Văn chương thời nào cũng vậy, không thể thoát li cuộc sống, nó phải có ích cho đời, góp phần nâng đỡ tâm hồn con người, san sẻ tình thương, rọi ánh sáng cho niềm tin và hi vọng của nhân
Trang 1Đối với những thi nhân thời xưa thì "chuyên chú ở văn chương” có nghĩa là chỉ chăm chú gò câu đếo chữ, đặt câu cho khéo, vế đối cho chỉnh, gieo vần hóc
hiểm, sử dụng điển tích cầu kì, chơi chữ cho độc đáo Hoặc chỉ biết ngâm vịnh phù phiếm với "mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” mà không hề đoái hoài đến nhân tâm thế sự Có lúc, lại học đòi bắt chước người một cách vô nghĩa như Cao Bá Quát từng chế giễu: mới "đầu thôn tạm biệt đã đã hát câu chén rượu Dương Quan, xóm cạnh qua chơi đã ngâm câu tiếng gà điếm có " Đọc cuốn “Từ trong di san " mới biết ông cha ta đã từng phê phán mạnh mẽ những người "chỉ chuyên chú ở văn chương" Lê Quý Đôn từng nhắc nhở:
"Nếu chuộng nặn nọt, ưa mới lạ, gò gẫm từng chữ từng câu thì tho lam ra sé kém” Vũ Khâm Lân lên án cái "lề thói ưa chuộng lả lướt đua nhau theo đòi cái ngón từ chương, tỉa tách chạm trổ, hết mực xa hoa, cỏ biếc trăng non "
và ông cho đó là "kì dị", là "trò bôi son trát phấn để mua vui cho người đời chốc lát"
Quan điểm "nghệ thuật vị nghệ thuật" của trào lưu văn học lãng mạn thời
"tiền chiến" là biểu hiện tự giác của loại văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương” Một số nhà thơ từng tuyên bố văn chương chỉ đi tìm cái đẹp, không dính dáng đến cuộc sống, đến xã hội; văn chương chỉ vì văn chương mà thôi Thế Lữ, ở giai đoạn đầu không ít mơ hồ khi ông viết:
Anh dù bảo tính tình tôi thay đổi Không chuyên tâm, không chủ nghĩa, nhưng cần chỉ? Tôi chỉ là một khách tình sĩ
Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể Muon lay bit nang Li Tao téi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca
Buồn thế! Khi cả dân tộc là vong quốc nô; "thất phu hữu trách" thế mà nhà thơ chỉ muốn là "một khách tình si", chi một thiên chức đi tìm cái đẹp "u trầm, đấm đuối" Không một phút bận tâm về đất nước và cuộc đời! Văn chương thời nào cũng vậy, không thể thoát li cuộc sống, nó phải có ích cho đời, góp phần nâng đỡ tâm hồn con người, san sẻ tình thương, rọi ánh sáng cho niềm tin
và hi vọng của nhân dân Nhà văn phải có trách nhiệm công dân, tác phẩm của
họ phải là tài sản, là niềm tự hào của công chúng Đành rằng, không ít nhà văn nhà thơ lãng mạn có phần đóng góp sang trọng cho nền văn học dân tộc, thúc day sự hiện đại hoá thi ca và tiểu thuyết Nhưng những vần thơ điên loạn, thơ say, bí hiểm, "hũ nút" đều không đáng thờ như Nguyễn Văn Siêu đã nói Nói rằng văn chương có loại "không đáng thờ" có nghĩa là không đáng trân trọng, không đáng học tập Đầu thế kỉ XX, cụ Phan Châu Trinh đã gay gắt lên án thứ văn chương bát cổ, cụ cho đó là một tai hoạ ghê gớm:
Trang 2Vạn dân nô lệ cường quyền hạ Bát cổ văn chương tHý mộng trung (Vạn dân nô lệ đưới cường quyền
Mà văn chương bát cổ vẫn say giấc mộng)
Có thể khăng định loại văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương" nhất định sẽ bị thời g1an thanh lọc, bị người đời quên lãng
Còn thế nào là "văn chương chuyên chú ở con người”? Đó là những sáng tác văn học quan tâm trước hết đến con người, luôn luôn hướng tới cuộc sống
và coi trọng mục đích phục vụ con người Các nhà văn nhà thơ theo quan điểm này coi giá trị văn chương không chỉ ở chỗ dùng từ hay, hình ảnh đẹp; mà còn
ở chỗ có ích cho cuộc đời nhiều hay ít, có giá trị nhân bản và mang tính nhân văn, có tác dụng làm giàu và bồi bổ nền văn hoá dân tộc như thế nào? Đó chính
là quan điểm "nghệ thuật vị nhân sinh" bao gồm các tác phẩm cổ điển (hịch, cáo, văn tế ), các tác phẩm thuộc trào lưu hiện thực và cách mạng, ngoài ra còn một số tác phẩm thuộc trào lưu lãng mạn trước năm 1945
Văn chương chân chính phục vụ con người, gắn bó với nhân tâm thế sự, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, diễn tả nỗi đau, niềm vui
và hi vọng của hàng triệu con người Văn chương gắn bó với sự thịnh suy của đất nước, với tâm hồn của nhân dân Văn chương là vũ khí, là mặt trận; nhà văn, nhà thơ là chiến sĩ "Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc" (Trần Thái Tông), "Bút lưỡi muốn xoay dòng nước lũ" (Phan Châu Trinh)
"Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng / Cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói” (Phan Bội Châu)
Giữa thế kỉ XIX, nước ta bị Pháp xâm lăng, bọn "đầu Tây" nổi lên như ong, nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiều đã nêu cao chức năng của văn chương và sứ mệnh cao cả của người cầm bút:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
"Đạo" ở đây là nhân nghĩa, là yêu nước thương dân, là "trung, hiếu, tiết, hạnh", văn chương là con thuyền chở đạo (văn dĩ tải đạo) và ngòi bút của thi nhân là vũ khí sắc nhọn trừ gian, đuổi giặc, cứu dân cứu nước và cứu đời Ông mãi mãi xứng đáng với lời ngợi ca: "Thư sinh giết giặc bằng ngòi bút" (Tùng Thiện Vương)
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan niệm văn chương của tiền nhân nêu lên nhiều bài học sâu sắc cho nghệ sĩ Bác căn dặn: "Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh ch] em là chiến sĩ trên mặt trận ấy" Bác đã viết:
Trang 3Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong Những ý kiến ấy đã hùng hồn khăng định: chỉ có loại "văn chương chuyên chú ở con người” mới đáng được tôn thờ Nhịp sống của đất nước và nhân dân
ta không thể thiếu loại văn chương như thế Loại văn chương "đáng thờ" mà Nguyễn Văn Siêu nói tới chính là loại văn chương viết về con người, phục vụ con người Căn cứ vào tiến trình văn học Việt Nam, ta thấy ý kiến của ông là xác đáng
Nhưng nếu "chỉ chuyên chú ở con người” mà coi nhẹ văn chương, hạ mức nghệ thuật — thì liệu tác phẩm ấy có giá trị và tác dụng gì? Văn chương không chỉ chân thực, sâu sắc, nhân đạo mà còn phải hay, phải đẹp Vậy nói "văn chương chỉ chuyên chú ở con người” có gì phiến diện?
Như trên đã nói, con người, cuộc sống là mảnh đất màu mỡ để nhà văn nhà tho "gieo hat" cho nghé thuật đơm hoa kết trái "Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu) Nếu văn chương không vì con người thì đâu còn là văn chương nữa Mặt khác, giá trị của văn chương là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Nội dung và hình thức gắn bó hữu cơ với nhau trong một chỉnh thể hình tượng, hình thức thể hiện và phục vụ nội dung "Do tình sinh ý, do ý sinh chữ, bởi cái này mà có cái kia, cũng là thế cả" (Bùi Dương Lịch) Nội dung chi phối và chọn lọc hình thức thể hiện Do vậy, không
có nội dung tốt thì cũng không thể có hình thức đẹp Văn chương sáng tạo ra cái đẹp còn cái đẹp lại chính là sự sống Phản ánh cuộc sống và con người, "chỉ chuyên chú ở con người”, là văn chương đã đến với cái "chân, thiện, mĩ”; cái tâm và cái tài của nhà văn đã "hoá thân" thành tác phẩm làm nên giá trị văn chương vừa hay vừa đẹp Sáu bảy trăm năm sau "Hịch tướng sĩ văn" của Trần Quốc Tuấn, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi vẫn "Đêm đêm ri ram trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về" (Nguyễn Đình Thi) Một câu thơ Kiều, một vần Hoa Tiên cũng làm ta rung động về "nỗi đau nhân tình” Bởi lẽ
đó là những lời tâm huyết, những øsiọt lệ của thi nhân: "Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đời, Hoa Tiên là tiếng nói răn đời vậy" (Cao Bá Quát)
"Chỉ chuyên chú ở văn chương" mà thiếu hẳn cái tâm thì khó có thể làm nên tác phẩm có giá trị Nhưng "chỉ chuyên chú ở con người" mà không có tài năng thì cũng không thể có thơ văn hay và đẹp để lại cho đời Vì thế, nhà văn phải luôn tích luỹ vốn sống, bồi bổ tâm hồn, mài sắc nghệ thuật mới có thể sáng tạo được những tác phẩm có giá trị cho đất nước và nhân dân
Trong kháng chiến chống Pháp và chống MĨ, có hàng vạn bài thơ viết về anh bộ đội, nhưng hiện nay còn đọng lại trong tâm hồn độc giả bao nhiêu 7áy
Trang 4Tiến, Đồng chí, Đèo Cả, Dáng đứng Việt Nam, Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Lá đỏ ? Rõ ràng, nếu chỉ có một cái tâm, chỉ "chuyên chú ở con người”
mà thiếu tài năng thì tác phẩm làm ra sẽ "đoản mệnh" Hồ Chí Minh suốt một đời "chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta a1 cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành", Bác từng nói "Ngâm thơ ta vốn không ham”, thế nhưng Bác vẫn trở thành một nhà thơ lớn của dân tộc
— Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đây thuyền
Nói rằng văn chương "loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” tuy xác đáng nhưng nếu chỉ có thế thì chưa đủ, bởi lẽ: "Nghệ thuật phải thực sự là nghệ thuật không có giá trị nghệ thuật thì không thể là tác phẩm nghệ thuật duoc" (Pham Van Đồng) Cho nên cái tâm và cái tài làm nên cốt cách nghệ sĩ, nhờ đó mà sáng tạo ra những tác phẩm đích thực văn chương "vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn" như Nam Cao hằng ao ước
(Theo Tạ Đức Hiền)
Trang 5TUẦN 20 (Bài 20)
Tiết 77- 78 TIENG VIET NHAN VAT GIAO TIEP
ÔN TẬP VỀ NHÂN VẬT GIAO TIẾP
+ GV nêu câu hỏi:
1 Có mấy nhân tố tham gia vào hoạt động g1ao tiếp?
2 Trong các nhân tố trên, nhân tố nào quan trọng nhất? Tại sao?
+ GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
1 Trong HĐGT có sự tham gia và sự chi phối của các nhân tố: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và cach thitc giao tiếp
a Nhân vật giao tiếp: người nói, người viết (chủ thể phát, viết tắt: P) và người nghe, người đọc (chủ thể nhận, viết tắt: N)
- Số lượng: IP- 1N (gia sư: 1 thầy - 1 trò, bố nhắc nhở con )
I P- nhiều N (thầy giáo dạy - học trên lớp, diễn giả nói chuyện trước đông người, lãnh tụ phát biểu trước quốc dân đồng bào ) Trong số nhiều người
Trang 6nhận, có thể chỉ có 1 N đích thực (khi sinh hoạt lớp, A phát biểu nhưng đích nhắm tới là để B nghe mình thanh minh )
— Quan hệ:
+ Một chiều: chuyên P và chuyên N (diễn giả nói chuyện, lãnh tụ phát biểu là chuyên P và số đông còn lại chuyên N) Tác giả bài "Tổng quan về văn học Việt Nam” chuyên P, còn chúng ta chuyên N
+ Hai chiều: các nhân vật giao tiếp luân phiên đổi vai cho nhau, tức là vừa
P vừa N (hội thảo khoa học, sinh hoạt chi đoàn, diễn đàn sống đẹp )
b Hoàn cảnh giao tiếp:
- Khách quan: bao gồm toàn bộ những điều kiện về địa lí, lịch sử, khí hậu, thời tiết, không gian, thời gian, địa điểm, môi trường vật lí (ồn ào hay yên nh), môi trường tâm lí (tập thể đoàn kết vui vẻ hay bất hoà căng thăng)
- Chủ quan: bao gồm các điều kiện về sức khoẻ, trình độ, sở thích, cá tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội của các nhân vật giao tiếp
c Nội dung giao tiếp:
- Khách quan: bao gồm các thông tin sự việc, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tế của thiên nhiên, xã hội Đây là những thông tin tương đối phổ cập (còn gọi là thông tin mở), mọi người đều có thể biết ở những mức độ khác nhau (phụ thuộc vào trình độ, vốn sống, nghề nghiệp, thái độ quan tâm )
- Chủ quan: bao gồm những sự kiện, tâm trạng trong thế giới nội tâm của con người như: buồn vui, yêu ghét, khinh trọng, nồng nhiệt hoặc lạnh lẽo trong quan hệ với tự nhiên và xã hội Tóm lại, đó là thái độ, tình cảm của nhân vật ø1ao tiếp đối với ngoại cảnh hoặc người đối thoại
d Mục đích giao tiếp:
— Trao đổi thông tin:
+ Thông tin sự kiện (thông tin miêu tả): các biến cố, các sự kiện, các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và xã hội được coi là đối tượng tìm hiểu, nghiên cứu để rút ra những chân lí nhất định (Dạy - học là một cách rút gọn tri thức của nhân loại bằng con đường ngắn nhất!)
+ Thông tin bộc lộ: trao đối những tư tưởng, tình cảm mà con người có nhu cầu chia sẻ với nhau trong cuộc sống hằng ngày
+ Tạo lập quan hệ xã hội: khi thực hiện HĐGT, dù có ý thức hay không có
ý thức thì giữa các nhân vật giao tiếp vẫn mặc nhiên hình thành các quan hệ nhất định (có thể tích cực hoặc tiêu cực)
Trang 7— Giáo dục, giáo dưỡng: HĐGT bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội nhất định, trong đó đặc biệt quan trọng là môi trường xã hội Môi trường xã hội bao gồm toàn bộ thể chế, pháp luật, đạo đức,
lí tưởng, lối sống của thời đại mà các nhân vật giao tiếp đang sống, do đó mọi HĐGT đều có mục đích giáo dục cho các nhân vật giao tiếp có ý thức tôn trọng các chuẩn mực xã hội Ngoài ra, HĐGT còn kết hợp với việc giáo dục truyền thống ở những mức độ nhất định, phù hợp với nội dung ø1ao tIếp
e Phương tiện và cách thức giao tiếp:
— Phương tiện: chủ yếu là ngôn ngữ (mã thông tin giao tiếp), ngoài ra là các hình thức hỗ trợ như điệu bộ, cử chỉ, kênh hình, kênh âm thanh
- Cách thức:
+ Giao tiếp trực tiếp: các nhân vật giao tiếp đồng hiện trong cùng một đơn
vị không gian, thời gian (thay trò trong cùng một phòng học ở một tiết hoc cu thể, hai người cùng ngồi trong một căn phòng hoặc một quán cà phê ở một thời điểm cụ thể )
+ Giao tiếp gián tiếp: qua phương tiện điện thoại (có dây và không dây), qua cầu truyền hình, qua mạng 1n-tơ-nét
2 Trong các nhân tố trên thì nhân vật giao tiếp là nhân tố quan trọng nhất,
- Không có nhu cầu thì con người cũng không tổ chức hoạt động giao tiếp Tuy có phương tiện ngôn ngữ, nhưng nếu các cá nhân, tập thể không có nhu cầu trao đổi thông tin thì đương nhiên cũng không có hoạt động giao tiếp; do
đó, hoạt động giao tiếp còn được coI là một trong những nhu cầu góp phần phát triển, hoàn thiện con người
Nói cách khác, nếu không có con người thì không có hoạt động, trong đó
có hoạt động giao tIếp
Hoạt động Z
HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH Bài tập 1
Đọc đoạn trích sau và phân tích theo các câu hoi nêu ở dưới
Trang 8" Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc Hắn hò rằng:
Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
Lai đây ma day xe bò với anh, nì!
Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đầy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:
— Kia anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng với giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!
Thị cong cớn:
- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?
Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười:
- Thật đấy, có đầy thì ra mau lên!
Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng
- Đã thật thì đầy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ — Thị liếc mắt, cười tít "
c Các nhân vật trên có bình đẳng về vị thế xã hội không?
d Họ có quan hệ xa lạ hay thân tình khi bắt đầu cuộc giao tiếp?
e Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp chi phối lời nói của các nhân vật như thế nào?
* Gol y:
a Nhân vật giao tiếp là "hắn" (Tràng) và "thị" (một nhân vật không tên trong đám đông các cô gái cùng lứa tuổi) Họ có cùng lứa tuổi, cùng tầng lớp lao động và khác nhau về giới tính
b Các nhân vật giao tiếp hai chiều, luôn luân phiên lượt lời Lượt lời đầu của nhân vật "thị" hướng tới hai đối tượng:
- Đối tượng là các bạn gái: "Có khối cơm trắng mấy giò đấy!"
— Đối tượng là Tràng: “Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”
Trang 9c Các nhân vật giao tiếp trên bình đăng về vị thế xã hội vì cùng lứa tuổi, cùng tầng lớp lao động
d Lúc đầu quan hệ của các nhân vật giao tiếp có thể là xa lạ (nói "có thể"
vì trong thực tế, những người này đã từng biết nhau từ trước, họ đều quanh quan 6 cái địa bàn mà Tràng làm việc, nhưng chưa giao tiếp mà thôi), nhưng khi tiến hành giao tiếp thì họ có thể nhanh chóng đồng cảm, thân thiết
2 Đọc đoạn trích sau và phân tích theo các câu hỏi nêu ở dưới:
"Thoáng nhìn qua, cụ đã hiểu cơ sự rồi Làm lí trưởng rồi chánh tổng, bây ø1ờ lại đến lượt con cụ làm lí trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xia chực tâng công với chồng:
— Các bà đi vào nhà; đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
— Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này? Không ai nói gì, người ta lắng dần đi Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi Ai dại gì mà đứng ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng Sau còn trơ lại Chí Phèo
và cha con cụ bá Bây giờ cụ mới lại gần hắn khẽ lay mà gọi:
— Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chi Phéo lim dim mat, rén lên:
— Tao chi liéu chết với bố con nhà mày đấy thôi Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng
Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái Cười:
— Cái anh này nói mới hay! A1 làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngoé đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi, đổi giọng cụ thân mật hỏi:
- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
— Nào đứng lên đi Cứ vào đây uống nước đã Có cái øì, ta nói chuyện tử tế với nhau Cần gi mà phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang tiếng cả
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
- Khổ quá, giá có tôi ở nhà thì có đâu đến nỗi Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ Chỉ tại thằng
Trang 10lí Cường nóng tính, không nghĩ trước nghĩ sau AI chứ anh với nó còn có họ kia đấy
Chí Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên Cụ bá biết rằng mình đã thắng, đưa mắt
nháy con một cái, quát:
— Lí Cường đâu! Tội mày đáng chết Không bảo người nhà đun nước, mau lên!”
(Nam Cao)
Câu hỏi:
a Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp nào? Trường hợp nào
bá Kiến nói với một người nghe, trường hợp nào nói với nhiều người nghe?
b Vị thế của bá Kiến so với từng người nghe như thế nào? Điều đó chi phối cách nói và lời nói của bá Kiến ra sao?
c Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện một chiến lược giao tiếp như thế nào? Hãy phân tích cụ thể chiến lược đó theo các bước sau đây:
(1) Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người về, chỉ đối thoại với riêng Chí Phèo
(2) Bá Kiến "hạ nhiệt" cơn tức giận của Chí Phèo bằng cả hành động và lời nói
(3) Bá Kiến "nâng vị thế” của Chí Phèo lên ngang hàng với mình và nhận Chí Phèo là có họ hàng
(4) Bá Kiến "kết tội" lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo
d Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến có đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp không? Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến có phản ứng như thế nào khi nghe những lời nói của bá Kiến?
* GỢI ý:
a Trong đoạn trích có các nhân vật g1ao tiếp: bá Kiến, Chí Phèo, lí Cường, các bà vợ bá Kiến, dân làng Cuộc thoại của bá Kiến với Chí Phèo và lí Cường chỉ có một người nghe Cuộc thoại của bá Kiến với các bà vợ và dân làng có
nhiều người nghe
b VỊ thế của bá Kiến cao hơn vị thế của các người nghe, do đó bá Kiến thường nói với giọng kẻ cả, trịch thượng
c Chiến lược giao tiếp của bá Kiến như sau:
- Đuổi hết mọi người về (các bà vợ thì thích ồn ào để tâng công, dân làng thì thích ngồi lê đôi mách cho sướng miệng) để cô lập Chí Phèo (không có
Trang 11người a dua) và giữ thể diện của mình (đề phòng Chí Phèo nổi khùng chửi bậy hoặc hành hung trước sự chứng kiến của nhiều người thì bá Kiến sẽ bị bẽ mặt)
- Hạ nhiệt cơn tức giận của Chí Phèo bằng lời nói nhẹ nhàng, bông đùa, nhận họ hàng, bằng hành động khẽ lay, xốc vai và giả vờ quát tháo, buộc tội lí Cường
- Bá Kiến nâng vị thế của Chí Phèo lên ngang hàng với mình bảng cách xưng hô, nói trống, dùng ngôi gộp là đánh vào thói sĩ diện hão, thói háo danh tầm thường của những kẻ "không tự biết mình là ai" —- một "đặc sản” thâm căn
cố đề của nền sản xuất tiểu nông mà bá Kiến rành hơn ai hết Nhờ tuyệt chiêu này mà Chí Phèo hoàn toàn bị đánh gục, mất cảnh giác và nguội lạnh ý chí chiến đấu, thậm chí là đầu hàng
— Việc bá Kiến giả vờ kết tội lí Cường có nghĩa là gián tiếp bênh vực Chí Phèo, cho rằng việc Chí Phèo ăn vạ là lỗi tại lí Cường, chứ không phải là lỗi cua Chi Phéo Tat nhiên, chỉ có Chí Phèo mới ngây thơ tới mức sập bẫy trò chơi đầu môi chót lưỡi của bá Kiến mà thôi, chứ lí Cường và những người khác thì chỉ còn nước ôm bụng mà cười
d Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến đã đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp (cụ bá biết rằng mình đã thắng), còn Chí Phèo "cũng thấy lòng nguôi nguôi", kết thúc màn ăn vạ Có thể nói, đoạn trích trên là một màn độc thoại của bá Kiến, có độc thoại nội tâm (biết rằng mình đã thắng), có độc thoại thành lời hướng tới đối tượng (các bà vợ và dân làng, Chí Phèo, lí Cường) Các
bà vợ và dân làng không có hồi đáp gì vì sợ cái uy của cụ bá và cũng vì muốn được yên thân Lí Cường không hồi đáp vì thực ra y chỉ là cái cớ để cụ bá đánh đòn tâm lí Chí Phèo Còn Chí Phèo, chỉ có một lần hồi đáp yếu ớt (bắt đầu sợ hãi về tình cảnh thân cô thế cô của mình), sau đó là bị cụ bá từng bước đánh guc, dau hang trong im lặng
+ GV chi dinh 1 HS doc cham, r6 Ghi nho trong SGK
“Anh Mịch nhăn nhó, nói:
— Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông nghi, kéo ông ấy đánh chết
Trang 12Ông lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm doa:
- Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu số đinh, thì lần này đến lượt mày rồi
- Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi thì ông nghị ghét con, cả nha con khổ
— Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à?
- Đối với ông nghị, con là chỗ đây tớ, con sợ lắm Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm Nếu không, vợ con con chết đói
— Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm Đứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù
— Lay ông, ông thương phận nào con nhờ phận ấy
— Mặc kệ chúng bay, tao thương chúng bay, nhưng a1 thương tao Hôm ấy mày mà không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại, đừng kêu"
(Nguyễn Công Hoan)
"Bông dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi sân bò mà viên đội sếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: "Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tm!" Thế mà cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường Gì thế nhỉ? Xe ô tô quan Toàn quyền sắp di qua đấy Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đáy rồi!
— Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! — Một chú bé con thẩm thi
— Ô! Cái áo dài đẹp chứa! — Một chị con gái thốt ra
- Ngài sắp diễn thuyết đấy! — Một anh sinh viên kêu lên
- Đôi bắp chân ngài bọc ủng! — Một bác cu-Ïi xe thở dài
- Râm râu, sâu mắt! — Một nhà nho lẩm bẩm
Thế là 6 tô ông Va-ren chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gân”
(Nguyễn Ái Quốc)