 37

37 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

CUỘC HỌP ĐÁNH GIÁ LẦN 6 CÔNG ƯỚC AN TOÀN HẠT NHÂN

VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐOÀN VIỆT NAM

Lê Chí Dũng, Nguyễn An Trung

Cục An toàn bức xạ và hạt nhân

Nguyễn Mạnh Tuấn

Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Áo

Theo Ủy nhiệm thư của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ngày 14/3/2013, Đoàn Việt Nam dưới sự dẫn đầu của ông Lê Chí Dũng, Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) đã tham dự Cuộc họp đánh giá (Review Meeting) lần 6 theo Công ước An toàn hạt nhân (CNS)1 từ ngày 24/3-4/4/2014 tại Viên (Áo) Tham gia đoàn công tác còn có ông Nguyễn An Trung, Trưởng phòng An toàn hạt nhân, Cục ATBXHN và ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Tham tán công sứ, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Áo

Cuộc họp đánh giá lần 6 có sự tham dự của 69/76 quốc gia thành viên Công ước Cơ quan Năng lượng hạt nhân NEA/OECD tham dự với tư cách quan sát viên

Ghi chú ảnh: Phiên khai mạc cuộc họp đánh giá lần 6 Công ước An toàn hạt nhân, ngày 24/3/2014 tại Trụ sở IAEA, Vienna, Áo

Để chuẩn bị cho cuộc họp đánh giá lần này, Việt Nam đã gửi Báo cáo quốc gia theo quy định của CNS Báo cáo quốc gia được gửi đăng tải trên Website của CNS và đã nhận được 79 câu hỏi của các quốc gia thành viên Việt Nam đã trả lời tất cả các câu hỏi theo hạn định

Ngoài các phiên họp toàn thể, cuộc họp đánh giá CNS có các phiên họp nhóm (viết tắt là CG) Theo các cuộc họp trù bị trước đó, cuộc họp đánh giá lần 6 được tổ chức thành 6 CG Mỗi CG bao gồm các quốc gia có chương trình điện hạt nhân với phạm vi khác nhau, các quốc gia không có điện hạt nhân và các quốc gia đang phát triển chương trình điện hạt nhân Việt Nam thuộc nhóm 1 (CG1)

1

Thông tin bổ sung: Công ước An toàn hạt nhân (CNS), có hiệu lực từ ngày 24/10/1996 Mục tiêu của Công

ước là hướng dẫn bảo đảm duy trì an toàn hạt nhân ở mức độ cao trên toàn thế giới Công ước không mang tính bắt buộc, mà khuyến khích các bên tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn được quốc tế công nhận

Việt Nam ký tham gia CNS từ năm 2010 Sau khi trở thành thành viên chính thức, Việt Nam đã tham gia cuộc họp đánh giá lần thứ 5 (năm 2011) và cuộc họp bất thường sau sự cố Fukushima (năm 2012)

Trang 38

38 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

I CÁC PHIÊN HỌP TOÀN THỂ

1 Phiên họp toàn thể sáng ngày 24/3/2014

Phát biểu khai mạc, Phó Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Denis Flory nhấn mạnh những nỗ lực mà IAEA và các quốc gia thành viên đã thực hiện sau 3 năm xảy ra tai nạn Fukushima về các vấn đề tăng cường an toàn hạt nhân, ứng phó sự cố và bảo vệ bức xạ, tiến hành các cuộc đánh giá đồng cấp (peer review mission) và tăng cường khung pháp lý quốc tế

Chủ tịch của Cuộc họp đánh giá lần 6, ông André-Claude Lacoste, nhấn mạnh tầm quan trọng của các cuộc họp đánh giá là cơ hội để các quốc gia thành viên cùng thảo luận và đưa ra những giải pháp tăng cường an toàn hạt nhân trên toàn thế giới

Trong phát biểu của mình, ông André-Claude Lacoste mong muốn cuộc họp đánh giá lần 6 sẽ đạt được 3 mục tiêu chính:

- Có những thảo luận chất lượng cao, sôi động với phạm vi rộng, trong đó có những cam kết mang tính thực chất bởi tất cả các quốc gia thành viên;

- Cải thiện cơ chế hoạt động và nâng cao hiệu quả của Công ước CNS;

- Thống nhất quan điểm về các bài học thu được sau sự cố Fukushima

2 Phiên họp toàn thể trong tuần từ 31/3-4/4/2014

Phiên họp toàn thể trong tuần từ 31/3-4/4/2014 (sau khi kết thúc họp nhóm) đề cập tới các vấn đề sau đây:

a) Các hành động của cộng đồng an toàn hạt nhân sau sự cố Fukushima

Sau khi đã được thống nhất tại Phiên họp bất thường lần 2 (năm 2012), các quốc gia thành viên đã thông qua kế hoạch hành động thực hiện sau sự cố Fukushima, đưa việc thực hiện kế hoạch vào báo cáo quốc gia cũng như báo cáo tại hội nghị

Về cơ bản, hành động của các quốc gia bao gồm: tăng cường các biện pháp và thiết kế an toàn cho các NMĐHN đang hoạt động, cải thiện công tác chuẩn bị và ứng phó sự cố, tăng cường khung pháp quy quốc gia bảo đảm tính độc lập và năng lực của cơ quan pháp quy, rà soát và sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế thông qua các đoàn đánh giá đồng cấp (peer review mission) và trao đổi thông tin

Cuộc họp ghi nhận: giữa các quốc gia vẫn tồn tại sự khác biệt về mục tiêu, ưu tiên và tiến trình thực hiện các biện pháp tăng cường an toàn Các yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt là: điều kiện tự nhiên khác nhau, trong đó có các sự kiện tự nhiên cực đoan, cách tiếp cận khác nhau trong hoạt động pháp quy Cuộc họp đã thống nhất việc thiết lập và sử dụng mục tiêu an toàn chung cho việc thực hiện các biện pháp tăng cường an toàn

Các báo cáo cho thấy, các quốc gia đang tập trung nguồn lực vào việc giải quyết các mối nguy hại tự nhiên, mà đôi khi có thể không lưu ý đúng mức đến nguy hại do con người gây ra

Một số biện pháp đã được thực hiện để duy trì tính toàn vẹn của boong-ke lò, trong đó có sử dụng khái niệm duy trì vùng hoạt bên trong thùng lò (in-vessel core retention) Tuy nhiên, biện pháp này còn nhiều yếu tố bất định cần phải được đánh giá Báo cáo cũng cho thấy, các bài học thu được sau sự cố Three Mile Island trong việc duy trì tính toàn vẹn của boong-ke lò chưa được một số quốc gia áp dụng một cách đầy đủ

b) Đề xuất sửa đổi CNS của Thụy Sỹ

Đề xuất của Thụy Sỹ là bổ sung thêm một khoản mới trong Điều 18 của Công ước (về thiết kế và xây dựng NMĐHN), cụ thể “Nuclear power plants shall be designed and constructed with the objectives of preventing accidents and, should an accident occur, mitigating its effects and avoiding releases of radionuclides causing long-term off-site contamination In order to identify and implement appropriate safety improvements, these objectives shall also be applied at existing plants”

Trang 39

39 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

Đề xuất này được đưa ra sau khi nghiên cứu bài học từ các sự cố (nghiêm trọng) trước đây đã để xảy

ra phát tán phóng xạ ra ngoài nhà máy gây ảnh hưởng lâu dài cho con người và môi trường

Đề xuất này có lợi cho các quốc gia đang xem xét cấp phép xây dựng các lò phản ứng nhà máy điện hạt nhân mới

Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ và Đại sứ Việt Nam tại Áo, Đoàn Việt Nam đã bỏ phiếu ủng hộ đề xuất của Thụy Sĩ2

Kết quả có 42 phiếu ủng hộ, 2 phiếu chống (Hoa Kỳ và Canada, với lý do sẽ mất rất nhiều thời gian cho quy trình, thủ tục thông qua một Công ước được sửa đổi), 12 phiếu trắng Nhật và các nước EU bỏ phiếu ủng hộ, Nga và Hàn Quốc bỏ phiếu trắng Dựa trên kết quả bỏ phiếu này, Cuộc họp đánh giá đã thông qua kế hoạch tổ chức Hội nghị ngoại giao (Diplomatic Conference) trong vòng 1 năm tới để tiếp tục thảo luận về đề xuất này

c) Một số vấn đề khác

Tại phiên họp toàn thể sáng 31/3/2014, khi đại diện CG1 trình bày báo cáo tóm tắt về Việt Nam, đại diện đoàn Pháp nhấn mạnh: các quốc gia xuất khẩu điện hạt nhân cho Việt Nam, đặc biệt là cơ quan pháp quy của các quốc gia đó cần có trách nhiệm đối với an toàn hạt nhân ở Việt Nam Yêu cầu này đã được đưa vào báo cáo cuối cùng của cuộc họp tại mục về hợp tác quốc tế giữa các quốc gia thành viên bắt đầu hoặc khởi động lại chương trình điện hạt nhân và các quốc gia bán công nghệ

Cuộc họp đã đồng ý rằng, các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết cho quốc gia láng giềng về nhà máy điện hạt nhân được xây dựng gần biên giới, nhằm giúp các quốc gia láng giềng đánh giá tác động có khả năng xảy ra trên vùng lãnh thổ của mình Việc tham vấn giữa các quốc gia về mối nguy hại của các ảnh hưởng xuyên biên giới cần được xây dựng dựa trên cơ chế trao đổi thông tin đầy đủ

và minh bạch, từ đó giúp thiết lập các biện pháp chuẩn bị và ứng phó sự cố một cách hài hòa

Tính độc lập của cơ quan pháp quy, trong đó đề cập tới yêu cầu về sự phân tách có hiệu quả giữa chức năng của cơ quan pháp quy với chức năng của các tổ chức chịu trách nhiệm thúc đẩy và sử dụng năng lượng nguyên tử

II HỌP NHÓM CG1

CG1 có các quốc gia thành viên sau đây

- Quốc gia có điện hạt nhân: Hoa Kỳ, Argentina, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hà Lan;

- Quốc gia không có điện hạt nhân: Ý (hiện tại các NMĐHN tại Ý đều đóng cửa) Peru, Singapore, Việt Nam, Luxembourg, Estonia, Ireland, Bosnia và Herzegovina

Các quốc gia có điện hạt nhân trình bày báo cáo quốc gia từ 3-4,5 tiếng, các quốc gia không có điện hạt nhân trình bày báo cáo quốc gia trong khoảng 1,5 tiếng

Các đại biểu thể hiện sự quan tâm đến chương trình điện hạt nhân của Việt Nam, nên đã đặt ra nhiều câu hỏi cho đoàn Việt Nam:

- Ireland: Việc chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân như thế nào? Đặc biệt về hệ thống pháp qui? Có rút kinh nghiệm từ sự cố Fukushima không? Số lượng và chất lượng cán bộ pháp qui hiện nay và trong tương lai? Phái đoàn IRRS cuối năm làm việc tại Việt Nam sẽ đánh giá thực tại hay cả tương lai?

- Singapore: Xây dựng nhà máy điện chậm 03 hay 06 năm? Vấn đề cấp phép như thế nào? Có nhiều

cơ quan tham gia vào quá trình này, vậy quyền lực và trách nhiệm của VARANS về an toàn hạt nhân như thế nào? VARANS có thể dừng lò hạt nhân được không? Nguồn nhân lực chuẩn bị thế nào trước việc Việt Nam

áp dụng 02 hệ thống công nghệ hạt nhân khác nhau? Việt Nam có hệ thống thông tin trao đổi với các nước láng giềng trong trường hợp sự cố xảy ra hay không?

2 Thông tư 30/2012/TT-BKHCN về an toàn trong thiết kế nhà máy điện hạt nhân mới ban hành trong năm

2012 của Việt Nam cũng đưa ra yêu cầu này.

Trang 40

40 Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS

- Arhentina: Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của VARANS? Quan hệ giữa VARANS với Hội đồng

An toàn hạt nhân quốc gia? Quan hệ giữa VARANS với các đơn vị an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân tại các tỉnh? Vấn đề chọn địa điểm và nhà cung cấp thiết bị? Vấn đề minh bạch thông tin với người dân địa phương?

- Thụy Điển: Về hiệu quả độc lập của hệ thống cấp phép, có bảo đảm tách bạch giữa 02 nhiệm vụ thúc đẩy và an toàn không? Việt Nam đang phát triển các hệ thống công nghệ khác nhau Vậy Việt Nam có

dự định xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật chung không? Trong quá trình xây dựng có nêu thêm yêu cầu

về an toàn hạt nhân cho các nhà thầu xây dựng không?

- Hoa Kỳ: Việt Nam có hệ thống tiêu chuẩn thiết kế chung khi cùng lúc áp dụng 02 hệ công nghệ hạt nhân của 02 nước khác nhau hay không? Sau sự cố Fukushima, Việt Nam có sửa đổi hệ tiêu chí không?

- Ba Lan: Việt Nam có đề nghị quốc tế giúp đỡ VARANS đánh giá các báo cáo về địa điểm, báo cáo tiền khả thi không?

- Nga: VARANS cử nhiều cán bộ đào tạo ở nước ngoài Họ có chuyển giao kiến thức khi về Việt Nam không?

Đại biểu Việt Nam đã trả lời thỏa đáng các câu hỏi này

Trên cơ sở báo cáo quốc gia, hỏi – đáp tại các phiên họp, các thành viên dự họp thống nhất những ý kiến tổng hợp, nhận xét đối với mỗi quốc gia

III HỌP BÊN LỀ

Bện cạnh việc tham gia các phiên họp toàn thể, họp nhóm quốc gia, đoàn Việt Nam còn tham dự các cuộc họp như:

- Nghe báo cáo của đoàn Nga;

- Nghe báo cáo của đoàn Nhật Bản;

- Nghe báo cáo của đoàn Trung Quốc;

- Nghe báo cáo về đề xuất sửa đổi Công ước của Thụy Sĩ;

- Nghe báo cáo về đề xuất sửa đổi Hướng dẫn của Pháp;

- Trao đổi ý kiến với đoàn Trung Quốc về thực hiện quy định “openess and transparency” của CNS;

- Trao đổi ý kiến với chuyên gia IAEA chuẩn bị cho đoàn IRRS làm việc tại Việt Nam tháng 10/2014

9-IV NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐOÀN VIỆT NAM

Việc tham dự và báo cáo tại cuộc họp của Đoàn Việt Nam đã đạt được nhiều mục tiêu:

- Trình bày rõ chủ trương, kế hoạch, quá trình triển khai dự án và nỗ lực bảo đảm an toàn cho chương trình điện hạt nhân của Việt Nam Báo cáo đã nêu rõ cả cái tốt và cái chưa hoàn thiện để tranh thủ sự chia sẻ kinh nghiệm của các nước

- Những vấn đề các quốc gia đặt ra cho Việt Nam cũng chính là những điểm yếu, những khó khăn, thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt Một, hệ thống các cơ quan pháp qui phức tạp, không độc lập, chưa phân tách chức năng thúc đẩy và bảo đảm an toàn, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, nhất là sau sự cố Fukushima Hai, thách thức nguồn nhân lực, nhất là khi Việt Nam sử dụng 02 công nghệ từ các quốc gia khác nhau Ba, vấn đề xây dựng hệ thống tiêu chuẩn thiết kế chung Bốn, vấn đề thông tin cho các nước láng giềng khi xảy ra sự cố Năm, vấn đề minh bách thông tin, đặc biệt với người dân Sáu, vấn đề hợp tác quốc tế giữa các cơ quan pháp qui Bảy, năng lực của cơ quan pháp quy Những vấn đề này ta đã nhận được sự chia sẻ kinh nghiệm từ các quốc gia có quy mô chương trình điện hạt nhân khác nhau

- Việt Nam cũng tranh thủ được những vấn đề nêu trong Báo cáo cuối của cuộc họp phục vụ cho yêu cầu của mình Một, các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết cho các quốc gia

Ngày đăng: 23/07/2014, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Một số hệ thống an toàn thụ động trong lò AP1000 - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Bảng 1. Một số hệ thống an toàn thụ động trong lò AP1000 (Trang 43)
Bảng 3. Một số hệ thống an toàn thụ động trong công nghệ lò VVER-1200/AES-2006 - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Bảng 3. Một số hệ thống an toàn thụ động trong công nghệ lò VVER-1200/AES-2006 (Trang 44)
Bảng 2. So sánh việc sử dụng một số hệ thống an toàn thụ  động trong 2 phiên bản của  công nghệ VVER-1200 - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Bảng 2. So sánh việc sử dụng một số hệ thống an toàn thụ động trong 2 phiên bản của công nghệ VVER-1200 (Trang 44)
Bảng 4.  Mức tiết kiệm khi sử dụng hệ thống an toàn thụ động - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Bảng 4. Mức tiết kiệm khi sử dụng hệ thống an toàn thụ động (Trang 45)
Hình 1. Sơ đồ các vùng nguồn sóng thần trên khu vực Biển Đông (theo [1]). Tên các vùng nguồn  đánh số trên bản đồ: 1 - vùng nguồn biển Đài Loan, 2 - vùng nguồn Máng biển sâu Manila, 3 -  vùng nguồn Biển Sulu, 4 - vùng nguồn Biển Selebes, 5 - vùng nguồn Bi - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 1. Sơ đồ các vùng nguồn sóng thần trên khu vực Biển Đông (theo [1]). Tên các vùng nguồn đánh số trên bản đồ: 1 - vùng nguồn biển Đài Loan, 2 - vùng nguồn Máng biển sâu Manila, 3 - vùng nguồn Biển Sulu, 4 - vùng nguồn Biển Selebes, 5 - vùng nguồn Bi (Trang 55)
Hình 2.  Vị trí đới siêu đứt gẫy Máng biển sâu Manila trên Biển Đông. - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 2. Vị trí đới siêu đứt gẫy Máng biển sâu Manila trên Biển Đông (Trang 56)
Bảng 1. Tham số nguồn của siêu đứt gẫy Máng biển sâu Manila (theo [2]) - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Bảng 1. Tham số nguồn của siêu đứt gẫy Máng biển sâu Manila (theo [2]) (Trang 56)
Hình 3. Độ cao sóng thần cực đại trên khu vực Biển Đông Việt Nam (theo kịch bản động đất cực đại   phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 3. Độ cao sóng thần cực đại trên khu vực Biển Đông Việt Nam (theo kịch bản động đất cực đại phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) (Trang 58)
Hình 4. Độ cao sóng thần cực đại tại vùng biển lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải (theo  kịch bản động đất cực đại  phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 4. Độ cao sóng thần cực đại tại vùng biển lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải (theo kịch bản động đất cực đại phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) (Trang 59)
Hình 5. Độ cao sóng thần cực đại tại vùng biển lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải (theo  kịch bản động đất cực đại  phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 5. Độ cao sóng thần cực đại tại vùng biển lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải (theo kịch bản động đất cực đại phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3) (Trang 59)
Hình 4 . Bản đồ ngập lụt khu vực lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải theo kịch bản động  đất cực đại  phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3 - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 4 Bản đồ ngập lụt khu vực lân cận hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải theo kịch bản động đất cực đại phát sinh trên vùng nguồn Máng biển sâu Manila, M w =9,3 (Trang 60)
Hình 1:  Một buổi thanh tra tại cơ sở bức xạ - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 1 Một buổi thanh tra tại cơ sở bức xạ (Trang 74)
Hình 2:  Chuyến công tác tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà lạt - Tập san thông tin pháp quy hạt nhân số 3 2014 hoạt động của cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia công tác kiện toàn tổ chức và bộ máy cục an toàn bức xạ và hạt nhân
Hình 2 Chuyến công tác tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà lạt (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w