Tăng trưởng giai đoạn này chậm lại xuất phát từ cả ba ngành nghề kinh tế là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, trong đó GDP ngành xây dựng giảm mạnh nhất với mức tăng trưởng 4,4% so vớ
Trang 1 2008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 0
Quý I/2011
www.fpts.com.vn
NỘI DUNG
CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
KINH TẾ THẾ GIỚI 2
KINH TẾ VIỆT NAM 5
Tăng trưởng GDP 5
Cán cân Thương mại 9
Chỉ số giá tiêu dùng - CPI 13
Thị trường tài chính 15
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 19
Thị trường chứng khoán quý I/2011 19
Phân tích kỹ thuật 21
Kết luận 25
PHỤ LỤC 26
Phòng Phân tích Đầu tư
CTCP Chứng khoán FPT
Trụ sở chính
Tầng 2, 71 Nguyễn Ch í
Thanh
Quận Đống Đa - Hà Nộ i
ĐT: (84.4) 3773 7068
Fa x: (84.4) 3773 9056
Chi nhánh Hồ Chí Minh
Số 31, Nguyễn Công Trứ
Phường Nguyễn Thái Bình
Quận 1, TP Hồ Ch í M inh
ĐT: (84.8) 290 86 86
Fa x: (84.8) 290 60 70
Chi nhánh Đà Nẵng
Số 124, Nguyễn Thị Minh
Khai, Quận Hả i Châu, TP
Đà Nẵng
ĐT: (84.511) 355 36 66
Fa x: (84.511) 355 38 88
Các nghiên cứu và báo cáo
khác được công bố tại:
http://ezsearch.fpts.com.vn
Các tuyên bố quan trọng
nằm ở cuối báo cáo này.
Trang 22008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 1
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 32008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 2
KINH TẾ THẾ GIỚI
Bước sang năm 2011, bức tranh toàn cầu đã có sự phân hóa rõ rệt về tốc độ phục hồi kinh tế giữa các châu lục Có thể nhìn thấy được những tín hiệu tăng trưởng tại nền kinh tế Mỹ với các chỉ báo vĩ mô được cho là khả quan hơn so với dự đoán ban đầu Chỉ số ISM của lĩnh vực sản xuất Mỹ tháng 3/2011 giảm xuống mức 70,6
từ mức 71,2 của tháng trước tuy nhiên vẫn khá cao trên mức tiêu chuẩn là 50 Chỉ báo này chứng tỏ tăng trưởng tại Mỹ vẫn đang diễn ra Một tín hiệu quan trọng khác đó là tỷ lệ thấy nghiệp Mỹ tính tại thời điểm cuối Tháng 3/2011 đã lần đầu tiên xuống mức thấp nhất kể từ thời điểm khủng hoảng Tháng 10/2008 Kết hợp hai tín hiệu mới cho thấy Mỹ đã có những thành tựu đầu tiên trong các chính sách điều tiết vĩ mô Tuy nhiên, những lo ngại mới về giá dầu có khả năng leo thang và chính sách cắt giảm chi tiêu sẽ là những trở ngại mới đặc biệt là khi chương trình nới lỏng định lượng lần 2 (QE2) cũng sắp kết thúc vào cuối Quý II năm nay Thị trường chứng khoán Mỹ có thể sẽ có bước “hụt hẫng” nếu như QE2 kết thúc mà không có những gói giải pháp mới thay thế
Diễn biến S&P 500 với Chương trình nới lỏng định lượng (QE) -Nguồn:Yahoo Finance
Một vấn đề trong tâm phát sinh gần đây đó là sản lượng lương thực có xu hướng giảm trong khi giá năng lượng đang tăng mạnh trở lại sau cuộc suy thoái Trái với
Mỹ, quốc gia tăng chờ đợi tín hiệu lạm phát tăng trở lại làm “thuốc thử” cho khả năng phục hồi hậu suy thoái thì nguy cơ bùng nổ lạm phát cao lại đang khiến các Chính phủ toàn cầu phải tính toán lựa chọn giữa ưu tiên tăng trưởng hay kiềm chế lạm phát Một số nền kinh tế đang lâm vào tình trạng tăng trưởng quá nóng, kết hợp với tăng trưởng tín dụng mạnh và tình trạng xáo trộn nguồn cung nguyên vật liệu đã làm tăng các mối quan ngại về lạm phát cũng như nguy cơ tăng lãi suất trên phạm vi toàn cầu
Vừa qua, Trung Quốc đã cho hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 8% xuống 7% và liên tiếp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm kiềm chế lạm phát Tính đến hết Tháng 3/2011, lạm phát tại nền kinh tế đứng đầu Châu Á đã gần chạm mức 5% nhưng giá thực phẩm đã tăng lên mức 10% và gây ra sự bất bình trong dân chúng Mô hình tăng trưởng của Trung Quốc phụ thuộc chính vào khả năng
Trang 42008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 3
tăng trưởng kinh tế và sức cầu tiêu dùng Nguồn thu từ xuất khẩu và tỷ lệ tiết kiệm cao cho phép công nghiệp hóa ở tốc độ cao Tuy nhiên, mặt trái lạm phát và bong bóng tài sản đang trở thành hậu quả lớn nếu như không sớm được kiểm soát Hiện Trung Quốc đang có gắng hướng đến tăng trưởng kinh tế tập trung nhiều hơn vào tiêu dùng nội địa và như vậy tăng trưởng GDP dự báo có thể xuống mức dưới 2 con số như đã đạt đươc trong năm 2010
Không chỉ có vậy, những diễn biến từ thảm họa sóng thần và nguy cơ phóng xạ tại Nhật đã làm gia tăng các rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư tại khu vực Châu Á Một trong những ảnh hưởng quan trọng đó là chuỗi cung ứng toàn cầu mà Nhật là một mắt xích quan trọng Chỉ số Vận tải biển (BDI) đã bắt đầu giảm trong Tháng 3 do động đất và sóng thần ở Nhật kìm hãm nhu cầu và ảnh hưởng tới hoạt động giao thương ở các khu vực Xuất khẩu hàng hóa Tháng 3/2011 của Nhật đã hạ xuống mức 2,2% trong khi tháng liền trước tăng trưởng tới 9% so với cùng kỳ năm 2010 Đây là mức sụt giảm mạnh gấp đôi so với các dự báo Nhật được dự đoán cần phải mất ít nhất từ 3-5 năm để tái thiết đất nước như trước thảm họa Tuy nhiên, trong chu kỳ tăng trưởng nền kinh tế, đây lại là cơ hội
để Chính phủ Nhật có những chính sách mạnh tay hỗ trợ và kích thích nền kinh tế thông qua các gói chi tiêu lớn Môt kế hoạch chi tiêu lên tới 47 tỷ USD đang được gấp rút thông qua Như vậy, Quý II/2011 sẽ là thời điểm khó khăn nhất của nền kinh tế Nhật và chưa thể khẳng định những kết quả khả quan cho đến hết Quý III
Chỉ số Vận tải biển Baltic (BDI) - Năm 2011 - Nguồn: Bloomberg
Mặc dù đang đang trong giai đoạn cấp thiết ổn định lại hệ thống tài chính, nhưng tình trạng nợ công tại khu vực Châu Âu vẫn chưa có nhiều chuyển biến mới Không những thế, lạm phát tại khu vực cũng đang tăng nhanh từ 2,4% lên 2,6% ngay trong Tháng 2/2011, cao hơn mục tiêu 2% được đặt ra Như vậy với mức lãi suất cơ bản thấp quanh mức 1% hiện nay sẽ sớm phải điều chỉnh tăng trong Quý II/2011 Sự xuất hiện chính thức của “con nợ” mới là Bồ Đào Nha càng cho thấy khu vực Châu Âu sẽ còn khó khăn trong thời gian tới khi các khoản nợ khổng lồ chuẩn bị đến hạn trong năm 2011
Thêm vào đó, làn sóng biểu tình và cuộc khủng hoảng chính trị tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi cũng làm cho bất ổn gia tăng, tác động tiêu cực đến xu hướng leo thang của giá dầu và kìm hãm tốc độ tăng trường kinh tế toàn cầu Với những biến
Trang 52008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 4
động mới và nhu cầu đầu tư an toàn trong bối cảnh kinh tế khó khăn, giá vàng thế giới cũng gián tiếp có thêm sự bứt phá và được dự đoán có thể thiết lập những mức giá kỷ lục mới như đã từng diễn ra trong năm 2010
Giá vàng thế giới – Nguồn: Kitco
Không thể phủ nhận những nỗ lực và thành tựu phục hồi kinh tế toàn cầu đã đạt được trong Quý I/2011 Tuy nhiên, trong khi các khó khăn có nguồn gốc từ cuộc suy thoái cần phải có thời gian để xử lý triệt để thì những vấn đề mới lại đang liên tục phát sinh với quy mô phức tạp và khó lường hơn trong Quý I/2011 Sự cộng hưởng này thậm chí có thể làm chệch hướng quá trình phục hồi của nền kinh tế nếu không được kịp thời ứng phó bởi các Chính phủ và cộng đồng quốc tế
Trong Quý II/2011, hầu hết các dự đoán đều cho rằng những khó khăn trước mắt chưa thể chấm dứt do mức độ gắn kết, quy mô và yếu tố thiên nhiên môi trường toàn cầu đang có nhiều thay đổi nhanh chóng Như vậy Quý II/2011 sẽ là khoảng thời gian tương đối khó khăn đối với hầu hết các nền kinh tế để giải quyết triệt để các vấn đề đang tồn tại và tạo bước đệm cho sự hồi phục vững chắc sau này Do
đó các tín hiệu phục hồi mạnh mẽ được kỳ vọng sẽ xuất hiện rõ ràng hơn trong nửa cuối năm 2011
Trang 62008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 5
KINH TẾ VIỆT NAM
Tăng trưởng GDP
GDP quý I/2011 đang có dấu hiệu chững lại với mức tăng trưởng 5,4%, thấp hơn
so với tăng trưởng của 3 quý liền trước đó Nguyên nhân chủ yếu cho sự chậm lạ i tốc độ tăng trưởng chủ yếu do chính sách thắt chặt tiền tệ cũng như cắt giảm một loạt các dự án sử dụng nguồn ngân sách nhà nước nhưng kém hiệu quả Tăng trưởng giai đoạn này chậm lại xuất phát từ cả ba ngành nghề kinh tế là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, trong đó GDP ngành xây dựng giảm mạnh nhất với mức tăng trưởng 4,4% so với mức tăng trưởng quý I năm 2010 là 9,79% do cắt giảm chi tiêu công, cắt giảm dòng tiền đầu tư vào bất động sản khiến thị trường địa ốc trở nên trầm lắng trong suốt thời gian vừa qua
Tăng trưởng GDP so với cùng kỳ năm trước YoY
Nguồn: GSO, FPTS
Yếu tố lớn nhất làm cản trở sự tăng trưởng GDP thời gian này chủ yếu do lãi suất cho vay quá cao, nguồn vốn huy động cho doanh nghiệp sản xuất bị thiếu hụt mạnh, đồng thời mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn này không được xác định như một mục tiêu trọng yếu, thay vào đó là kiềm chế lạm phát và thắt chặt tiền tệ Vòng quay vốn lưu động trong đại đa số các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cơ bản của nền kinh tế thời gian này đang luân chuyển với tốc độ chậm và mức độ tạo ra giá trị gia tăng không cao
- Sản xuất công nghiệ p
Giá trị sản lượng công nghiệp vẫn chủ yếu được tạo ra từ hai khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Tăng trưởng sản lượng công nghiệp tháng 3/2011 tuy có chững lạ i, nhưng mức tăng vẫn cao hơn so với tháng 1/2011 và tính chung lũy kế cả 3 tháng, giá trị sản lượng công nghiệp tạo ra vẫn có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái
6.3%
5.4%
0% 5% 10%
0 100 200
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản Công nghiệp, Xây dựng
Trang 72008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 6
Tăng trưởng giá trị sản lượng công nghiệp so với cùng tháng năm trước YoY
Nguồn: GSO, FPTS
Xét về cơ cấu, giá trị tạo nên từ khu vực doanh nghiệp nhà nước gần như không
có sự thay đổi so với kỳ trước, sự tăng trưởng của sản xuất công nghiệp kỳ này chủ yếu đến từ các khu vực doanh nghiệp tư nhân năng động hơn và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có định hướng phát triển và mục tiêu lợi nhuận rõ ràng hơn với mức tăng trưởng lần lượt là 17,4% và 16,8%
Tăng trưởng sản lượng công nghiệp thời gian này không có gì thay đổi so với các giai đoạn trước, chất lượng tăng trưởng chỉ tập trung vào các ngành chế biến giản đơn như dệt may, sản xuất giày dép, bình đun nước nóng,… Các ngành liên quan đến vật liệu xây dựng gần như chững lại toàn bộ, một số mảng sản xuất còn giảm tốc độ tăng trưởng khá mạnh như sản xuất gạch xây bằng đất nung, gạch lát ceramic hay các loại vật liệu xây dựng khác đều có mức tăng trưởng âm Nỗ lực kìm chế lạm phát và thắt chặt tín dụng cho bất động sản đang tạo ra sự ảnh hưởng rộng lớn tới sự gia tăng sản xuất của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến vật liệu xây dựng
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và tiêu dùng cuối cùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa 3 tháng đầu năm ước đạt 451 nghìn tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2010, và tăng trưởng 8,7% nếu loại trừ yếu tố trượt giá, thấp hơn gần một nửa so với mức tăng 14,4% cùng kỳ năm ngoái Cơ cấu đóng góp từ các mảng hoạt động gần như không có gì thay đổi so với các quý của năm 2010, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương nghiệp với 78,97% Phần còn
lạ i được tạo ra chủ yếu từ mảng khách sạn nhà hàng và dịch vụ với tổng mức đóng góp khoảng 20%
10/2010 11/2010 12/2010 01/2011 02/2011 03/2011
Giá trị sản lượng công nghiệp Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 82008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 7
Nguồn: GSO, FPTS
- Vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện 3 tháng 2011 ước tính đạt 171,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2010 Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công vẫn được duy trì cho đến nay, nhưng sự đi xuống của nền kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn vốn đầu tư vào khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài, khiến dòng vốn đổ vào khu vực nhà nước tuy không mạnh nhưng tỷ trọng có xu hướng tăng trở lại so với các quý của năm 2010, chiếm 44,5% tổng vốn
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Tính lũy kế đến hết quý I/2011, mặc dù số dự án đăng ký mới có xu hướng tăng vượt 34 dự án so với cùng kỳ năm ngoái, tuy nhiên giá trị FDI đăng ký mới trong giai đoạn này chỉ đạt 2,04 tỷ USD Điểm sáng FDI được thể hiện ở chỗ giá trị giải ngân FDI lần đầu tiên vượt cao hơn con số đăng ký, ước tính đạt 2,54 tỷ USD, trong đó gần một nửa con số này được thực hiện trong tháng 3/2011 Điều này cũng thể hiện cảm nhận về cơ hội kinh doanh từ phía các doanh nghiệp đang hiện
rõ nét hơn thông qua việc họ chấp nhận giải ngân tiền cho thực hiện dự án và thúc đẩy quá trình đầu tư phát triển đến sớm hơn
Số dự án FDI đăng ký mới so sánh cùng tháng năm trước
10/2010 11/2010 12/2010 01/2011 02/2011 03/2011
Tổng mức bán lẻ Thương nghiệp Khách sạn, nhà hàng
40
93
173 40
0 50 100 150 200
2011 2010 Tăng trưởng dự án đăng ký mới - YoY
Trang 92008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 8
tổng giá trị FDI đăng ký thêm giảm đi cho thấy việc phân tán dòng tiền đầu tư đang đi vào nhiều lĩnh vực nhỏ hơn của nền kinh tế thay vì tập trung chủ yếu vào mảng bất động sản như trước đây
Giá trị FDI qua các tháng đầu năm 2011
Nguồn: GSO, FPTS
Trong cơ cấu đầu tư, ngành chế biến, chế tạo đang thu hút nhiều FDI nhất với 76
dự án, giá trị 1,55 tỷ USD, chiếm hơn 65% tổng vốn đăng ký Sự dịch chuyển này đang dần đưa dòng vốn FDI đi vào chiều sâu và tạo giá trị gia tăng bền vững cho công nghiệp sản xuất tại Việt Nam thay vì đầu tư vào mảng Bất Động Sản như giai đoạn trước Tuy nhiên cơ cấu này chưa phản ánh được bức tranh khái quát cho cả năm 2011 do tiến độ vốn đăng ký và vốn thực hiện cho các dự án mới được đẩy mạnh vào khoảng nửa cuối năm 2011
Nguồn: GSO, FPTS
182
1,472
2,038 400
0 500 1,000 1,500 2,000 2,500 3,000
0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800
Q1 2010 Q2 2010 Q3 2010 Q4 2010 Q1 2011 ODA ký kết ODA giải ngân % kế hoạch
Trang 102008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 9
Thông thường con số giải ngân đầu năm thường rất thấp và tăng mạnh trong các quý còn lại của năm, do đó tỷ lệ 12,4% giải ngân trong quý này cũng là con số đáng khích lệ đối với ODA Việt Nam trong quý I/2011
Cam kết hỗ trợ ODA cho Việt Nam trong cả năm 2011 vẫn giữ ở mức cao với con
số 7,88 tỷ USD, Trong đó WB là nhà tài trợ lớn nhất với cam kết hơn 2,6 tỷ USD, Nhật cam kết 1,76 tỷ USD và trở thành nhà tài trợ song phương lớn nhất 700 triệu USD đã được ký kết cho vay giai đoạn 2 dự án xây dựng cầu Nhật Tân (Hà Nội), giai đoạn 2 dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn và dự án tín dụng
Không những vậy, hoạt động xuất khẩu còn có sự tăng trưởng ở cả 3 khu vực Cụ thể, khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 5,5% nhưng nhóm công nghiệp nhà nước địa phương vốn giảm trong những năm trước lại có sự cải thiện tăng 4,3% Nhóm doanh nghiệp xuất khẩu ngoài quốc doanh tiếp tục tăng cao nhất đạt 16,6%, tiếp
đó là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,3%
Đây là những dấu hiệu cho thấy sự phục hồi của thị trường xuất khẩu cũng như năng lực sản xuất trong nước
-2000 0 2000 4000 6000 8000 10000
Cán cân Thương mại Quý I/2011
Trang 112008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 10
Cụ thể, nhu cầu hàng hóa thế giới tăng, kéo theo việc tăng giá nhiều loại nhiên liệu
và nông sản, các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Giá nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng mạnh như nhân điều (36,8%), hạt tiêu (59,5%), cao su (70%), than đá (56,6%) Giá và lượng hàng hóa tăng đã góp phần tăng thêm 4,85
tỷ đô la vào tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó 2,4 tỷ đô la là nhờ tăng giá
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu cũng tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ 2010 Hàng công nghiệp chế biến đóng góp kim ngạch chính trên 9 tỷ đô la, tăng 22,8%, chiếm 47% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Nhờ những tác động thuận lợi từ thị trường tiêu thụ và việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND tăng thêm 9,3% (11/2/2011) đã tạo lợi thế nhất định cho các nhà xuất khẩu Nhiều mặt hàng xuất khẩu còn được lợi nhờ nhu cầu tăng tại các thị trường chủ lực Ngay cả thị trường Nhật Bản vừa xảy ra thảm họa cách đây một tháng vẫn tăng trưởng 17,5% do nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu
Có thể nói thuận lợi về giá và thị trường chỉ có ý nghĩa thời điểm do có thể bị tác động và thay đổi bất cứ lúc nào Đặc biệt là khi kim ngạch nhập khẩu vẫn trong xu hướng tăng Hầu hết các nhóm nguyên liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng đều tăng giá trên 20% Như ngành may tăng kim ngạch xuất được gần 28% so với cùng kỳ thì giá thành sản xuất các loại dệt, sợi tăng trung bình 30-40% so với giữa năm
Trang 122008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 11
2010 Chưa kể đến lãi vay và giá nhân công cũng tăng khiến nhiều doanh nghiệp cho rằng nếu tình hình kéo dài thì càng xuất nhiều họ càng lỗ
Nhiều mặt hàng xuất khẩu trong nhóm công nghiệp chế biến đang được coi là mũi nhọn nhưng cũng chính là nhóm nhập khẩu kim ngạch cao về nguyên liệu sơ chế, gia công nên đầu vào sản xuất cũng chịu tác động lớn từ việc giá thế giới tăng Ngành dệt may, sản xuất phân bón và hóa chất tăng 46% về kim ngạch xuất khẩu nhưng nguyên liệu nhập về để sản xuất tăng lần lượt đến 30% và 100% Sắt thép tăng 87,3% về kim ngạch xuất khẩu
Trong khi đó vấn đề giá, tỷ giá cũng chỉ có tính thời điểm Mặt hàng nông sản, thủy sản dù đã đến ngưỡng về lượng nhưng lợi thế cạnh tranh có thể gia tăng ở phần chất lượng Hiện các doanh nghiệp vẫn đang tận dụng các hợp đồng sơ chế thô, lấy lượng xuất khẩu làm mục tiêu trọng tâm như vậy sẽ rất khó thâm nhập các thị trường tiêu thụ lớn như Nhật Bản và EU do có hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật cao Ngoài ra cũng cần xem xét lại quyết định về chính sách phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ mà Chính phủ phê duyệt (24/2/2011) để phù hợp với tình hình hiện nay Quyết định này ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ như cơ khí chế tạo, điện
tử - tin học, lắp ráp ô tô, dệt may, da giày Nhưng thực tế công nghiệp ô tô, cơ khí chế tạo vốn đã được bảo trợ nhiều năm nay nhưng không mang lại kết quả nào cho sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu Trong khi đó, nhiều ngành sản xuất, xuất khẩu đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế thì chưa được hưởng hỗ trợ phù hợp
Nhập khẩu
Nguồn: Tổng cục Thống kê, FPTS
Tổng kim ngạch nhập khẩu Quý I/2011 đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch nhập khẩu đang có sự tăng mạnh ở nhiều mặt hàng Trong 30 mặt hàng thuộc rổ thống kê, chỉ có rau quả, thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu và phương tiện vận tải giảm kim ngạch nhập khẩu so với Quý I/2010 Các mặt hàng còn lại, kim ngạch nhập khẩu đều tăng mạnh
Nhập siêu của tháng 3 tăng mạnh cũng có nguyên nhân khách quan là giá cả các
Trang 132008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 12
mặt hàng nhập khẩu trên thế giới tăng Hầu hết các mặt hàng VN nhập khẩu (không kể ô tô, xe máy nguyên chiếc) đều tăng về giá so với cùng kỳ năm trước Mức tăng giá phổ biến khoảng từ 20-30% so với cùng kỳ, chỉ có mặt hàng giấy và kim loại thường tăng khoảng 10%, còn giá bông tăng tới hơn 90% Tính riêng yếu
tố tăng giá các mặt hàng nhập khẩu đã tác động làm tăng kim ngạch nhập khẩu quý 1/2011 khoảng 1,6 tỷ USD, tương đương 7,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của
3 tháng
Theo Bộ Công Thương, lượng ngoại tệ dùng để nhập khẩu các hàng thuộc diện xa
xỉ cần hạn chế nhập khẩu trong Quý I/2011 lên tới 1,36 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm tới gần 40% kim ngạch nhập siêu cả nước Trong đó kim ngạch nhập khẩu xe hơi, xe máy lên mức rất cao so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt đạt 734 triệu USD (tăng 20,3%) và 248 triệu USD (tăng 19,1%) Sản phẩm rau quả nhập khẩu cũng đạt mức 55 triệu USD
Trong khi lạm phát gia tăng, để tiết kiệm thì mặt hàng có giá thấp sẽ có tính cạnh tranh và vô tình tạo lợi thế cho hàng Trung Quốc Hiện hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm lĩnh nhiều nhóm sản phẩm tiêu dùng phổ biến tại Việt Nam như đồ dùng cá nhân, đồ gia dụng cho đến các loại rau củ quả
Theo Tổng cục Thống kê năm 2010, Trung Quốc chính thức trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với 5 đối tác thương mại lớn nhất đứng đầu của Trung Quốc tiếp theo là ASEAN, Mỹ, EU và Nhật Bản Những năm gần đây, nhập siêu với Trung Quốc luôn xấp xỉ bằng tổng nhập siêu của Việt Nam, dẫn tới mất cân bằng cán cân vãng lai và cán cân thanh toán tổng thể
Ngoài ra, nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam chủ yếu là nhóm hàng phục vụ khâu lắp ráp cần nhiều nhân công Doanh nghiệp FDI cũng có rất nhiều cơ sở sản xuất tại Trung Quốc đã chuyển sản phẩm vào Việt Nam để tiếp tục lắp ráp như Samsung hay Canon Trong khi đó, nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc cũng cho thấy nhóm hàng có khả năng cạnh tranh chính với Trung Quốc của Việt Nam lại là các sản phẩm giá trị gia tăng thấp như dệt may, giày dép, nhựa, gỗ, giấy, thép, sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp…
Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng từ 16,4 tỷ USD năm 2009 lên đến 20 tỷ USD năm 2010, trong đó riêng nhập khẩu hàng tiêu dùng là 1,84 tỷ USD Riêng hai tháng đầu năm 2011, nhập khẩu từ Trung Quốc là 3,1 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2010 Đây là một trong nguyên nhân khiến nhập siêu của cả nước trong Quý 1/2011 lên tới 3,5 tỷ USD, trong đó riêng Tháng 3 tăng 1,41 tỷ USD
Như vậy, nhập siêu quý I ước đạt hơn 3 tỷ USD, bằng 15,7% kim ngạch xuất khẩu So với cùng kỳ năm 2010, nhập siêu chỉ giảm nhẹ khoảng 400 triệu USD Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại là nhập siêu đang có xu hướng tăng dần trong 3 tháng qua (Tháng 1 là 767 triệu USD, tháng 2 là 1,112 tỷ USD, tháng 3 là 1,150 tỷ
Trang 142008 Công ty Cổ phần Chứng Khoán FPT Trang 13
USD)
Trong bối cảnh cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu như hiện nay của nước ta, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu và các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất là rất cần thiết Do đó, có thể khẳng định rằng, tiết giảm nhập khẩu trong những tháng còn
lạ i sẽ chủ yếu nhắm vào các mặt hàng xa xỉ Đồng thời các chính sách được ban hành với mục tiêu kiềm chế nhập siêu cũng sẽ xoay quanh những mặt hàng này
Dự báo Cán cân Thương mại Quý II/2010
Trong Quý I/2011, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp tổng hợp nhằm ưu tiên thực hiện mục tiêu chính đó là kiềm chế lạm phát như hạn chế đầu tư công, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng và ngoạ i tệ Tuy nhiên thực tế cho thấy những dấu hiệu cải thiện của tổng thể nền kinh tế nói chung và cán cân thương mại nói riêng chỉ có thể được kỳ vọng trong nửa cuối năm 2011 do quy mô và độ trễ của các chính sách
Hiện nay, việc đầu tư cho công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu của các ngành đều còn hết sức hạn chế Với thực tế đó, tình trạng xuất khẩu càng nhiều thì nhập khẩu nguyên liệu càng lớn sẽ chưa thể chấm dứt Do đó, nhập siêu sẽ vẫn là vấn
đề kéo dài của nền kinh tế và chỉ có thể chấm dứt khi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
có sự thay đổi về chất Do đó, việc hạn chế nhập siêu ở thời điểm hiện tại chỉ có thể thực hiện ở nhóm hàng hạn chế nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng xa xỉ Nếu cơ cấu hàng nhập khẩu trong Quý II/2011 không có sự thay đổi so với Quý trước thì sẽ chưa thể giảm mạnh nhập siêu
Chỉ số giá tiêu dùng - CPI
Chỉ số giá đang trong xu hướng tăng dần và ngày càng cao dần về cuối trong 3 tháng đầu năm Tháng 3 thường là tháng hoạt động sau tết, nếu theo tính mùa vụ, tháng 3 sau tết Nguyên Đán hàng năm CPI thường không tăng so với các tháng trước, tuy năm nay CPI tăng cao hơn hẳn so với mọi năm, so với tháng trước và thể hiện những nguyên nhân cơ bản rất khác so với các năm trước
CPI trong tháng 3 tăng 2,17% so với tháng 2, CPI bình quân cả quý I tăng 12,8%
so với bình quân cùng kỳ năm 2010 Như vậy, chỉ tính riêng trong 3 tháng đầu năm, CPI tăng lũy kế 6,12% so với cuối năm 2010, và tăng 13,89% so với cùng
kỳ năm ngoái