Đã thu thập được 8 giống bưởi trồng ở Nghệ An và Hà Tĩnh là: bưởi Đường, bưởi Đào, bưởi Phúc Trạch, bưởi Chua, bưởi Oi, bưởi Chộng, bưởi Trắng và bưởi Sơn.. Đã đánh giá được chất lượng
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
một số đặc điểm hình thái và hoá sinh của các giống bưởi trồng tại TỉNH nghệ an và hà tĩnh
Nguyễn Thị Thu Loan (a), Đào Thị Minh Hiền (b ), Phan Xuân Thiệu (c) Tóm tắt Đã thu thập được 8 giống bưởi trồng ở Nghệ An và Hà Tĩnh là: bưởi
Đường, bưởi Đào, bưởi Phúc Trạch, bưởi Chua, bưởi Oi, bưởi Chộng, bưởi Trắng và bưởi Sơn Kết quả nghiên cứu cho thấy những giống bưởi trên có sự khác nhau về một số đặc
điểm hình thái như thân, lá và quả
Đã đánh giá được chất lượng quả của các giống bưởi qua một số chỉ tiêu sinh hoá như hàm lượng đường, hàm lượng axit hữu cơ, hàm lượng vitamin C và hàm lượng pectin trong quả Qua đó cho thấy bưởi Phúc Trạch là giống có hàm lượng đường cao nhất (3,82% đường khử, 9,2% đường tổng số) Bưởi Chua là giống có hàm lượng axit và pectin cao nhất (0,41% axit tự do, 0,95% axit tổng số, 12,80% pectin) Bưởi Đào là giống
có hàm lượng vitamin C cao nhất (122,00 mg% vỏ quả và 67,00 mg% tép quả)
Tỷ lệ đường/axit của các giống nằm trong khoảng 20-30, ngoại trừ giống bưởi Chua và bưởi Sơn, điều này cho thấy phần lớn quả các giống bưởi có chất lượng tốt
i Mở đầu
Bưởi (Citrus maxima (J Burmal) Merrill) là thuộc một trong ba đối tượng cây ăn quả chính (chuối, dứa và cây có múi) có giá trị dinh dưỡng cao: ngoài đường chiếm 8- 10%, bưởi còn rất giàu vitamin C, axit hữu cơ, pectin… có tác dụng tốt đối với sức khoẻ con người Trong công nghiệp người ta còn sử dụng tinh dầu lá bưởi, vỏ quả bưởi để chế nước hoa hay dầu thơm phục vụ sản xuất bánh kẹo Trong y dược, pectin
vỏ quả bưởi dùng làm thuốc cầm máu, chống nhiễm xạ và chữa bệnh đường ruột; mùi thơm của bưởi còn kích thích tiêu hoá, trị bệnh phổi và chảy máu dưới da ở nước ta cây bưởi được trồng từ rất lâu đời, góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao trong cơ cấu thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp của cả nước [1,2,6]
Nghệ An và Hà Tĩnh, nơi có sự đa dạng cao về các loài thuộc chi cam quýt, với nhiều giống đặc sản có tiếng, trong đó có các giống bưởi (cultivars) Bên cạnh đó còn
có rất nhiều giống địa phương được trồng và tiêu thụ khá phổ biến Vì vậy, việc khảo sát các đặc điểm hình thái và hoá sinh của các giống bưởi địa phương nhằm đánh giá
đúng giá trị của nó, từ đó làm cơ sở việc bảo tồn và khai thác các nguồn gen quý từ bưởi
Ii Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng sử dụng cho nghiên cứu là 8 giống bưởi (cultivars) thuộc loài Citrus maxima (J Burmal) Merrill được trồng ở Nghệ An và Hà Tĩnh bao gồm: bưởi Đường,
Nhận bài ngày 14/11/2006 Sửa chữa xong 18/12/2006
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
bưởi Đào, bưởi Phúc Trạch, bưởi Chua (thu tại huyện Hương Sơn, Hương Khê tỉnh
Hà Tĩnh); bưởi Oi, bưởi Chộng, bưởi Trắng, bưởi Sơn (thu tại huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An) Đây là các giống đã được người dân trồng từ rất lâu đời, được phân biệt giữa chúng với nhau chủ yếu qua mùi vị, hình dạng, màu sắc, kích thước quả 2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Mẫu quả được thu vào các ngày có thời tiết tốt, trên những cây không sâu bệnh
và phân bố đều trên tán Thời gian thu mẫu từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2005
- Xác định các chỉ tiêu hình thái dựa theo tài liệu “Phương pháp nghiên cứu thực vật” của Klein [5]
- Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh hoá
+ Xác định hàm lượng axit hữu cơ tổng số theo phương pháp Potrinop
+ Xác định hàm lượng axit hữu cơ tự do theo phương pháp đo Iốt
+ Xác định hàm lượng pectin bằng phương pháp canxi pectat
+ Xác định hàm lượng đường theo phương pháp Bectrand
+ Xác định hàm lượng vitamin C theo phương pháp đo Iốt
Các phương pháp được trình bày trong tài liệu “Thực hành hoá sinh” của Nguyễn Văn Mùi và "Kiểm nghiệm lương thực, thực phẩm" của Phạm Văn Sổ [7,8]
iII Kết quả nghiên cứu
3.1 Một số đặc điểm hình thái của 8 giống bưởi nghiên cứu
3.1.1 Thân cây và hình dạng tán
Cây bưởi sinh trưởng khoẻ, chiều cao trung bình từ 8- 13m đối với cây sinh trưởng bằng hạt và từ 5-8m đối với cây nhân giống bằng chiết cành hoặc ghép Chiều cao trung bình lớn nhất gặp ở bưởi Đào (10m) và thấp nhất gặp ở bưởi Chộng (3m), các giống bưởi còn lại chiều cao trung bình giao động trong khoảng 5-8m đã cho thấy
sự khác nhau cơ bản về mức độ sinh trưởng giữa các giống với nhau (bảng 1)
Bảng 1 Chiều cao, đường kính và dạng tán (Cỡ mẫu: 5)
Đường kính tán cây ở mỗi giống cũng có một giá trị khác nhau, đường kính tán trung bình rộng nhất ở bưởi Đường (6m) và hẹp nhất ở các giống bưởi Chua, Trắng,
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Chộng, Sơn (3m) Ngoài ra các giống khác nhau cũng khác nhau ở hình dạng tán, ta gặp hình bán nguyệt ở bưởi Phúc Trạch, hình chổi xể ở bưởi Đào, hình dù ở bưởi Oi, hình trụ
ở bưởi Trắng, hình quạt ở bưởi Chộng và hình tháp ở bưởi Chua, bưởi Đường và bưởi Sơn
3.1.2 Lá cây
Tiến hành quan sát và đo kích thước của 100 lá trong từng giống chúng tôi nhận thấy (bảng 2)
Bảng 2 Một số chỉ tiêu hình thái lá các giống bưởi
Kích thước lá
Lá của các giống bưởi có màu xanh đậm hoặc xanh lục, phần lớn lá có dạng hình bầu dục Sự khác nhau về hình thái lá của các giống bưởi được thể hiện rỏ qua chỉ tiêu kích thước, mép lá và đầu lá, trong đó giống bưởi Đào có kích thước lá lơn nhất (10,5 x 26,0cm), thứ đến là bưởi Chua (9,0 x 21,5cm) Đặc biệt giống bưởi Chộng lá không có cánh lá do không có sự thắt eo ở giữa, đây là một đặc điểm rất dễ phân biệt của giống bưởi này
3.1.3 Quả
Sự khác nhau về quả giữa các giống không những thể hiện ở màu sắc vỏ quả mà còn ở hình dạng, màu sắc của cùi, trọng lượng quả, kích thước quả, số múi/quả, thời gian chín của quả Kết quả về các chỉ tiêu của quả được thể hiện ở bảng 3
Quả bưởi Phúc Trạch có hình dạng cân đối, khi chín cùi và tép bưởi có màu trắng hoặc hồng, tép mọng nước Quả bưởi Đường dạng hình quả lê có núm to, khi chín cùi
và tép màu trắng Quả bưởi Đào về hình dạng giống quả bưởi Đường tuy nhiên khi chín thì cả cùi và tép đều có màu hồng nhạt, số múi/quả đạt giá trị trung bình cao nhất (15,5 múi/ quả) Quả bưởi Chua có hình dạng không cân đối, đầu cuống quả nhô
ra và to dần xuống cuối quả, trong một quả có xuất hiện nhiều phần lồi lõm khác nhau, khi chín cả cùi và tép có màu trắng đục Quả bưởi Trắng có hình cầu hơi dẹt, chiều rộng trung bình quả đạt kích thước bé nhất (9,7mm), khi chín các tép bưởi mềm nhũn và rất mọng nước, tép có màu trắng đục Quả bưởi Oi có hình dạng tương
tự cái oi bắt cá của dân địa phương Nghệ-Tĩnh (vì thế nên có tên là bưởi Oi), đầu
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
cuống nhỏ và to dần về cuối quả, khi chín tép bưởi dài và có màu trắng trong Quả bưởi Sơn có hình cầu, trọng lượng trung bình quả bé nhất (580g), khi chín vỏ quả chuyển sang màu đỏ cam rất đẹp, cùi bưởi và tép bưởi có màu hồng đậm phân biệt rõ với bưởi Đào Quả bưởi Chộng có hình bầu dục kéo dài, đạt giá trị lớn nhất về chiều cao (29,5cm), chiều rộng quả (15,9cm), trọng lượng trung bình quả (4000g) và độ dày
vỏ quả (28,5mm), đây là đặc điểm quan trọng nhất để nhận dạng giống bưởi này
Bảng 3 Giá trị trung bình về các chỉ tiêu hình thái quả
Kích thước
quả (cm)
Giống
Cao Rộng
Trọng lượng quả
(g)
Độ dày vỏ quả
(mm)
Số múi/
quả
Thời gian chín
Màu sắc vỏ quả khi chín
Màu sắc cùi khi chín
Màu sắc của tép khi chín Bưởi
Phúc
Trạch
rơm
Trắng hồng
Trắng hồng Bưởi
Đường
xanh
nhạt Bưởi
Đào
xám
nhạt Bưởi
Chua
xám
Trắng
đục
Nâu trắng Bưởi
Trắng
rơm
đục
rơm
trong Bưởi
Chộng
T11-T12
đục Bưởi
Sơn
T11-T12
cam
Hồng
đậm
3.1.4 Hạt
Các đặc điểm của hạt cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để phân biệt các giống Kết quả khảo sát được phản ánh qua bảng 4
Đặc điểm chung nhất của hạt bưởi là thường to bè, hình nêm, có hai màng rõ ràng: màng ngoài cứng vì lignin hoá, màng trong bao giờ cũng mỏng hơn và dính chặt với tử diệp Tuy nhiên giữa các giống bưởi khác nhau có sự khác nhau về một số chỉ tiêu như màu sắc, kích thước, trọng lượng Bưởi Chua có khối lượng trung bình hạt/quả lớn nhất (48,34g) và bưởi Sơn có khối lượng trung bình hạt/quả bé nhất (18,62g) Bưởi Oi có số lượng trung bình hạt/quả lớn nhất (166,7 hạt/quả) trong khi
đó số lượng hạt lép lại ít (21,7hạt), còn bưởi Phúc Trạch tuy số lượng trung bình hạt/quả tương đối lớn nhưng số lượng hạt lép lại rất cao (78,0/117,1 hạt/ quả) Đây là một đặc điểm quý đối với cây ăn quả Giống bưởi Chộng quả to, năng, số lượng hạt ít
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
và hạt lép lại nhiều (73,5/98,5hạt/quả), nên về mặt hình thái đây là đặc điểm quý đối với cây bưởi
Bảng 4 Một số chỉ tiêu về hạt của các giống bưởi
(mm)
Rộng (mm)
Dày (mm)
Số lượng hạt/ quả
Hạt chắc/ lép
Khối lượng hạt/quả (g)
3.2 Một số đặc điểm sinh hoá của quả các giống bưởi
3.2.1 Đánh giá bằng cảm quan
Đối với hoa quả, việc đánh giá bằng cảm quan là bước đầu để đưa ra những nhận
định về chất lượng và đây cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến Kết quả
đánh giá bằng cảm quan về vị (ngọt, chua, the và đắng) của quả các giống bưởi được dẫn ra ở bảng 5
Bảng 5 Kết quả đánh giá bằng cảm quan
Vị Giống
Qua bảng 5 cho thấy: Bưởi Chua có vị chua thanh, không the nhưng để lại vị
đắng sau khi ăn Bưởi Đường và bưởi Đào có vị ngọt khá giống nhau, nhưng khác nhau là bưởi Đào có cả vị chua, the và đắng
Bưởi Sơn có vị gần giống bưởi Chua, không có vị the, còn lại bưởi Trắng, bưởi Oi, bưởi Chộng có vị ngọt nhạt, chua vừa không the và ít đắng
Trong 8 giống bưởi nói trên, chỉ có bưởi Phúc Trạch có vị ngọt đậm, không để lại
vị the, đắng khi ăn, đây là đặc điểm quan trọng góp phần nâng cao giá trị của giống bưởi này trong tập đoàn các giống bưởi hiện có
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
3.2.2 Hàm lượng đường và axit hữu cơ trong quả
Hàm lượng đường và axit hữu cơ trong quả là hai chỉ tiêu quan trọng quyết định chất lượng của quả bưởi, vì chúng góp phần tạo nên vị của quả Kết quả phân tích hàm lượng các chỉ tiêu này được trình bày qua bảng 6
Bảng 6 Hàm lượng đường và axit hữu cơ trong quả của các giống bưởi (ĐVT: %)
HL
đường khử
HL đường tổng số
HL axit hữu cơ
tự do
HL axit hữu cơ tự
do
Tỷ lệ
đường/ax
it
Dẫn liệu từ bảng cho thấy: Hàm lượng đường trong quả các giống bưởi là khác nhau và dao động khá lớn, từ 1,28% - 3,82% đối với đường khử và 5,60% - 9,20% đối với đường tổng số Trong đó giống bưởi Phúc Trạch có hàm lượng các loại đường cao nhất (3,82% đường khử, 9,2% đường tổng số), và giống bưởi Đường co hàm lượng
đường thấp nhất (1,28% đường khử, 5,60% đường tổng số) Các giống bưởi còn lại có hàm lượng đường tổng số giao động trong khoảng từ 5,90%- 7,70% và kết quả này thấp hơn so với một số giống bưởi như: bưởi Tàu (10,6%), bưởi Bị (9,6%), bưởi Năm Roi (8,6%) và bưởi Đoan Hùng (11,6%)[3,4]
Hàm lượng axit hữu cơ tự do và tổng số trong quả cao nhất là giống bưởi Chua (0,41%; 0,95%), và thấp nhất là bưởi Đường (0,24%; 0,32%) Các giống còn lại có hàm lượng axit tự do khác nhau không đáng kể Kết quả phân tích hàm lượng axit tự do trên nhìn chung có thấp hơn so với các giống đã được nghiên cứu[3,4]
Để đánh giá chất lượng của quả ngọt thường dựa vào tỷ lệ đường/ axit, giống có
tỷ lệ này lớn hơn 20 được xem là giống có chất lượng Kết quả bảng 7 cho thấy: giông bưởi Phúc Trạch có giá trị cao nhất (24,93) và bưởi Chua là thấp nhất (17,02) Còn giống bưởi Đường tuy có hàm lượng đường thấp nhưng vẫn ngọt vì hàm lượng axit hữu cơ cũng rất thấp, tỷ lệ đường/axit 23,03, chỉ thấp hơn ở bưởi Phúc Trạch, nhưng cao hơn 6 giống còn lại Giống bưởi Sơn, bưởi Đào, bưởi Trắng, bưởi Oi và bưởi Chộng
có tỷ lệ này giao động trong khoảng từ 19,70 – 21,55
3.2.4 Hàm lượng vitamin C và pectin trong quả các giống bưởi
Quả các loài cam quýt là nguồn cung cấp vitamin và pectin quan trọng cho con người Hàm lượng của chúng thường thay đổi tuỳ theo bộ phận và phụ thuộc vào nhiều yếu tố của môi trường
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Bảng 7 Hàm lượng vitamin C và pectin trong quả bưởi
Hàm lượng vitamin C (mg%)
Hàm lượng pectin
(%)
Kết quả phân tích từ bảng 7 cho thấy: các giống bưởi có hàm lượng vitamin C khá cao kể cả phần tép và vỏ quả Trong đó giống bưởi Đào có hàm lượng vitamin C cao nhất là 122,00 mg% (vỏ quả), 67,00mg%(tép quả), các giống còn lại có hàm lượng vitammin C giao động từ 83,60 - 118,80mg% đối với phần vỏ và 45,10 - 62,50mg%
đối với phần tép quả Hàm lượng vitamin C trong tép quả của các giống được nghiên cứu cao hơn so với các giống bưởi Năm Roi (23,44mg%) và Đoan Hùng (46,20mg%)[3]
Bưởi là nguồn nguyên liệu dùng cho khai thác pectin phục vụ cho nhiều mục
đích như sản xuất bánh kẹo, nước cô đặc Ngoài ra pectin còn có vai trò quan trọng giúp cơ thể loại bỏ cholesterol, chống xơ cứng động mạch, chống nhiễm kim loại nặng, nhiễm xạ và chữa các bệnh đường ruột
Hàm lượng pectin trong vỏ của 7 giống bưởi giao động trong khoảng từ 9.27- 12.8% trong đó cao nhất ở bưởi Chua (12,80%)và bưởi Phúc Trạch (12,64%), thấp nhất là ở bưởi Oi (9,27%) Pectin tồn tại cả hai trạng thái: pectin hoà tan và pectin không hoà tan (protopectin), lúc quả còn xanh chúng phân tán nhiều trong thành quả, thành tế bào, tạo chất kết dính giữa các tế bào, làm cho quả có độ rắn chắc nhất
định góp phần bảo vệ quả
III Kết luận
Qua thu thập và nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh hoá của 8 giống bưởi nhận thấy:
- Các giống có sự khác nhau về mặt hình thái qua một số đặc điểm như chiều cao cây, hình dạng tán, kích thước lá, đặc biệt là hình dạng, kích thước, khối lượng và màu sắc vỏ của quả
- Đã đánh giá được chất lượng quả của các giống bưởi qua một số chỉ tiêu sinh hoá như hàm lượng đường, hàm lượng axit hữu cơ, hàm lượng vitamin C và hàm lượng pectin, qua đó cho thấy bưởi Phúc Trạch là giống có hàm lượng đường và tỷ lệ
đường/axit (24,93) là cao nhất và giống bưởi Chua có tỷ lệ này là thấp nhất (17,02) Các giống còn lại có tỷ lệ giao động trong khoảng từ 19,70 – 21,55, điều này chứng tỏ phần lớn quả các giống đều có phẩm chất tốt
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Huy Bíchvà cộng sự, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2003
[2] Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, 1999
[3] Phan Thị Chử, Trần Thế Tục, Sơ bộ đánh giá một số đặc điểm của các giống bưởi ở Việt Nam, Kết quả nghiên cứu khoa học, quyển 6, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1996, 191-194
[4] Phan Thị Chử, Trần Thế Tục, Kết quả nghiên cứu bước đầu về một số giống bưởi được trồng ở Hương Khê - Hà Tĩnh, Kết quả nghiên cứu khoa học, quyển 4, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995, 156-158
[5] R M Klein, D T Klein, Phương pháp nghiên cứu thực vật, NXB Khoa học Kỹ thuật
Hà Nội, 1983
[6] Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, 2003 [7] NguyễnVăn Mùi, Thực hành hoá sinh học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 [8] Phạm Văn Sổ, Bùi Thị Như Thuận, Kiểm nghiệm lương thực thực phẩm, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1975
Summary some Morphological and biochemical characteristics of grapefruits grown in nghe an and ha tinh provinces
The authors have colleted eight types grapefruits grown in Nghe An and Ha Tinh provinces, including: Phuc Trach, Duong, Dao, Chua, Chong, Trang, Oi and Son It can be shown from the research that there are some morphological features among these types of grapesuits such as trunk, leaf and fruit
The quality of some types of grapefruits has been evaluated in term of biochemical index such as the content of sugar, organic acid, vitamin C and pectin
It can be concluded that Phuc Trach has the highest sugar content (3.82% reduced sugar, 9.2% total sugar), Chua has the highest acid and pectin content (0.41% free acid, 0.95% total acid, 12.80% pectin), meanwhile Dao has the highest vitamin C content (122.00% in peel and 67.00% in succulent cell)
The sugar/axit ratio of the eight types of grapefruit, except for Chua and Son, is defined to be from 20 to 30, which can be concluded that almost all of the grapefruits studied are of high quality
(a) Cao học 12 Sinh, trường Đại học Vinh
(b) 42 Sinh học, trường Đại học Vinh
(c) Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh