Tuy nhiên, ta có thể tạo nên các phát ngôn mang nghĩa tình thái khác nhau phụ thuộc vào thái độ người nói khác nhau: Nhà đẹp đâu mà đẹp Nhà đâu có đẹp Thế mà bảo là nhà đẹp Nhà đẹp quá l
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
VAI TRò CủA TOáN Tử TìNH THáI TRONG Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan (Qua phân tích truyện ngắn Mất cái ví)
Trần Anh Thư (a)
Tóm tắt Bài viết đi sâu tìm hiểu vai trò quan trọng của toán tử tình thái trong việc thể hiện đặc điểm tính cách nhân vật trong truyện ngắn Mất cái ví của Nguyễn Công Hoan Nghĩa tình thái là một trong hai bộ phận nghĩa trong câu: bộ phận nghĩa thứ nhất là nghĩa từ vựng và bộ phận nghĩa thứ hai là nghĩa tình thái Nghĩa tình thái là nghĩa phản ánh thái độ, cảm xúc của người nói đối với hiện thực Chúng được biểu hiện thông qua các toán tử tình thái
1 Tình thái và toán tử tình thái
Tình thái trong ngôn ngữ là một
phạm trù ngữ nghĩa, tồn tại trong
nhiều ngôn ngữ trên thế giới Trên thực
tế, vấn đề tình thái được các nhà ngôn
ngữ học quan tâm từ sớm nhưng cho
đến nay vẫn chưa có một hướng quan
niệm thống nhất Một số tác giả đi trước
quan tâm đến vấn đề tình thái: V
Vinograđov, J Lyons (1977), B Gak, F
S Palmer (1986), M V Liapon (1990),
F Kiefer (1994)… ở Việt Nam có các
tác giả Cao xuân Hạo, Đỗ Thị Kim Liên,
Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Hoàng Phê,
Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Phạm
Hùng Việt…
Theo đa số ý kiến của các nhà ngôn
ngữ học, thì tình thái được hiểu như
sau:
“Trong phần lớn cuộc giao tiếp, nhân
vật giao tiếp thường sử dụng các phát
ngôn đơn lẻ hay phối hợp chúng thành
chuỗi các phát ngôn có định hướng về
nội dung ngữ nghĩa hướng đến người
nghe Nội dung đó gồm hai phần: a)
Phần thứ nhất mang nghĩa miêu tả,
phần này do các yếu tố từ vựng đưa lại
nên còn gọi là các yếu tố từ vựng (lexis)
hay ngôn liệu (dictum) và b) Phần thứ hai thể hiện thái độ của người nói được
đưa vào trong câu nói, đó chính là nghĩa tình thái (modality) – là cách thức thể hiện mối liên hệ giữa các yếu tố ngôn liệu với hiện thực thông qua thái độ người nói, cho biết hiện thực đó có thật hay không có thật, là tiềm năng hay đã xảy ra, là giả định, ước muốn, đồng tình hay nghi vấn, phủ định bác bỏ…” (xem
4, tr 284)
Ví dụ: ta có tính từ đẹp và danh từ nhà là phần ngôn liệu để tạo nên phát ngôn Nhà đẹp Tuy nhiên, ta có thể tạo nên các phát ngôn mang nghĩa tình thái khác nhau phụ thuộc vào thái độ người nói khác nhau:
Nhà đẹp đâu mà đẹp Nhà đâu có đẹp Thế mà bảo là nhà đẹp Nhà đẹp quá là đẹp Nhà thế mà bảo là đẹp Nhà đấy có gì mà đẹp Như vậy, tình thái là một trong hai
bộ phận (bên cạnh nghĩa miêu tả) của cấu trúc nội dung nghĩa phát ngôn, biểu thị cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với nội dung phát ngôn
Nhận bài ngày 07/5/2007 Sửa chữa xong 12/5/2007
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Trong ngôn ngữ học có những
phương tiện ngôn ngữ dùng để biểu thị
nghĩa tình thái đó, gọi chung là toán tử
tình thái
“Toán tử tình thái là những phương
tiện ngôn ngữ mà khi tác động đến các
đơn vị ngôn ngữ thuộc cùng một cấp độ
nào đó thì cho ta những đơn vị ngôn
ngữ mới (thường là cùng cấp độ)” (5,
tr.139)
Trong các ví dụ nói trên, các phương
tiện ngôn ngữ: đẹp đâu mà đẹp, đâu có,
thế mà bảo là, đẹp quá là đẹp, Nhà thế
mà bảo là đẹp… là các toán tử tình
thái Có thể nói rằng toán tử tình thái
có ở tất cả các cấp độ: ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp (trật tự từ: Nhà thế mà
bảo là đẹp) Và tác dụng của toán tử
tình thái đối với nội dung của một phát
ngôn chứa nó là rất lớn
2 Vai trò của toán tử tình thái
trong việc khắc họa hình tượng
nhân vật
Trong văn học, khái niệm tính hình
tượng được hiểu theo một trong ba cách:
a) Hình tượng được xem như là một ẩn
dụ hoặc từ một hình thức chuyển nghĩa;
b) Hình tượng như là một nhân vật văn
học; c) Hình tượng như là một kiểu đặc
biệt của nhận thức (2, tr.145)
Tuy vậy, cách hiểu thứ hai và ba là
phổ biến hơn cả Để có được hình tượng
điển hình, người sáng tạo không thể
không bắt đầu từ việc “điều khiển” các
tín hiệu ngôn ngữ, sự gọi về của vốn từ
tiềm ẩn của mỗi người Đó là vốn sống,
là kinh nghiệm, là học vấn hoặc sự xuất
thần của cảm xúc đã đưa người viết đến với những từ ngữ đắt giá, hợp nghĩa nhất mà ở ngữ cảnh đó không thể thay thế bằng từ ngữ nào khác Rõ ràng, vai trò của tín hiệu ngôn ngữ trong việc tổ chức, tạo nên hình tượng văn học nghệ thuật là hết sức cần thiết
Trong rất nhiều tín hiệu ngôn ngữ
được sử dụng để xây dựng hình tượng nhân vật văn học (như nghệ thuật dùng
“nhãn tự” để khắc họa ngoại hình, nội tâm nhân vật, dùng các biện pháp tu
từ, các loại kết cấu văn bản…), thì việc
sử dụng toán tử tình thái trong lời văn miêu tả của nhà văn và trong phát ngôn của nhân vật đã mang lại những hiệu quả nghệ thuật mới mẻ
Đối với nội dung phát ngôn, có thể dùng các toán tử tình thái kết hợp nhằm tạo nghĩa tình thái khác nhau, thể hiện các sắc thái tình cảm đa dạng của lời:
(1) ối giời ơi! Sao thân tôi khổ thế này hả giời!
[Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng
trong vườn, T I] -> Biểu thị sự đau khổ, sự than vãn một cách oan uổng
Phát ngôn có toán tử tình thái hàm chứa một nội dung mới hơn và là cơ sở
để tạo hàm ngôn trong phát ngôn: (2) Sinh buồn rầu, nói một cách chán nản:
- Thói đời vẫn thế, trách làm gì [Thạch Lam, Truyện ngắn chọn lọc] Trách làm gì = đừng trách -> Người nói có ý muốn an ủi người nghe
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Toán tử tình thái có khả năng kiệm
lời khi cùng biểu thị một nội dung, mà
nếu thay vào đó một một đơn vị ngôn
ngữ bằng hoặc lớn hơn chưa chắc đã
chính xác, tinh tế bằng chính toán tử
tình thái đó:
(3) Bà Cả thương chồng vất vả, mấy
lần nhắc nhỏm :
- Thì mặc nó có được không? Việc gì
mà thức cho mệt người
[Kim Lân tuyển tập]
Việc gì mà thức cho mệt người sẽ
được giải thích bằng phát ngôn: Theo
tôi, ông không cần phải thức, không cần
thiết Nhưng việc gì ở đây còn biểu thị
thái độ phủ định (có phần gay gắt) của
người nói đối với vấn đề được nói tới
Điều này phát ngôn sau tuy dài dòng
nhưng không làm rõ được
Trong văn học, chúng tôi nhận thấy
rằng toán tử tình thái có khả năng thể
hiện đặc điểm về tính cách, lời nói của
cá nhân một cách rõ nét, qua đó gián
tiếp khắc họa hình tượng nhân vật
Khảo sát truyện ngắn của Nam Cao,
ta có thể bắt gặp một số lời thoại nhân
vật sử dụng toán tử tình thái, mà nếu
nhắc đến nhân vật đó thì lập tức liên
tưởng ngay đến câu nói cửa miệng của
nhân vật đó với cách sử dụng toán tử
tình thái rất sinh động Nói đến bà phó
Thụ trong Một bữa no, ta nghĩ đến
những câu nói phũ mồm của bà khi đối
đáp với cái Tí: úi dào ôi! Vẽ cái con
chuột chết, cứ nồng nỗng, trông như con
giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch,
trơn lông đỏ da…” (tr.308)
Một trong những yếu tố làm nên thành công của Nam Cao khi khắc họa nhân vật điển hình gian hùng Bá Kiến (bên cạnh những câu văn miêu tả giọng quát “rất sang”, “cái cười Táo Tháo”) là nhà văn đã tạo nên những câu thoại ngọt nhạt, mang tính chất rất “cáo già”, lọc lõi của lão để đối thoại với Chí khi Chí trở về làng với bộ mặt “gớm chết” và
dở trò rạch mặt ăn vạ Trong các câu thoại lão nói với Chí, lão đã sử dụng nhiều toán tử tình thái thể hiện thái độ
tỏ ra quan tâm một cách “thân mật, trìu mến”, đồng thời là thái độ nhượng bộ và muốn hòa giải:
(4) - Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
- Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không?
- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước
- Nào đứng lên đi Cứ vào đây uống nước đã
- Khổ quá, giá tôi ở nhà thì đâu đến nỗi Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong… Chỉ tại thằng lí Cường nóng tính, không nghĩ trước nghĩ sau
Ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy
Và tiểu xảo lọc lõi của lão cường hào
đã đánh lừa được Chí Những câu nói ngọt nhạt, thân mật của lão Bá Kiến đã làm Chí Phèo “mềm nhũn”, hắn hể hả,
đắc thắng, rồi trở thành tay sai của lão cáo già kể từ phút này
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
3 Vai trò của toán tử tình thái
đối với việc khắc họa hình tượng
nhân vật trong truyện ngắn Mất
cái ví của nhà văn Nguyễn Công
Hoan
Truyện ngắn Mất cái ví của nhà văn
Nguyễn Công Hoan thực ra là một “vở
kịch” với nhiều câu thoại giữa các nhân
vật (những câu thoại vừa có tác dụng cá
tính hóa nhân vật, vừa có công năng
làm bùng nổ tình tiết, thúc đẩy vụ việc
diễn biến) Hai hình tượng nhân vật
trung tâm của vở kịch này là ông Tham
(kiêm đạo diễn, là người làm chủ sự
việc) và ông cậu ruột ông Tham, một
người chất phác và khái tính, nạn nhân
của trò chơi tâm lý mà ông Tham bày ra
với những câu nói chứa đầy các toán tử
tình thái mang ý nghĩa ẩn ý, vừa “chó
đểu” (lời của ông cậu), vừa tạo nên
những bất ngờ trong các điểm thắt mở
nút câu chuyện
a) Toán tử tình thái trong lời thoại
của nhân vật ông Tham
“Một trong những thủ thuật hóm
hỉnh nhất của nhà văn là dùng những
chi tiết đánh lạc hướng độc giả khỏi cái
đích thực sự của câu chuyện Người đọc
càng bị lạc đi xa bao nhiêu thì khi kết
thúc, càng bị bất ngờ bấy nhiêu Đây là
chỗ mà nhà văn trào phúng có thể nghĩ
ra đủ thứ “cạm bẫy” thú vị” (Nguyễn
Đăng Mạnh, Nhà văn, tư tưởng và
phong cách, tr.129) “Cạm bẫy” mà nhà
văn Nguyễn Công Hoan bày ra trong
truyện ngắn Mất cái ví là những câu
nói của ông Tham, những câu nói sử
dụng một loạt toán tử tình thái khéo léo bọc cho ông một bộ mặt tử tế và “ngoại phạm” đối với sự việc cho tới phút cuối
Mở màn tấn kịch, ông dùng những câu nói mang tình thái nửa dọa nạt bọn
đầy tớ trong cuộc điều tra, nửa bóng gió
ám chỉ tên thủ phạm lấy cắp ví:
(5) - Rồi tao sẽ không để yên cho chúng bay
-> Thái độ dọa nạt và căng thẳng, quyết làm đến cùng sự việc của ông Tham
(6) - Chúng bay làm gì mà to mồm thế, nói khẽ cho cụ ngủ
- ấy, mợ khẽ để ông ngủ, đêm qua
ông lủng củng mãi, giờ mới chợp mắt
đấy
Bằng các toán tử “làm gì mà to mồm thế”, “ấy, mợ khẽ để ông ngủ”, ông Tham đã vừa tỏ thái độ quan tâm đến giấc ngủ và tâm lý của ông cậu, tự tô vẽ
được tấm lòng son trước đám gia nhân (và cả người đọc truyện); mặt khác, mặt nghĩa sâu xa của những toán tử, đó là
ông Tham đã thực hiện được động tác giả, một sự tác động hữu ý khiến ông cậu bán tín bán nghi về tâm địa người cháu
Những phát ngôn ngay sau đó, ông
đã gián tiếp thông báo kết quả nghi vấn bằng những đánh giá, nhận định của mình đối với sự việc:
(7) - Tao thì tao không ngờ cho con
vú em đâu (sau khi đã loại trừ khả năng ăn cắp ví của “thằng xe”, “thằng bếp”)
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
(8) - Tao nhớ rằng khi tao đi nằm,
tao còn mở ví ra để đếm lại giấy bạc, rồi
tao gối ở đầu gường, chỗ này Tao nằm
bên cạnh cụ… Tao chắc là lúc tao đếm
tiền, có đứa nào trông thấy
-> Một loạt các toán tử mang ý
nghĩa khẳng định một cách chắc chắn
sự việc: “tao thì tao không ngờ cho con
vú em”, “tao nhớ rằng”, “tao chắc là”…
Mặc dù đã nói những câu mang thái
độ khẳng định như đinh đóng cột,
nhưng ông Tham vẫn tiếp tục khéo léo
chơi trò chơi tâm lý của mình:
(9) - Chúng bay bảo tao ngờ cho ai?
Cho bà à?
- Lạy ông bà, chúng con đâu dám
nghĩ thế
- Thế thì chúng bay bảo tao ngờ cho
cụ à? à, quân này láo
Thái độ là nghi vấn, nghi vấn một
cách căng thẳng và gay gắt, vì đây là
những “nghi can” cuối cùng của vụ mất
cắp Liên tiếp các toán tử nghi vấn đặt
cạnh nhau, “à”, “thế thì”, “à”… và cả
câu quát cương quyết: “à, quân này láo”
Tưởng như ông Tham quyết làm ra lẽ
một lần, quyết tìm thủ phạm bằng
được
Thế nhưng, tất cả lại chùng xuống
và biến hóa trái ngược kể từ khi ông cụ
tỉnh dậy và hoảng hốt: Cái gì? Cái gì?
Thế nào? Thế nào? Lời của ông Tham
kể từ phút này trở nên dịu xuống với
một loạt toán tử tình thái ạ ở cuối câu
nói, lạy, bẩm, thưa ở đầu câu nói biểu
thị thái độ lịch sự, lễ phép của kẻ dưới
đối với kẻ trên, các thán từ khổ quá, khổ
lắm biểu thị sự khó giãi bày của mình,
và hơn hết là thái độ nhũn nhặn mong muốn dẹp yên sự việc:
(10) - Cái gì? Cái gì? Thế nào? Thế nào?
- Không ạ
- Không Tôi xem trong nhà như mất cái gì kia mà?
- Không ạ Cháu mất đồng xu, nhưng đã tìm thấy rồi ạ
- Không phải To hơn kia
- Thế thì ông chiêm bao đấy ạ
- Rõ ràng là tôi vừa tỉnh dậy, thấy anh Tham gắt gì to lắm kia mà
- Không ạ Đó là cháu mắng chúng
nó từ nay thấy tiền nong, không cứ là của ai, không được tơ hào
(11) - Cháu lạy ông, vợ chồng cháu thất thố điều gì xin ông bỏ quá đi, ông
đừng để bụng Thôi, không nói đến chuyện ấy nữa Hôm nay phiên chợ
Đồng Xuân mời ông lên chơi chợ
(12) - Anh nghi cho ai lấy tiền của anh?
- Kìa! Tiền nong gì, thưa ông?
(13)- Bẩm ông nguyên thế này: Cháu có bốn mươi đồng bạc để vào trong cái ví…
- Bẩm có thế thôi ạ?
- Khổ quá! Cháu không biết nói thế nào bây giờ Tự ông đổ cho ông đấy
- Thưa ông, cháu có lòng nào như thế! Ông tưởng vậy mà oan cháu
- Khổ lắm! Vợ chồng cháu có điều gì không phải, thì ông là người trên, ông
cứ mắng chửi, sao ông lại để tâm làm vậy?
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Tất cả toán tử tình thái trong những
câu nói của ông Tham chính là “cạm
bẫy” mà ông giăng ra với ông cậu tội
nghiệp, và cũng chính là “cạm bẫy” mà
Nguyễn Công Hoan đã gài người đọc
Bởi sự lễ phép, lịch sự, tử tế và có phần
đau khổ của ông Tham khi bị ông cậu
hiểu lầm đã được khắc họa rõ trong
từng câu nói Và sự việc chỉ thật sự vỡ
lở khi vở kịch khép màn, sự vỡ lở cũng
được khắc họa bằng chính tình thái
trong lời nói của nhân vật ông Tham:
(14) Một lát bà Tham ra dáng ân
hận, gắt với chồng:
- Chỉ tại cậu lơ đễnh, đánh mất ví
tiền, nên mới sinh ra lắm cái rắc rối
Ông Tham ung dung, tủm tỉm cười,
đáp:
- Thì đã làm sao?
- Thế sao cậu lại ngờ cho ông làm
vậy?
- Tôi vờ thế, chứ ví đây này, có mất
đếch đâu!
Không cần biết đến cái “ung dung
tủm tỉm cười” của ông ta, chỉ cần nghe
lời nói với toán tử thể hiện thái độ trâng
tráo và thách thức Thì đã làm sao, toán
tử thể hiện thái độ “chó đểu” khi đưa ra
khẳng định cuối cùng: có mất đếch đâu!
(trong mối quan hệ với thái độ nhũn
nhặn, tử tế ở trên) người đọc cũng đã có
thể dễ dàng hình dung về một vị tân trí
mất nhân phẩm, một kẻ có sự khôn
khéo đểu giả, lưu manh:
(15) - Tôi chỉ cốt làm thế để bận sau
ông đừng ra chơi nữa Tốn kém lắm!
-> Toán tử “chỉ cốt” trong lời nói của
ông Tham đã tố cáo chính bộ mặt rất
kịch, rất đểu của ông và những sự tử tế
có tính toán từ trước đó
b) Toán tử tình thái trong lời thoại của nhân vật ông cậu
Trái hẳn với thái độ chủ động và diễn biến tâm lý có thể hiểu được của
ông Tham là sự giằng xé bán tín bán nghi trong nội tâm của nhân vật ông cậu Theo dõi quá trình điều tra vụ án,
ông cậu đã bị cuốn sâu vào trò chơi tâm
lý của thằng cháu lưu manh Chỉ cần
đọc những đoạn độc thoại nghi vấn mang thái độ bán tín bán nghi, với sự phân vân, bứt rứt, khó chịu… và cuối cùng là vỡ òa bằng câu hỏi dồn thảng thốt Cái gì? Cái gì? Thế nào? Thế nào?
và một chuỗi những lời nói, hành động phản ứng dữ dội của nhân vật này, người đọc đã có thể hình dung về một
ông cụ thật thà, chất phác và rất khái tính
Một loạt toán tử tình thái biểu thị ý nghĩa nghi vấn, khẳng định, phủ định
đan xen nhau trong lời thoại của nhân vật ông cậu cho thấy sự giằng xé khó chịu của ông cụ thật thà khí khái khi bị người ta lăng nhục:
(16) -Mình chẳng gì cũng là cậu ruột
nó, em mẹ nó, mà sao nó không biết nể mặt Chẳng biết nó có dám ngờ mình hay không, mà sao nó nói lắm câu nghe trái tai quá
(17)- ừ, hay là nó nghi cho mình thật mà chẳng nói ra… Nhưng chẳng có
lẽ Hay là nó ngờ thằng bếp, thằng xe, sáng sớm dậy, có đứa nào lên nhà trên,
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
rồi thấy cái ví ấy để chỗ nào, mà lấy
chăng?
(18)-“à, nếu nó đổ riệt cho thằng
bếp, thằng xe, sao nó không đánh,
không tra, không trình báo gì cả? Quyết
là nó nói xa xôi cho mình hiểu đây Hay
là nó nghi mình đồng tình với lũ kia, vì
thấy mình lạ nhà không ngủ được, phải
xì xục suốt đêm, hết hút thuốc lại uống
nước, rồi mở cửa ra sau đi tiểu Nếu thế
thì thực nó chó đểu quá!
(19- Nhưng chắc đâu? Lỡ mình
đoán lầm thì oan vợ chồng nó
(20)- Thôi, đích lắm rồi Chỉ là nó
không dám nói đến nơi mà thôi
Có thể thấy, tần số sử dụng toán tử
tình thái trong lời thoại của ông cụ là
dày đặc, tập trung biểu thị sự trăn trở,
phân vân, giằng xé bán tín bán nghi
một cách khó chịu về vấn đề xảy tới và
về những câu nói ẩn ý của ông Tham
Nghi vấn, khẳng định, rồi lại nghi vấn,
phủ định, rồi lại khẳng định…
Cuối cùng, lòng tự trọng của ông lão
khí khái đã được cụ thể hóa bằng hành
động và lời nói Một loạt toán tử tình
thái trong lời thoại thể hiện sự phản
ứng quyết liệt của ông: Thái độ giận dữ
mỉa mai (Xin quan ông quan bà đừng
nói khéo, Thôi kẻ cắp chả dám ở chung
với người!), Thái độ kiên quyết phủ
định (Đồ đểu! Tao thề rằng từ nay tao
không họ hàng gì với vợ chồng nhà mày
nữa!)
Đọc Mất cái ví, rõ ràng người đọc không nhất thiết phải chú ý đến từng lời dẫn, lời kể của nhà văn để theo dõi diễn biến câu chuyện, hoặc để hình dung ấn tượng về nhân vật Bởi vì, lời thoại của hai nhân vật đã nói lên hầu như đặc điểm tình cách của mỗi người, cũng như các cao trào thắt mở nút của
vở bi hài kịch này Tình thái trong diễn biến lời của ông Tham cho thấy sự thâm thúy lưu manh của con người này, còn tình thái trong diễn biến lời của ông cậu cho thấy sự thực thà, khí khái, không chịu được sự lăng nhục của ông lão
4 Kết luận
Có thể nói tín hiệu ngôn ngữ - toán
tử tình thái - có vai trò quan trọng trong việc thể hiện đặc điểm về tính cách, lời nói của nhân vật một cách rõ nét Bên cạnh các biện pháp, các thủ pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật điển hình, ta còn bắt gặp nhân vật sử dụng tóan tử tình thái trong lời nhằm bộc lộ cảm xúc chủ quan của mình trong một hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể Chúng làm nên một bộ phận mang nghĩa, đó là nghĩa tình thái, khác với nghĩa miêu tả, nghĩa này góp phần làm nên các sắc thái riêng của mỗi nhân vật, qua đó góp phần khắc họa hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học
Trang 8§¹i häc Vinh T¹p chÝ khoa häc, tËp XXXVI, sè 2b-2007
Tµi liÖu tham kh¶o [1] TuyÓn tËp NguyÔn C«ng Hoan, tËp I, NXB V¨n häc, Hµ Néi, 1983
[2] §inh Träng L¹c, 99 ph−¬ng tiÖn vµ biÖn ph¸p tu tõ trong tiÕng ViÖt, NXB Gi¸o dôc, 1999
[3] §ç ThÞ Kim Liªn, T×nh th¸i lêi héi tho¹i, Kû yÕu Ng÷ häc trÎ, Hµ Néi, 2001 [4] §ç ThÞ Kim Liªn, Gi¸o tr×nh Ng÷ dông häc, NXB §¹i häc Quèc gia Hµ Néi, 2005 [5] Hoµng Phª, To¸n tö logic t×nh th¸i, T¹p chÝ Ng«n ng÷, 1984, sè 4
Summary
Role of modality operators in literary
works by Nguyen Cong Hoan
In this article we carry out a thorough study on the importance role of modality operator in the manifestation of character’s personality features in the short story
“MÊt c¸i vÝ” (losing a wallet) by Nguyen Cong Hoan Modality meaning is one of two meaning elements in sentances: the first one is lexical and the second is modality This meaning expresses the attitude, emotion of speaker to reality They are expressed by modality operators