Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 Bước đầu nghiên cứu môi trường nước và thành phần loài Động vật nổi của hồ chứa Vực Mấu và Khe Đá tỉnh Nghệ An Trần Đức Lương a, H
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Bước đầu nghiên cứu môi trường nước
và thành phần loài Động vật nổi của hồ chứa Vực Mấu và Khe Đá tỉnh Nghệ An
Trần Đức Lương (a), Hoàng Xuân quang (b), Hồ Thanh Hải (c)
Tóm tắt Bài báo phản ánh đặc trưng môi trường nước và thành phần loài động vật nổi qua 3 đợt khảo sát tại các hồ chứa nước Vực Mấu và Khe Đá (tỉnh Nghệ An)
Đồng thời tìm hiểu đặc điểm phân bố số lượng và sự biến động của động vật nổi tại các
hồ chứa này
I Mở đầu
Tỉnh Nghệ An thuộc khu vực Bắc Trung Bộ với địa hình đồi núi thấp và gò đồi chiếm tỷ lệ lớn, cùng với đó là mạng lưới sông suối phát triển với mật độ trung bình
đạt 0,62 km/km2 nhưng lại phân bố không đồng đều trong toàn vùng Đây là điệu kiện thuận lợi cho việc phát triển loại thủy vực dạng hồ chứa phục vụ cho các mục
đích thuỷ điện, thuỷ lợi Hiện nay, ở Nghệ An có khoảng 625 hồ chứa nước lớn và nhỏ Với tính chất đặc trưng của yếu tố thành tạo mà hồ chứa có những đặc điểm riêng biệt so với các loại hình thủy vực khác cả về tính chất thủy lý hóa và đặc tính thủy sinh vật
Động vật nổi là một trong những những nhóm động vật tiêu thụ, đóng vai trò lớn trong chu trình biến đổi vật chất của các hệ sinh thái thuỷ vực nói chung và hồ chứa nói riêng Chúng còn là thành phần thức ăn tự nhiên của nhiều loài cá Thông qua nghiên cứu các chỉ số thủy lý thủy hóa, đặc trưng thành phần, phân bố nhóm
động vật nổi có thể đánh giá được phần nào năng suất của thuỷ vực cũng như chất lượng môi trường nước của một số hồ chứa ở Nghệ An
II Phương pháp nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được thu thập trong ba đợt: mùa mưa (tháng 9/2005), mùa khô (tháng 2/2006) và thời kỳ chuyển tiếp (6/2006) tại hai hồ chứa lớn nhất của tỉnh Nghệ An là hồ Vực Mấu (Quỳnh Lưu) và hồ Khe Đá (Nghĩa Đàn) ở mỗi hồ, thu mẫu tại 4 mặt cắt (MC) MC1, MC2, MC3, MC4 theo thứ tự từ bờ đập tới vùng thượng lưu
hồ chứa (hình 1) Tại mỗi mặt cắt, thu mẫu nước để phân tích thủy lý hóa và thu mẫu động vật nổi ở 3 điểm: bờ phải, bờ trái và giữa hồ Trong mỗi đợt, ở mỗi điểm thu 2 mẫu nước, 1 mẫu định tính và 1 mẫu định lượng động vật nổi Tổng số mẫu nước đã thu và phân tích là 144; 36 mẫu định tính và 36 mẫu định lượng động vật nổi
Nhận bài ngày 25/9/2006 Sửa chữa xong 18/12/2006
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Các chỉ số nhiệt độ, độ pH, độ trong theo đĩa Secchi được đo trực tiếp tại hiện trường, các chỉ số DO, COD, NH4+, PO43-, độ cứng nước tầng mặt được phân tích trong phòng thí nghiệm theo ''Standard methods for examination of water and water waste water'' [1] của tổ chức Y tế Mỹ, 1985 và ''Các tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam về môi trường Tập1: Chất lượng nước'' [8]
Mẫu động vật nổi được thu bằng lưới kiểu hình chóp nón, cỡ mắt lưới No45 (45 sợi/cm) Mẫu định lượng được thu bằng cách cho lọc qua lưới một thể tích nước nhất
định, cố định bằng dung dịch formon 4% Phân tích phân loại học theo các tài liệu của các tác giả trong nước và nước ngoài [5, 6] Định lượng động vật nổi bằng buồng
đếm Bogorov dung tích 10 ml rồi quy ra đơn vị m3
Hình 1 Bản đồ các vị trí thu mẫu (a Hồ Vực Mấu; b Hồ Khe Đá)
III Kết quả nghiên cứu
1 Một số đặc điểm về hồ chứa Vực Mấu và Khe Đá
Hồ Vực Mấu được xây dựng vào năm 1978, kéo dài trên địa bàn của ba xã Quỳnh Trang, Quỳnh Tân và Quyết Thắng thuộc huyện Quỳnh Lưu với diện tích lưu vực khoảng 214 km2, dung tích đạt 75 triệu m3 là hồ chứa lớn nhất Nghệ An Hồ
được xây dựng ở độ cao 25m so với mặt nước biển, độ sâu trung bình của hồ là 18m, những điểm sâu nhất có thể đạt từ 21-25m Mực nước trong hồ dao động lớn, giữa mùa mưa và mùa khô có thể chênh nhau từ 3- 8m Hồ được xây dựng nhằm mục
đích thủy lợi, điều tiết lũ, cung cấp nước tưới cho đồng bằng huyện Quỳnh Lưu Trước khi hồ hình thành, vùng lưu vực hồ là những suối nhỏ có nguồn từ phía bắc huyện Quỳnh Lưu và phía nam huyện Nghĩa Đàn, hai bên lưu vực là rừng trên núi
đá vôi Hiện nay, diện tích rừng trên núi đá vôi xung quanh lưu vực hồ giảm đi đáng kể: diện tích rừng 98 km2, đất trống 45 km2, đất nông nghiệp và thổ cư 8,5 km2
b
a
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Hồ Khe Đá được xây dựng vào năm 1969, nằm trên địa phận xã Nghĩa Đức, huyện Nghĩa Đàn có nguồn là các con suối về phía Tây Nam của huyện Nghĩa Đàn
và phía Đông Nam của huyện Quỳ Hợp Hồ có diện tích lưu vực khoảng 50 km2, dung tích đạt 16,8 triệu m3 Hồ được xây dựng ở độ cao 54,5m so với mặt nước biển,
độ sâu trung bình của hồ đạt 9m, những nơi sâu có thể đạt từ 11- 14m Hồ xây dựng cũng nhằm mục đích cung cấp nước tưới cho các xã Nghĩa Đức, Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái và Nông trường sông Con Ngoài ra, hồ còn được quy hoạch để nuôi thủy sản với sản lượng đánh bắt hàng năm đạt 55 tấn cá So với hồ Vực Mấu, hồ Khe Đá có thảm thực vật khu vực xung quanh hồ còn tốt hơn Diện tích có rừng 9 km2, đất trống 31 km2, đất nông nghiệp và thổ cư 10 km2
2 Hiện trạng môi trường nước các hồ chứa
Các kết quả phân tích môi trường nước hồ Vực Mấu và Khe Đá trong các đợt khảo sát được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Kết quả phân tích môi trường nước hồ chứa Vực Mấu và Khe Đá trong các
đợt nghiên cứu
Địa điểm
Thông số Mặt cắt Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3
Nhiệt độ
( 0C)
Độ pH
mc1 68,0 167,0 93,0 38,5 65,0 44,0 mc2 68,0 168,0 89,0 38,5 67,5 42,5 mc3 72,0 171,0 94,0 40,0 65,5 45,0
Độ trong
(cm)
mc4 75,0 171,0 97,0 42,5 68,0 45,0 mc1 0,056 0,049 0,264 0,198 0,175 0,185 mc2 0,195 0,046 0,373 0,182 0,185 0,136 mc3 0,079 0,056 0,145 0,215 0,169 0,128
NH4+
(mg/l)
mc4 0,050 0,048 0,190 0,136 0,145 0,157 mc1 0,143 0,241 0,054 0,145 0,280 0,148 mc2 0,160 0,250 0,073 0,179 0,284 0,447 mc3 0,136 0,202 0,066 0,159 0,305 0,346
PO4
3-(mg/l)
mc4 0,200 0,267 0,072 0,152 0,348 0,247
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
mc3 5,12 9,18 7,68 3,84 10,09 8,24
DO
(mg/l)
mc4 5,42 8,18 7,69 4,48 11,74 8,56 mc1 12,48 2,16 3,20 12,08 2,96 6,49 mc2 12,00 2,00 3,28 8,15 3,26 6,36 mc3 11,44 1,76 4,40 5,28 3,28 6,43
COD
(mg/l)
mc4 12,13 1,77 3,32 7,02 2,80 5,98
Độ cứng
(meq/l)
Từ kết quả phân tích đó ta có thể đưa ra một số nhật xét chính như sau:
2.1 Môi trường nước hồ Vực Mấu
- Nhiệt độ nước tầng mặt hồ Vực Mấu dao động từ 19,50C vào mùa khô đến 270C vào mùa mưa và 31,50C vào thời gian chuyển tiếp Nhìn chung rất ít có sự sai khác
về nhiệt độ giữa các mặt cắt dọc theo hồ
- Độ pH nằm trong khoảng trung tính dao động từ 6,7- 7,2
- Độ trong tương đối cao dao động từ 68- 171cm Độ trong của nước vào mùa khô cao hơn hẳn so với mùa mưa Theo chiều dọc hồ, có sự giảm dần độ trong từ giữa hồ
về phía đập
- Hàm lượng NH4+ của khối nước tầng mặt dao động từ 0,046- 0,373 mg/l Giá trị
NH4+ trung bình vào mùa khô (0,050 mg/l) thấp hơn so với mùa mưa (0,095 mg/l) và giai đoạn chuyển tiếp (0,243 mg/l) Theo chiều dọc của hồ, nhìn chung hàm lượng
NH4+ có sự tăng dần từ thượng nguồn đến bờ đập, dao động từ 0,096 mg/l (MC4) đến 0,205 mg/l (MC2) Hàm lượng NH4+ tầng mặt của hồ Vực Mấu nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước mặt Việt Nam (0,05- 1mg/l) [8]
- Hàm lượng PO43- dao động từ 0,054- 0,267 mg/l Giá trị PO43- trung bình vào mùa khô (0,240 mg/l) lại cao hơn so với mùa mưa (0,160 mg/l) và thời gian chuyển tiếp (0,066 mg/l)
- Hàm lượng ôxy hòa tan tầng mặt hồ Vực Mấu khá cao cả về mùa mưa lẫn mùa khô, dao động từ 4,80- 9,18mg/l và không có sự chênh lệch lớn giữa các mặt cắt dọc theo hồ Điều này thể hiện mức độ ít nhiễm bẩn của hồ
- Nhu cầu ôxy hóa học (COD) thấp dao động từ 1,76- 12,48 mg/l, cũng ít có sự chênh lệch lớn giữa các mặt cắt và nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
mặt Việt Nam (<10 đối với nước cấp sinh hoạt và <35 cho nước dùng với mục đích khác) [8]
- Độ cứng (biểu thị nồng độ các muối Ca, Mg của nước) dao động từ 1,0- 2,3 meq/l Vào mùa mưa, độ cứng thường cao hơn mùa khô
2.2 Môi trường nước hồ Khe Đá
- Nhiệt độ nước tầng mặt hồ Khe Đá dao động từ 18,50C vào mùa khô đến 26,50C vào mùa mưa và 320C vào thời gian chuyển tiếp và cũng có rất ít có sự sai khác về nhiệt độ giữa các mặt cắt dọc theo hồ
- Độ pH nằm trong khoảng trung tính dao động từ 6,6- 7,4
- Độ trong hồ Khe Đá thấp hơn so với hồ Vực Mấu dao động từ 38,5- 68cm, vào mùa khô độ trong thường cao hơn so với mùa mưa song mức độ chênh lệch không lớn như ở hồ Vực Mấu
- Hàm lượng NH4+ tầng mặt dao động 0,136- 0,215 mg/l, hàm luợng amonia vào mùa mưa (0,183 mg/l) cao hơn mùa khô (0,169) mg/l) và giai đoạn chuyển tiếp (0,152 mg/l) Theo chiều dọc hồ cũng có sự tăng dần từ MC4 (0,146 mg/l) đến MC1(0,186 mg/l)
- Hàm lượng PO43- dao động từ 0,145- 0,447 mg/l, vào mùa khô hàm lượng phốt phát (0,304 mg/l) thường cao hơn so với mùa mưa (0,159 mg/l) và thời gian chuyển tiếp (0,297mg/l) Hàm lượng phốt phát không biến thiên nhiều theo chiều dọc của hồ, dao động từ 0,191- 0,303 mg/l
- Hàm lượng ôxy hòa tan trong khối nước tầng mặt của hồ Khe Đá cao, dao động
từ 3,84 - 11,74 mg/l DO trung bình vào mùa khô (9,63 mg/l) cao hơn mùa mưa (4,08 mg/l) và giai đoạn chuyển tiếp (8,40 mg/l) Hàm lượng ôxy hòa tan có xu hướng cao ở
đầu nguồn, giảm dần về phía đập
- Nhu cầu ôxy hóa học (COD) thấp, dao động 2,80- 12,08 mg/l, chỉ số COD trung bình vào mùa mưa (8,13 mg/l) cao hơn so với mùa khô (3,07 mg/l) và thời gian chuyển tiếp (6,32 mg/l) Điều đó cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa hàm lượng
ôxy hòa tan và nhu cầu ôxy hóa học
- Độ cứng của nước tại hồ Khe Đá dao động từ 2,2- 2,7 meq/l, mức độ dao động này là không lớn và cũng không khác biệt nhiều giữa mùa mưa (2,6 meq/l) và mùa khô (2,5 meq/l)
Nếu so sánh đặc điểm môi trường nước của hồ Vực Mấu và hồ Khe Đá với các hồ chứa nước khác ở Việt Nam (như hồ Hòa Bình, hồ Thác Mơ ) thấy rằng giữa chúng
có nhiều đặc điểm tương đồng, mang tính chất chung của hồ chứa khu vực trung du
và miền núi Độ trong tương đối cao, pH từ trung tính đến kiềm yếu Hàm lượng oxy
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
hòa tan cao trong khi nhu cầu oxy hóa học, hàm l−ợng các muối dinh d−ỡng lại thấp Bảng 2 so sánh một số chỉ tiêu thuỷ lý, thủy hóa của hồ Vực Mấu và Khe Đá với hồ Hòa Bình và hồ Thác Mơ [7]
Bảng 2 So sánh một số chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa của các hồ chứa
Hồ chứa
Yếu tố
Vực Mấu (2005- 2006)
Khe Đá
(2005- 2006)
Hòa Bình (1993- 1994)
Thác Mơ (1996) Nhiệt độ (0C) 19,5-31,5 18,5- 32 18- 32
DO (mg/l) 4,80- 9,18 3,84 - 11,74 6,49- 9,2 6,34- 9,8 COD (mg/l) 1,76- 12,48 2,80- 12,08 0,6- 1,5 10-18
NH4+ 0,046- 0,373 0,136- 0,215 0,01- 1,50 0,026- 0,16
PO43- 0,054- 0,267 0,145- 0,447 0,01- 1,23 0,24- 0,84
3 Đặc tr−ng về Động vật nổi của hồ Vực Mấu và Khe Đá
3.1 Thành phần loài
Qua ba đợt khảo sát tại hai hồ chứa, chúng tôi đã xác định đ−ợc 37 loài động vật nổi thuộc 29 giống của 11 họ trong bốn nhóm động vật nổi là Giáp xác chân chèo (Copepoda), Giáp xác râu ngành (Cladocera), Trùng bánh xe (Rotatoria) và Giáp xác
có bao (Ostracoda) Trong thành phần loài, nhóm Giáp xác râu ngành có số loài lớn nhất gồm 16 loài, chiếm 43,25% tổng số loài Tiếp đến là nhóm Giáp xác chân chèo có
11 loài chiếm 29,73%, nhóm Trùng bánh xe có 9 loài, chiếm 24,32%, và cuối cùng là nhóm Giáp xác Ostracoda có 1 loài chiếm 2,7% Các loài động vật nổi xác định đ−ợc
là các loài phổ biến trong khu vực (Bảng 3) Trong thành phần loài động vật nổi không phát hiện thấy loài Vietodiaptomus hatinhensis - loài phân bố đặc tr−ng cho các thuỷ vực ở vùng Trung Bộ Các kết quả tác giả nghiên cứu trong cùng thời gian ở
ao và ruộng lúa- cá ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng không phát hiện thấy loài này [3] Thành phần loài và sự phân bố các loài động vật nổi ở hai hồ ít nhiều có sự sai khác
ở hồ Vực Mấu, xác định đ−ợc 31 loài, thành phần −u thế vẫn thuộc về nhóm giáp xác Râu ngành với 16 loài (chiếm 51,61%) Thành phần loài cũng có sự sai khác giữa mùa m−a và mùa khô, nhìn chung vào mùa m−a số l−ợng loài lớn hơn (22 loài) so với
số loài ở mùa khô (15 loài) và giai đoạn chuyển tiếp (16 loài) Vào mùa m−a −u thế
về số loài thuộc về nhóm Cladocera với 14 loài (chiếm 63,64 %) và có sự giảm dần vào mùa khô và ở giai đoạn chuyển tiếp nh−ng nhìn chung nhóm này vẫn chiếm −u thế
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Bảng 3 Thành phần loài của một số nhóm động vật nổi ở hồ chứa Vực Mấu và Khe Đá
Hồ Vực Mấu Hồ Khe Đá
TT
(1)
Tên taxon
(3)
Đ2 (4)
Đ3 (5)
Đ1 (6)
Đ2 (7)
Đ3 (8) Trùng bánh xe- Rotatoria
1 Họ Asplanchnidae
2 Họ Euchlanidae
2 Diplois daviesiae Gosse +
3 Họ Brachionidae
4 Họ Filiniidae
Giáp xác Râu Ngành- Cladocera
5 Họ Bosminidae
6 Họ Sididae
12 Sida crystallina (O.F Mỹller) + +
7 Họ Macrothricidae
8 Họ Daphniidae
19 Ceriodaphnia rigaudi Richard + +
9 Họ Chydoridae
20 Pleuroxus hamatus hamatus Birge + +
21 Chydorus sphaesicus
sphaesicus(Mỹller)
+
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
22 Camptocercus vietnamensis Dang +
23 Oxyurella singalensis (Daday) +
Giáp xác chân chèo- Copepoda
bộ Calanoida
10 Họ Diaptomidae
29 Eodiaptomus draconisignivomi Brehm + +
30 Phyllodiaptomus tunguidus Shen et Tai + + + +
bộ Cyclopoida
11 Họ Cyclopidae
Giáp xác có bao-Ostracoda
Họ Cypridae
Tại hồ Khe Đá, đã xác định được 28 loài động vật nổi và sự sai khác về số loài giữa các lần khảo sát là không lớn (15 loài và 17 loài) Thành phần loài động vật nổi
ít sai khác giữa mùa khô và mùa mưa và có sự đồng đều về số lượng loài ở cả ba nhóm Rotatoria, Cladocera và Copepoda Tuy nhiên, so với sự biến động thành phần loài động vật nổi với các chứa lớn khác ở Việt Nam [2, 7], thấy rằng, ở hai hồ chứa nghiên cứu có sự biến động thành phần loài lớn hơn có thể là do đây là các nhỏ, thời gian hình thành hồ chưa lâu, có chế độ thủy học biến đổi rất lớn theo mùa do sự điều tiết của con nguời, cũng có thể là số lần thu mẫu lặp lại chưa nhiều
Về mặt phân bố không gian, nhóm Cladocera (các họ Bosminidae, Sididae, Daphniidae), Copepoda (họ Diaptomidae) ưu thế hơn về thành phần loài ở các mặt cắt gần đập ở những mặt cắt xa đập, giáp xác Râu ngành Cladocera có kích thước cơ thể nhỏ thuộc họ Chydoridae chiếm ưu thế hơn Điều này phù hợp với đặc điểm
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
vừa mang tính chất thủy vực nước đứng vừa mang tính chất thủy vực nước chảy của
hồ chứa
3.2 Đặc trưng về số lượng
Kết quả phân tích định lượng cho thấy mật độ động vật nổi trong hồ Vực Mấu dao động từ 98-33.900 con/m3 ; ở hồ Khe Đá dao động từ 86-19.855 con/m3 tính theo mặt cắt dọc hồ và theo mùa Phân bố số lượng động vật nổi theo mùa và theo chiều dọc hồ Vực Mấu và Khe Đá được biểu diễn bằng hình 2, 3
366 1641
172
98
9840 13480
1
10
100
1000
10000
100000
Hình 2 Phân bố số lượng động vật nổi theo
mùa và theo chiều dọc hồ chứa Vực Mấu
934
86 124
177 255
1875 2812
1365
4125
1025 3858
19855
1 10 100 1000 10000 100000
MC1 MC2 MC3 MC4
Đợt 1
Đợt 2
Đợt 3
Hình 3 Phân bố số lượng động vật nổi theo mùa và theo chiều dọc hồ chứa Khe Đá
Tại cả hai hồ chứa, mật độ động vật nổi cao nhất vào giai đoạn chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa (đợt 3), ở hồ Vực Mấu đạt giá trị trung bình 19.870 con/m3 (Rotatoria chiếm 0,7%; Copepoda 34,3%; Cladocera 64,5%; Ostracoda 0,1%; nhóm khác 0,4%) và ở hồ Khe Đá đạt 7.216 con/m3 (Rotatoria chiếm 8,4%; Copepoda 80,7%; Cladocera 9,4%; Ostracoda 0%; nhóm khác 1,5%) Từ đó có thể thấy giai đoạn chuyển mùa, đặc biệt sau mùa mưa, dường như các hồ chứa đã được tích luỹ một lượng muối dinh dưỡng đáng kể từ các nguồn bên ngoài vào hồ Sang tới đầu mùa khô, chế độ thuỷ văn của hồ thay đổi hẳn từ thuỷ vực nước chảy mạnh sang dạng nước đứng hoặc chảy chậm, độ trong tăng , các yếu tố đó là cơ sở thuận lợi để động vật nổi phát triển mạnh, tới mức cực đại
Mật độ động vật nổi thấp nhất trong 3 lần thu mẫu ở Vực Mấu vào mùa khô chỉ
đạt 131 con/m3 (Rotatoria chiếm 0,9%, Copepoda 14,1%, Cladocera 81,5%, Ostracoda 0,3%, nhóm khác 3,2%) Trong khi đó, ở hồ Khe Đá, mật độ động vật nổi thấp nhất
)
Trang 10Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
lại vào mùa mưa đạt 161 con/m3 (Rotatoria chiếm 8,3%, Copepoda 75,1%, Cladocera 7,3%, Ostracoda 0%, nhóm khác 9,3%) và không có sự chênh lệch lớn giữa mùa khô
và mùa mưa như ở hồ Vực Mấu Điều này phản ánh mức độ sai khác về nguồn dinh dưỡng, nền đáy và chế độ thuỷ văn của hai hồ này
Nếu xem xét về sự biến động mật độ động vật nổi theo không gian ta thấy có sự giống nhau giữa hai hồ chứa Mật độ động vật nổi thấp nhất ở vùng thượng lưu hồ
và có xu hướng tăng dần theo chiều từ thượng nguồn tới vùng hạ lưu gần đập (hình
2, 3) Kết quả này phù hợp với đặc trưng phân bố sinh vật nổi theo chiều dọc hồ chứa
đã được nhiều tác giả nghiên cứu công bố [2, 4, 7]
Về mặt số lượng, tại mỗi MC và mỗi thời điểm thu mẫu thường có một nhóm loài hay một loài chiếm ưu thế ở hồ Vực Mấu, loài Asplanchna sieboldi cùng với các loài Microcyclops varicans, Mesocyclops leuckarti chiếm ưu thế về mùa mưa, về mùa khô các loài trong họ Bosminidae (Bosmina longirostris; Bosminopsis deitersi) chiếm ưu thế Còn tại hồ Khe Đá, các loài trùng bánh xe Asplanchna sieboldi, Brachionus calyciflorus lại chiếm ưu thế vào mùa khô và giai đoạn chuyển tiếp Vào mùa mưa, các loài trong họ Cyclopidae lại chiếm ưu thế về mật độ
So sánh với các hồ chứa lớn khác ở Việt Nam ta thấy hồ Vực Mấu và Khe Đá có thành phần loài và mật độ động vật nổi thấp hơn mật độ động vật nổi hồ Hòa Bình- dao động từ trên 4.000 đến trên 100.000 con/m3 (1993-1994), ở hồ Thác Mơ là 3.000- trên 300.000 con/m3(1996) Tuy nhiên lại có sự tương đương với một số hồ chứa nhỏ khác như hồ Cấm Sơn- mật độ động vật nổi dao động từ 4.373- 8.854 con/m3 (1967- 1968)- và hồ Suối hai (1965) có mật độ động vật nổi từ 5.600- 17.100 con/m3 (Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải và nnk, 2001) [7] Mặc dù vậy chúng lại có sự giống nhau về sự phân bố số lượng động vật nổi, đặc tính ưu thế của loài hay nhóm loài theo không gian và thời gian (mùa)
IV Kết luận
Từ kết quả phân tích môi trường và một số nhóm động vật nổi ở hồ chứa Vực Mấu và hồ Khe Đá, có thể đi đến một số kết luận như sau:
4.1 Chất lượng môi trường nước hồ Vực Mấu và Khe Đá nhìn chung là sạch cả ở mùa mưa lẫn mùa khô thể hiện ở các chỉ số thủy lý, thủy hóa đều ở mức thấp hơn so với các giới hạn cho phép của tiêu chuẩn chất lượng nước mặt Việt Nam (dùng cho mục đích tưới tiêu và mục đích khác), một số chỉ tiêu còn dưới mức cho phép với mục
đích sử dụng làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt Điều này cũng phù hợp với tính