Tìm giải pháp canh tác trên đất dốc trong điều kiện môi trường và sinh thái bị tổn hại là vấn đề cấp thiết hiện nay ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nơi có diện tích đất dốc lớn nhưng tr
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
Bàn về vấn đề sử dụng đất dốc
ở huyện quế Phong tỉnh Nghệ An
Trần thị Tuyến (a)
Tóm tắt Tìm giải pháp canh tác trên đất dốc trong điều kiện môi trường và sinh thái bị tổn hại là vấn đề cấp thiết hiện nay ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nơi có diện tích đất dốc lớn nhưng trình độ sản xuất và trình độ dân trí thấp Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng sử dụng đất dốc miền núi này; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp sản xuất đảm bảo tính bền vững trên đất dốc phù hợp với điều kiện tự nhiên
và nhân văn ở địa bàn nghiên cứu, trong đó việc xây dựng các mô hình sản xuất nông - lâm kết hợp là quan trọng nhất
I Mở đầu
Quế Phong là huyện vùng cao nằm cuối quốc lộ 48, nơi tiếp giáp với CHDCND Lào; có 179.825 ha đất đồi núi, chiếm 94,87% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện
Đây là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số: Thái, Khơ Mú, H, Mông (chiếm trên 95% dân số của huyện) Diện tích đất bằng còn lại là địa bàn cư trú và canh tác của người Kinh và người Thổ Việc giao đất giao rừng cho nông dân đã đem lại hiệu quả thực sự về quản lý và sử dụng đất Tuy nhiên, do trình độ canh tác thấp và còn thiếu mô hình sản xuất đảm bảo tính bền vững trên đất dốc nên nạn xói mòn làm suy thoái đất còn rất nghiêm trọng Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sử dụng đất dốc, bài viết đề xuất một số mô hình sản xuất trên đất dốc nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính bền vững trong việc sử dụng đất của huyện Quế Phong
II Thực trạng sử dụng đất dốc ở Quế Phong
2.1 Tiềm năng đất dốc của huyện Quế Phong
Quế Phong có tổng diện tích đất tự nhiên là 189.543,45 ha (11,5% tổng diện tích
đất tự nhiên của tỉnh Nghệ An), trong đó đất phù sa dọc thung lũng sông và chân núi chiếm 3.972 ha (2,1%), các loại đất khác chiếm 3,03%, còn lại là đất đồi núi dốc 179.825 ha (94,87%) gồm các loại sau:
2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Quế Phong
2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất của huyện Quế Phong
Bảng 1 cho thấy thế mạnh của huyện Quế Phong là trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả Thế nhưng việc sử dụng các loại đất như hiện nay là chưa hợp lý, thể hiện trong cơ cấu sử dụng đất như sau:
- Đất Nông - Lâm - Ngư nghiệp: 163.148,35 ha, trong đó:
Nhận bài ngày 14/9/2006 Sửa chữa xong 17/4/2007
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 4.461,96 ha, chia thành các loại:
Đất trồng cây hàng năm: 4.048,96 ha, chiếm diện tích lớn nhất là đất lúa (2.750,6 ha), đất trồng cây hàng năm khác là 1.276.14 ha, còn lại là đất
đồng cỏ chăn nuôi
Đất trồng cây lâu năm: 413 ha
Bảng 1 Các loại đất dốc ở huyện Quế Phong
(ha) Khả năng sử dụng
Trồng rừng với các loại cây: gụ, trắc, lim và cây công nghiệp: cà phê, cao su, chè
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển
trên đá Granit (+) 9.087 Trồng rừng (cây thân gỗ lá rộng)
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển
trên đá biến chất ở độ cao dưới
700m (*)
2.630 Trồng hoa màu: sắn, đậu xanh,
dưa
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển
trên đá sa thạch ở độ cao dưới
700m (**)
3.180 Trồng cây lâm nghiệp (sến) và cây
ăn quả: vải, nhãn
Đất Feralit biến đổi do trồng lúa 317 Chủ yếu ở dạng bậc thang phù
hợp với cây lương thực, hoa màu
Đất (*) và (**) ở độ cao 700 đến
1700m, độ dốc < 250 3.596 Rừng gỗ (kiền kiền, trắc, lim), tre
lồ ô
Đất (*) và Đất Feralit vàng đỏ
phát triển trên đá Andêzit ở độ
cao 700 đến 1700m, độ dốc < 250
85.010
Trồng rừng; trồng cây lâm nghiệp,
đặc biệt là Quế, Sở (Quế được
đánh giá là sinh trưởng tốt và chất lượng tinh dầu cao nhất khi trồng trên loại đất này)
Đất Feralit mùn trên núi ở độ
Phát triển rừng : lim, sến, pơmu, dổi…
+ Đất sản xuất lâm nghiệp: 158.505,96 ha, trong đó:
Rừng sản xuất: 36.752,72 ha Rừng phòng hộ: 54.018,67 ha Rừng đặc dụng: 67.734,56 ha + Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 180,43 ha, tập trung ở một số xã: Xã Tiền Phong (36,76 ha), Tri lễ (20,84 ha), Mường Noọc và Quế Sơn (23,86 ha)
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
- Đất chưa sử dụng: 21.874,21 ha, trong đó:
+ Đất bằng chưa sử dụng: 687,64 ha + Đất đồi núi chưa sử dụng: 20.545,92 ha + Đất núi đá chưa có rừng: 640,65 ha
Trong cơ cấu đất nông nghiệp ở Quế Phong, tuy diện tích đất dốc lớn nhưng hiện tại chủ yếu đang sử dụng trồng cây ngắn ngày, còn diện tích đất trồng cây lâu năm không đáng kể Diện tích mặt nước chưa khai thác hết tiềm năng, sản lượng cá nuôi thấp không đáp ứng được nhu cầu trên địa bàn
2.2.2 Các hình thức sử dụng đất ở huyện Quế Phong
Tại Quế Phong, trong nông nghiệp đang tồn tại các hình thức canh tác sau:
- Canh tác trên nương rẫy du canh:
Canh tác nương rẫy du canh tồn tại từ lâu đời ở Quế Phong, nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cho bộ phận dân tộc ít người khi mật độ dân số còn thấp Thời gian canh tác tuỳ thuộc vào tập quán của từng dân tộc, từng vùng và từng thời kỳ
Người H,Mông và Khơ Mú ở Quế Phong trước đây canh tác theo hình thức du canh tiến triển, canh tác 7 – 10 vụ rồi bỏ hẳn nương cũ, ít khi quay lại Hiện nay, họ
du canh theo hình thức luân chuyển, sau một thời gian canh tác, họ bỏ hoá (hưu canh) rồi lại quay về nương cũ Thời gian canh tác và thời gian bỏ hoá cứ rút ngắn dần
Người Thái ở Quế Phong cũng như những nơi khác, xưa nay có tập quán du canh luân chuyển Người Thái còn áp dụng hình thức du canh bổ trợ, chủ yếu phát rẫy xung quanh ruộng lúa nước, vừa tận dụng đất dốc cạnh ruộng lúa vừa tạo nguồn tro cung cấp cho ruộng lúa nhờ mưa
Hiện nay, hàng năm diện tích đất nương rẫy du canh của Quế Phong còn khoảng 1241 ha, chiếm trên 30% đất canh tác của huyện
Trước đây dân số còn ít, nhu cầu lương thực thực phẩm chưa gay gắt nên thời gian bỏ hoá đủ dài để đất rừng phục hồi độ phì tự nhiên Hiện nay, mật độ dân số tăng, nhu cầu lương thực thực phẩm trở nên gay gắt, thời gian hưu canh rút ngắn,
đất không kịp phục hồi độ phì tự nhiên nên ngày càng suy thoái, bạc màu
- Canh tác trên nương rẫy định canh:
Với đồng bào dân tộc ít người vùng cao, nương rẫy định canh phát triển từ khi Quế Phong thực hiện chính sách định cư Các dạng địa hình đều có hình thức canh tác này Trên các đỉnh núi cao là của người H,Mông, tại các sườn núi là của người Khơ Mú, sườn núi thấp và chân núi là của người Thái Các kiểu canh tác trên
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
đất dốc đều không có biện pháp bảo vệ đất, không bón phân Do đó, đất dốc ở Quế Phong đang bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng
- Canh tác lúa nước:
Diện tích đất bằng của Quế Phong có khả năng canh tác lúa nước rất hạn chế, phần lớn là ruộng bậc thang tập trung ở các xã vùng trung tâm huyện như Châu Kim, Tiền Phong, Mường Noọc, Quế Sơn Tuy chủ động một phần nguồn nước tưới nhưng chưa đảm bảo, ít hoặc không bón phân nên năng suất lúa thấp và đất trồng ngày càng nghèo dinh dưỡng
Ngoài ra, gần đây ở huyện Quế Phong đã bắt đầu xuất hiện hình thức sản xuất vườn rừng và trang trại gia đình nhưng thiếu định hướng nên hiệu quả chưa cao ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái của vùng
III Một số gải pháp canh tác bền vững trên đất dốc ở huyện Quế Phong
Trên cơ sở quỹ đất (chủ yếu là đất dốc), thực trạng sử dụng đất trên địa bàn, các yếu tố tự nhiên: địa hình, khí hậu, nước và các yếu tố kinh tế xã hội: lao động, trình
độ dân trí, thị trường, điều kiện kinh tế địa phương, trên cơ sở các hình thức sản xuất nông nghiệp đang tồn tại ở huyện Quế Phong, chúng tôi xây dựng các hình thức sản xuất mới:
Cũ Mới
1 Nương rẫy du canh Quy hoạch một phần rẫy du canh
Rừng tái sinh, phục hồi
2 Nương rẫy định canh Trang trại Nông – Lâm kết hợp
Để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, các hình thức sản xuất mới cần có những mô hình sản xuất phù hợp Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đề xuất 2 mô hình canh tác mới từ 2 hình thức canh tác cũ là nương rẫy định canh (2) và ruộng nước (3)
- Mô hình 1: Nông – Lâm kết hợp (Vườn – Rừng)
+Vị trí áp dụng:
Tại những nương rẫy gần khu dân cư ở, nơi có độ dốc lớn và địa hình cao (các xã Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ, Quang phong, Cắm Muộn)
+ Sơ đồ mô hình:
Tiếp tục Chuyển đổi
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
a
b
+Diện tích có thể áp dụng: khoảng 10.000 ha
+ Hoạt động của mô hình:
Cây trồng:
* Tại vườn (A): Đưa vào trồng mới một số cây công nghiệp như: Chè, Dó bầu (xã Tri
Lễ, Thông Thụ), tăng diện tích Sở (ở các xã: Tri Lễ, Quang Phong, Cắm Muộn) và một số loại cây trồng xen kết hợp chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm mà giá trị đã
được khẳng định
Cây chè phát triển và cho năng suất cao khi trồng trên đất Feralit, độ pH là 4 - 4,5,
đất tơi xốp, cao, mực nước ngầm cao 1,2m; nhiệt độ từ 15 – 300C (có thể chịu lạnh tới -100C), độ ẩm > 80% ở độ cao và độ ẩm kông khí lớn, mưa rải đều sẽ kéo dài thời gian hái búp, biên độ nhiệt ngày đêm lớn chè tích luỹ được nhiều dầu thơm Tuy điều kiện tự nhiên ở Quế Phong tương đối phù hợp với đặc điểm sinh lý của chè nhưng hiện tại diện tích trồng chè ở đây ít, chưa có quy hoạch
Dó bầu thích hợp với khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm từ 20 – 250C, lượng mưa trên dưới 1500mm/ năm, độ ẩm không khí 80%; phát triển tốt trên nhiều loại
đất khác nhau, trừ đất hình thành trên đá vôi, đất cát, đất ngập úng Độ dày tầng
đất > 50cm, thoát nước, nhiều mùn Kiểu thảm thực bì thích hợp nhất của dó bầu là
đất rừng sau nương rẫy, rất phù hợp với điều kiện đất rừng ở Quế Phong
Cây trồng xen: các xã vùng cao thích hợp với 2 loại cây đặc sản chất lượng cao hơn hẳn ở miền xuôi là bí xanh và khoai sọ Nhu cầu về các loại sản phẩm này ngày càng lớn, cần mở rộng diện tích Ngoài khu kinh tế mới Minh Châu (xã Tri lễ) có thể phát triển khoai sọ sang xã Quang Phong, Cắm Muộn và Thông Thụ; bí xanh trồng ở
Đồng Văn, Thông Thụ
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
* Tại Rừng tái sinh phục hồi (B): khoanh nuôi bảo vệ diện tích rừng hiện có (pơ mu,
sa mu, dổi, lát) và trồng rừng bổ sung (mỡ, tre, mét ) trên diện tích bị chặt phá để cải tạo đất và nâng cao chất lượng rừng
Vật nuôi: tập trung chăn nuôi: trâu, bò (Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ), dê (Quang Phong, Cắm Muộn); đẩy mạnh nuôi giống Lợn địa phương và vịt bầu ở các xã trên theo hướng xuất khẩu
- Mô hình 2: Nông – lâm – Ngư kết hợp (Rừng - Vườn – Ruộng - Ao)
+ Vị trí áp dụng:
Nơi địa hình đồi thấp, độ dốc nhỏ và gần mặt nước, gần khu dân cư ( các xã Châu Kim, Tiền Phong, Hạnh Dịch, Châu Thôn)
+ Sơ đồ mô hình:
a
b
c
d
+ Hoạt động sản xuất của mô hình:
Trồng trọt:
* Rừng và vườn rừng (D):
Khoanh nuôi rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, trong đó cần trồng dắm thêm các loại cây có tác dụng phòng hộ như:lim, sến, pơmu và phát triển rừng sản xuất, nhất là trồng cây đặc sản: quế, dó bầu
* Vườn nhà (C):
Trồng cây ăn quả (Vải Thiều, Nhãn, Bưởi) xen Sắn và Dứa khi cây ăn quả chưa khép tán để chống xói mòn và tăng thu nhập
* Ruộng (B): Thâm canh lúa, ngô, các loại rau xanh
Chăn nuôi: (A – B):
* Ao (A): Nuôi cá, Vịt, Ngan
* Nuôi gia cầm (vịt bầu, ngan, cá, gà) theo hướng chuyên môn hoá kết hợp chăn thả giống lợn địa phương; nuôi đại gia súc: trâu, bò và dê
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
IV Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy Quế Phong là huyện miền núi có diện tích đất dốc
có khả năng sản xuất nông - lâm nghiệp lớn Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này được khai thác, sử dụng chưa hợp lý dẫn đến đất suy thoái, bạc màu và hiệu quả kinh tế thấp Với mục đích đạt hiệu quả cao về cả kinh tế và môi trường, trong phạm vi bài báo chúng tôi đề xuất thay đổi các hình thức sản xuất đang tồn tại ở huyện Quế Phong bằng các hình thức mới và đưa ra 2 mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhân văn có thể áp dụng tại địa bàn nghiên cứu, trong
đó cần chú trọng đầu tư sản xuất các loại cây, con đặc sản được xem là “tri thức bản
địa” của huyện như: khoai sọ, bí xanh, vịt bầu, quế
Tài liệu tham khảo
[1] Lê Thông (chủ biên), Địa lý kinh tế - hội Việt Nam, NXB Giáo dục, 2001
[2] Nguyễn Ngọc Bình, Đất rừng Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 1996
[3] Phòng NN & PTNT huyện Quế Phong, Đề án phát triển lâm nghiệp “tập trung khoanh nuôi, bảo vệ, cải tạo rừng” giai đoạn 2005 đến 2010
[4] Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Quản lý đất dốc để sử dụng lâu bền cho sản xuất nông nghiệp, Khoa học đất, số 3, năm 1993
[5] UBND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Báo cáo điều chỉnh và bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An thời kỳ 2001 - 2010, 11/2002
Summary
on the use of sloping land
in que phong district, nghe an province Finding a solution to farming on sloping land in the situation of a deteriorated ecology and environmet is really an urgent problem at the present
This article concentrates on analysing the reality of land management in Que Phong, a mountainous district of Nghe An province, where there is a great amount
of sloping land but inhabitants’ cultivation skill and intellectual stardard remain low On that basis, we propose some solutions to sustanable cultivation on sloping land suitable for natual conditions and human culture in the researal areas, of whith the most important thing is the establishment agricuture-forestry production model
(a) Khoa Địa lý, trường Đại Học Vinh