Thông qua việc khảo sát cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn tập truyện “Đêm tái sinh” chúng tôi nhận thấy cấu trúc câu hội thoại trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai có vai trò biểu đạt ngữ nghĩa,
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn
trong tập truyện ngắn “Đêm tái sinh”
của tác giả Trần Thuỳ Mai
Nguyễn Thị Hải Yến (a)
Tóm tắt Cấu trúc câu ở dạng mô hình không có mối liên hệ nào với ngữ nghĩa, nhưng khi tham gia hành chức, cấu trúc câu văn sẽ có tư cách là một tín hiệu nghệ thuật, bởi nó biểu đạt ngữ nghĩa mang tính mã hoá của ngôn ngữ nghệ thuật Thông qua việc khảo sát cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn tập truyện “Đêm tái sinh” chúng tôi nhận thấy cấu trúc câu hội thoại trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai có vai trò biểu đạt ngữ nghĩa, thể hiện tính hình tượng nhân vật, tính thẩm mĩ, tính sáng tạo mang phong cách tác giả
1 Đặt vấn đề
Cấu trúc câu văn và việc biểu đạt
ngữ nghĩa luôn có quan hệ biện chứng
Tuy không qui định được sự tương ứng
một cách cố định bất biến, tất yếu giữa
câu trúc câu và nội dung ngữ nghĩa của
nó, nhưng xuất phát từ đặc điểm của
mỗi loaị cấu trúc và từ thực tiễn hoạt
động có thể thể suy ra những nội dung
ngữ nghĩa mà cấu trúc nào đó có thể
biểu đạt hiệu quả nhất Bài viết của
chúng tôi đi sâu phân tích mối quan hệ
giữa cấu trúc và ý nghĩa do đơn vị câu
biểu đạt trong truyện ngắn Trần Thuỳ
Mai, để từ đó chúng ta thấy được phần
nào phong cách ngôn ngữ riêng của nữ
tác giả này
2 Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ
nghĩa câu trong truyện ngắn “Đêm
tái sinh” của Trần Thuỳ Mai (xét
trên câu hội thoại)
Giữa cấu trúc và ý nghĩa có mối
quan hệ chi phối lẫn nhau, được thể
hiện ở câu tường thuật (hay còn gọi là
câu kể) của nhà văn và câu hội thoại
thể hiện lời của nhân vật khi tham gia
hội thoại Qua ngôn ngữ hội thoại của từng nhân vật, ta nhận ra tính cách, cá tính, trình độ văn hoá, các mối quan hệ xã hội của nhân vật, cũng như cả dụng ý nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua nhân vật ở bài báo này, chúng tôi
đề cập đến kiểu câu hội thoại, để nói
đến sự chi phối giữa cấu trúc câu và ý nghĩa
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát câu hội thoại của nhân vật qua 6 truyện ngắn trong tập Đêm tái sinh và so sánh với một một số truyện ngắn của hai tác giả cùng thời Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thị Thu Huệ (số trang viết tương đương), kết quả khảo sát như Bảng 1
Qua bảng thống kê, ta thấy câu
đơn bình thường chỉ có một kết cấu Chủ – Vị làm nòng cốt câu xuất hiện nhiều nhất (từ 37,7% trở lên) và có tỉ lệ đồng
đều giữa 3 tác giả Sự khác biệt về các kiểu câu thể hiện chủ yếu ở câu đơn
đặc biệt, câu đơn mở rộng thành phần và câu ghép Vì vậy chúng tôi dừng lại phân tích ở ba nhóm này Nhận bài ngày 04/12/2006 Sửa chữa xong 20/12/2006
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Bảng 1 Thống kê cấu trúc câu hội thoại ở một số truyện ngắn của các tác giả
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ và Trần Thuỳ Mai
Câu đơn Bình thường T
T
Cấu trúc câu
Tác giả, tác phẩm
Đặc biệt 1 Kết cấu chủ - vị Mở rộng thành
phần
Câu ghép
Tổng
số câu hội thoại Trần Thuỳ Mai
1 Đêm tái sinh 33,3% 40 45% 54 7,5% 9 14,1% 17 120
2 Thể Cúc 17,7% 27 47% 72 9,8% 15 25,4% 39 153
3 Gió thiên đường 29,9% 48 45,3% 79 8,8% 14 11,9% 19 160
4 Lên phố 35,7% 47 42,4% 56 3,0% 4 18,9% 25 132
5 Huyền thoại về chim phượng 29,2% 48 59,8% 98 4,3% 7 6,7% 11 164
6 Thập tự hoa 12,6% 10 54,4% 43 10,1% 8 22,8% 18 79 Nguyễn Huy Thiệp
1 Tướng về hưu 34% 87 55% 141 0,8% 2 10,2% 26 256
2 Không có vua 35% 135 54,4% 210 2% 8 8,5% 33 386
Nguyễn Thị Thu Huệ
1 Một nửa cuộc đời 38,3% 73 51,8% 99 2,6% 5 7,3% 14 191
Qua bảng thống kê, ta thấy câu
đơn bình thường chỉ có một kết cấu Chủ
- Vị làm nòng cốt câu xuất hiện nhiều
nhất (từ 37,7% trở lên) và có tỉ lệ đồng
đều giữa 3 tác giả Sự khác biệt về các
kiểu câu thể hiện chủ yếu ở câu đơn
đặc biệt, câu đơn mở rộng thành phần và câu ghép Vì vậy chúng tôi dừng lại phân tích ở ba nhóm này
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
2.1 Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ
nghĩa trong câu tĩnh lược
Trong câu đơn đặc biệt, có thể có ba
tiểu nhóm: câu đơn đặc biệt tự thân,
câu tách biệt và câu tĩnh lược Câu tách
biệt, như: ở Hua Tát, mọi người đều có
một gia đình nề nếp của mình Thật
chưa bao giờ có một gia đính nào quái
gỡ như thế này Vợ không chồng Con
không bố Chín đứa con Chín đứa
mà chẳng đứa nào giống đứa nào
(Nguyễn Huy Thiệp, Như những ngọn gió Hua Tát, tr.489) có liên quan đến cấp độ văn bản, gắn với ý đồ nghệ thuật riêng của tác giả, nên trong phần câu hội thoại này, chúng tôi không đi sâu phân tích Câu đặc biệt tự thân luôn tồn tại nhờ ngữ cảnh nên chúng tôi cũng không đề cập đến trong bài viết này Chúng tôi chỉ dừng lại phân tích ở kiểu câu tĩnh lược
Bảng 2 Phân loại câu đặc biệt ở một số truyện ngắn của các tác giả
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ và Trần Thuỳ Mai
TT
Kiểu câu
Tác giả, tác phẩm
Tổng số câu hội thoại
Câu đơn
đặc biệt
tự thân
Câu đơn
đặc biệt tách biệt
Câu đơn
đặc biệt tĩnh lược Trần Thuỳ Mai
5 Huyền thoại về chim phượng 164 8,5% 14 0,6% 1 20,1% 33
Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Câu tĩnh lược là một tiểu loại trong
loại câu đặc biệt Chúng tôi khảo sát số
lượng cả ba tiểu nhóm câu đơn đặc biệt:
câu đơn đặc biệt tự thân, câu đơn đặc
biệt tách biệt, câu đơn đặc biệt câu tĩnh
lược (Xem Phan Mậu Cảnh, TLTK 2)
Giữa 3 kiểu câu này tần số xuất hiện
khác nhau trong các truyện ngắn, kết
quả phân loại như Bảng 2
Trong lời nói, câu tĩnh lược có vai
trò quan trọng trong việc liên kết lời
thoại nhân vật và biểu đạt nghĩa tình
thái (nghĩa liên nhân) Thông qua câu
tĩnh lược có thể biết được vị thế của vai
giao tiếp, tình cảm, thái độ của người
nói Trong văn bản nghệ thuật, câu tĩnh
lược còn góp phần tạo nên tính hàm ý,
đa nghĩa trong lời nói nhân vật Qua tư
liệu khảo sát, chúng tôi nhận thấy câu
tĩnh lược trong lời hội thoại trong
truyện ngắn Trần Thuỳ Mai có tần số
sử dụng không cao (tỉ lệ trung bình
trong các truyện đã khảo sát của tác giả
Trần Thuỳ Mai là: 21,9%, ít hơn so với
hai tác giả Nguyễn Huy Thiệp (44,8%)
và Nguyễn Thị Thu Huệ (35,7%), sự
khác biệt không đậm nét ở số lượng mà
đặc biệt bộc lộ ở khía cạnh ngữ nghĩa
Câu tĩnh lược trong truyện ngắn Trần
Thuỳ Mai thể hiện những nội dung ngữ
nghĩa sau:
a Biểu hiện cao trào xúc cảm của
nhân vật
Trong các câu mà tác giả Trần
Thùy Mai sử dụng, chúng tôi nhận thấy
kiểu câu tĩnh lược thường xuất hiện
trong những đoạn thoại nhân vật có
những xáo trộn, dằn vặt về tâm trạng
ái Duy trong Nàng công chúa lạc loài
mồ côi mẹ từ nhỏ và “em rất yêu ba, gần
như tôn thờ” nhưng khi đối mặt với một
sự thật phũ phàng rằng ba cô có quan
hệ bất chính với một phụ nữ cùng cơ
quan và còn trù dập người ta thì lời cô
bé như nghẹn lại:
(1) - Tại sao? Cô xé của ba tôi Nhưng lúc nào?
- Lúc ông ấy nằm trên bụng tôi” [5, tr 336]
Bàng hoàng, đau đớn, những con người trong gia đình Khôi trong truyện Chuyện cũ quê nhà lại sử dụng lời thoại rời rạc đứt đoạn:
(2) - Một lát sau, bà tôi hỏi, run run:
- Mấy tháng rồi?
Mẹ tôi vẫn cúi gục đầu
- Ba
- Ai?
- Con không biết Chỉ có một lần ” [5, tr 307]
b Biểu đạt ý nghĩa hàm ngôn trong lời
Đặc điểm của câu tỉnh lược là nghĩa được xác định chính xác không hiểu lầm, khi đặt trong ngữ cảnh, nó có lợi thế trong việc tạo những phát ngôn hàm ẩn, đa nghĩa Câu tỉnh lược ngắn nhưng có sức hàm chứa rất lớn, chính cấu trúc khuyết chủ ngữ hoặc vị ngữ có khi cả chủ - vị trong câu đã tạo nên ý tại ngôn ngoại, tính đa nghĩa của câu
được nhân lên
Câu tĩnh lược trong lời thoại truyện ngắn Khói trên sông Hương rất ít,
như-ng khi được sử dụnhư-ng, nó tạo cho truyện
ý nghĩa đặc biệt Tình yêu của Trang và Tung đẹp như những sợi tơ trời và cũng
“hư không” như những sợi tơ trời Cốt cách của con người Huế in dấu ấn trong tình yêu, lặng lẽ, đằm thắm và sâu sắc Cảm tưởng chung của người đọc là câu truyện tạo nên một thế giới trong tâm tưởng, một thế giới đẹp lãng mạn mà con người luôn hướng đến, luôn ngưỡng
mộ Nhân vật thường sử dụng những
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
câu nói ý nhị, để nói lên lời của trái tim
đang thổn thức vì tình yêu, gửi gắm
những điều khó diễn đạt, vì vậy chúng
tạo nên nét riêng của truyện:
(3) - Thì bây giờ cũng không hề
khác Em biết, chính vì em mà anh trở
về
- Muộn quá rồi!
- ít ra cũng phải gặp nhau để nói
rằng đã muộn [5, tr.505]
(4) - Khách hàng là thượng đế, anh
đã đóng vai trò thượng đế, cho nên mới
giữ được em ở đây, giờ này, trên sông
này
- Và chỉ có thế thôi - Trang lạnh
lẽo đáp [5, tr.509]
Trong Gió thiên đường Mi trả lời
Hiếu khi cô biết anh ta không chung
thuỷ trong tình yêu, một cách nói ý nhị,
sâu sắc: “Mi đi đâu vậy?” “Đi để nhìn
Để thấy con người không đơn giản”
Câu chứa nghĩa hàm ngôn xuất
hiện trong những đoạn thoại người nói
muốn diễn đạt những nội dung ý nhị có
khi để né tránh, cũng có khi gửi gắm
được những ý nghĩa sâu xa trong đó
Trong truyện Trần Thuỳ Mai có một bộ
phận câu tĩnh lược đã đảm đương việc
chuyển tải ý hàm ngôn của lời nói, nó
thực sự có ý nghĩa tô đậm thêm màu
sắc phong cách ngôn ngữ tác giả
c Thể hiện quan hệ gần gũi, thân
mật giữa những người tham gia giao
tiếp
Kết cấu câu tĩnh lược có khả năng
biểu hiện quan hệ liên nhân trong giao
tiếp, và nó tỏ ra có ưu thế trong việc thể
hiện quan hệ khoảng cách Theo tác giả
Đỗ Thị Kim Liên, quan hệ liên nhân là
“quan hệ thể hiện sự gần gũi hay xa lạ
giữa các nhân vật giao tiếp xét theo
quan hệ thân tộc, quan hệ tình cảm,
quan hệ công tác, sự hiểu biết lẫn nhau”
[5, tr 44] Trong giao tiếp câu tĩnh lược
được dùng nhiều trong trường hợp biểu hiện thái độ không bằng lòng hoặc không thân thiện, thái độ miễn cưỡng hoặc trốn tránh, bất hợp tác Trong truyện ngắn “Bảy ngày trong đời” của tác giả Nguyễn Thị Huệ, câu tĩnh lược
được sử dụng để biểu lộ thái độ nghi ngờ, coi thường của vị bác sĩ khoa sản
đối với nhân vật My và ngược lại nhân vật My thể hiện tâm trạng bực dọc, xấu tính, hỗn xược
(5) - Người nhà của cô đâu?
- Anh ấy đi công tác
- Có ai ở đây không? – Giọng bà hơi gắt ánh mắt bà nhìn My như nhìn con mèo hoang
- Không kịp báo cho ai biết
- Nếu phải mổ đẻ thì ai là người
kí biên bản? [6, tr 322]
Trong truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai có hiện tượng đặc biệt là câu tĩnh lược không nhằm hướng đến biểu đạt quan hệ xa cách giữa các nhân vật Ngược lại trong các đoạn thoại, câu tĩnh lược được sử dung thể hiện không khí thân mật gắn kết của con người trong quan hệ tình bạn, tình yêu, tình người Lời thoại giữa Chị Trúc và Hiệp, nghe có vẻ gắt gỏng nhưng trong đó tràn ngập tình thương:
(6) - Trời đất, có sao không, Hiệp
ơi!
- Thôi mặc xác tôi [5, tr 8] Nhân vật trẻ tuổi Tý và Dũng trong Lên phố dùng câu tĩnh lược trong hội thoại với ý nghĩa thể hiện sự thân mật, gần gũi, sự thông cảm và thấu hiểu nhau:
(7) - Chị Sanh cười: “Có anh sinh viên mô cùng lớp làm mai cho hắn một anh” T í háy chị Sanh một cái “Mình quê, ai thèm” Dũng đăm đăm nhìn Tí, bảo: “Sao lúc nào em cũng sợ mình quê
Bộ quê là xấu sao?” “Không xấu nhưng
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
mà thua thiệt” Dũng nắm tay Tí bảo:
“Người ta hơn nhau là tấm lòng, còn tất
cả là khoai hết” [5, tr 28]
Câu tĩnh lược còn xuất hiện nhiều
trong ngôn ngữ của giới trẻ, mà giữa họ
có quan hệ bạn bè hoặc quan hệ yêu
đương:
(8) - “Ngồi đồng trước quán thế này,
không sợ người ta dòm ngó à?” “Việc gì
đến ai đâu mà sợ Chỉ sợ Mi không dám
đi vào quán một mình” [5, tr 60]
Ngoài ra, câu tĩnh lược còn xuất
hiện trong những lời thoại nhằm thể
hiện sự bình đẳng về vị thế của các
nhân vật giao tiếp Đây là sự gần gũi
thân mật của hai chị em gái:
(9) - Chị reo lên tố cáo khi ngửi
thấy mùi phấn trên má tôi: “Đừng kể với
ai nhé Em lấy phấn trong hộp trang
điểm của mẹ” [5, tr 446]
ở Đêm tái sinh sự xuất hiện câu
tĩnh lược làm cho ngôn ngữ hội thoại tự
nhiên, gần với ngôn ngữ cuộc sống hơn
và đặc biệt nó thể hiện được đặc điểm
về tâm lí lứa tuổi của nhân vật So sánh
với ngữ cảnh có câu tĩnh lược trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta
thấy có sự khác biệt ở chỗ, câu tĩnh lược
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
được dùng phổ biến ở hầu hết ở các
nhân vật, không phân biệt về tuổi tác
và vị thế Ví dụ như lời thoại giữa người
cha và người con:
(10) - Lão Kiền bảo: “Làm người
nhục lắm” Đoài hỏi: “Thế sao không lấy
vợ lẽ?” [5, tr.100]
- Lão Kiền bảo: “Tìm thấy
nhẫn rồi” Cấn hỏi: “ở đâu?” Lão Kiền
bảo “Vợ mày dấu trong cạp quần chứ
đâu” [5, tr.101]
d Liên kết các đoạn thoại, chú
trọng biểu đạt thông tin chính
Một trong những vai trò của câu
tĩnh lược là liên kết các đoạn thoại Câu
tĩnh lược xuất hiện khi đã có câu trước hoặc sau đầy đủ thành phần, nó tồn tại dựa vào câu trước hoặc sau nó, sự xuất hiện của nó có tác dụng vừa dính kết các câu hội thoại với nhau vừa hướng người nghe vào thông tin chính
(11) - Mạ ơi, hôm qua bà nội Rô đa tới đây phải không ?
- ừ
- Nói chi, mạ?
- Cũng như mấy lần trước” [5,
tr 512]
Bên cạnh việc sử dụng câu trúc câu tĩnh lược với ngữ nghĩa thể hiện quan niệm của cá nhân nhà văn thì việc đặt câu tĩnh lược xen lẫn trong các câu đầy
đủ thành phần, dựa vào các câu đầy đủ thành phần, phản ánh sự trọn vẹn về mặt ngữ nghĩa làm cho đoạn thoại súc tích hơn, liên kết lời thoại, biểu đạt thông tin chính
Như vậy, việc sử dụng câu đơn tĩnh lược có liên quan mật thiết với nghĩa của câu Sự có mặt của từ, cụm từ trên
bề mặt phát ngôn và sự tĩnh lược những yếu tố khác là hết sức cần thiết, nó có tác dụng nhấn mạnh thông tin chính với người nghe cũng như một số chức năng khác
2.2 Quan hệ giữa cấu trúc và ngữ nghĩa trong câu đơn có thành phần phụ
ở phần này, chúng tôi không bàn
về lý thuyết gắn với các quan niệm về thành phần phụ mà chúng tôi chỉ chọn cách quan niệm về thành phần chính và thành phần phụ của câu để phân loại theo Ngữ pháp tiếng Việt của tác giả Diệp Quang Ban (TLTK 1)
Khảo sát câu văn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi nhận thấy ông thường dùng câu đơn chỉ có một kết cấu C -V
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
không có thành phần phụ, nên độ dài
của phát ngôn thường ngắn gọn:
(12) - Vừa may lúc Khảm về Cấn
bảo: “Thằng bạn mày lấy cắp nhẫn của
chị Sinh” Khảm tái mặt hỏi: “Ai bảo
thế?” Cấn bảo: “Mắt tao trông thấy” [8,
tr 99] Câu đơn không có thành phần
phụ như ở ví dụ trên khi được sử dụng
liên tiếp trong đoạn thoại tạo nên
không khí căng thẳng, thiếu sự giao
thoa tình cảm trong giao tiếp Đây là
dụng ý của người viết
Trái lại, trong truyện ngắn Trần
Thuỳ Mai, câu có thành phần phụ lại
được sử dụng nhiều, như trạng ngữ, liên
ngữ, tình thái ngữ Mỗi thành phần phụ
có vai trò khác nhau trong biểu đạt nội
dung lời nói
2.2.1 Thành phần trạng ngữ làm
rõ thêm, cụ thể hơn nội dung lời nói, thể
hiện thái độ tôn trọng và mong muốn
giãi bày của người trao lời thoại
Lời từ biệt của Tung với Trang trên
dòng Hương Giang nhoà khói, đó là lời
chia tay thẫm đẫm nỗi buồn và thất
vọng, nhưng người nói vẫn muốn giải
bày tình cảm tha thiết của mình:
(13) - Bây giờ cả nhà đang cùng với
Xiu Xiu đứng ở phi trường để tiễn đưa -
Tung vừa nói vừa cười, còn Trang thì
chới với đưa mắt nhìn một cánh diều
nào đó
- Để rồi xem, em còn kiêu ngạo
với anh được bao lâu?- Tung đột ngột
nâng cằm Trang lên, nhìn vào mắt cô - :
Một ngày kia, em sẽ biết rằng anh cũng
kiêu ngạo chẳng thua gì em đâu Hãy
đợi đấy [5, tr 514]
Thắng nói khi lòng trắc ẩn của anh
được đánh thức trước cái ngây thơ trong
trắng của ái Duy Sự trân trọng tình
người, tình đời tận đáy lòng mà trước
đây anh đã đánh mất lại trở về trong lời
thoại của nhân vật:
(14) - Vâng Hôm nay, nếu đồng ý, anh sẽ đưa em đi chơi để nhìn trời đất giáng sinh” [5, tr 340]
Kiều Dung thổn thức trước cuộc gặp gỡ bất ngờ với người cô yêu thương
và chờ đợi, cô bày tỏ lòng mình qua lời nói, bằng trạng ngữ tạo điểm nhấn về ngữ điệu “mười sáu năm nay”:
(15) - Anh biết không, mười sáu năm rồi, em luôn mong gặp lại anh Em muốn hỏi anh một câu thôi!
- Em muốn biết ngày ấy có
đúng là anh đã ghi nguyện vọng khác với nguyện vọng của em không? Mười sáu năm nay em cứ trăn trở hoài vì câu nói ấy [5, tr 45]
2.2.2 Thành phần liên ngữ kết nối các lời thoại tạo nên đoạn thoại liên kết chặt chẽ thể hiện thái độ mong muốn
đạt mục đích giao tiếp các nhân vật Lời thoại nhân vật trong Đêm tái sinh ít có hiện tượng “đứt gãy”, chuệch choạc dù trong trường quan hệ giữa các nhân vật đã có những rạn nứt nhờ sự xuất hiện của thành phần liên ngữ, ví dụ:
(16) - Em muốn ở lại đây vài hôm Nhưng bây giờ, tự nhiên em muốn về
- Sao vậy?- Chàng loay hoay chùm chìa khoá xe, vẻ bối rối
- Bàn thờ tình yêu ở dưới địa ngục, nhưng em biết anh không sẵn sàng xuống địa ngục với em Tôi nghĩ vậy nhưng chỉ nói bình thản:
- Chẳng sao cả Chỉ vì em thấy non nước mùa hè khác hẳn mùa đông [5, tr 132]
Stéphacô rất mến Như Như, anh mượn câu chuyện về Máccô Pôlô để thổ
lộ tình cảm thầm kín của mình Lời thoại của nhân vật có sự gắn kết giữa lời trao và lời đáp có vai trò của thành phần liên ngữ, nó là tín hiệu hồi đáp của người đối thoại
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
(17) - Thế nhưng cuối cùng ông ấy
cũng rời Trung Hoa, trên một con
thuyền
- Như Như, ông ấy thật hạnh
phúc, đã ra đi cùng một nàng công chúa
[5, tr 416]
2.2.3 Thành phần phụ tình thái
ngữ trong câu đơn có vai trò thể hiện
tình cảm, cảm xúc nhân vật
Thành phần phụ tình thái được sử
dụng trong ngôn ngữ hội thoại thể hiện
tình cảm, xúc cảm nhân vật, thường là
quan hệ thân mật và mong muốn xích
lại gần nhau Lời hội thoại thường
hướng tới tính lịch sự, chứa đựng tình
cảm và mong muốn thiết lập quan hệ
gần gũi với người nghe:
(18) - Này Như Như, - Stéphacô bảo
tôi - trước đây tôi cứ tưởng Máccô chỉ
đơn giản đi tìm sự giàu có Còn giờ đây
tôi tin là anh ta đã bị sự huyền ảo của
một thế giới khác thu hút
- Thế nhưng cuối cùng ông ấy
cũng rời Trung Hoa, trên một con
thuyền
- Như Như, ông ấy thật hạnh
phúc, đã ra đi cùng một nàng công chúa
[5, tr 416]
2.3 Câu đơn mở rộng thành phần
Câu đơn mở rộng thành phần là
câu “có thành phần mở rộng là một kết
cấu C-V” [3, tr.119] Tác giả Diệp
Quang Ban gọi tên loại câu này là “Câu
phức”, theo tác giả “ở câu phức, tuy có
hai (hoặc hơn hai) kết cấu chủ vị, nhưng
trong số đó chỉ có một kết cấu chủ – vị
“nằm ngoài cùng” và làm nòng cốt câu,
(các) kết cấu chủ – vị còn lại bị bao bên
trong kết cấu chủ vị làm nòng cốt đó,
chứ không làm nòng cốt câu” [1, tr
161] Câu đơn mở rộng thành phần
đang xét phức tạp hơn câu đơn chỉ có
một nòng cốt chủ vị về cấu trúc và cũng không giống câu ghép ở chỗ “bao nhau
và không bao nhau của các kết cấu chủ vị” [1, tr 161] Câu mở rộng thành phần
bổ ngữ:
(19) - Bạch thầy, thầy có cho con // trồng cây Hoàng Lan không? [5, tr.75] Câu đơn mở rộng thành phần bao giờ cũng có độ dài tương đối lớn và nghĩa của câu được diễn đạt rõ ràng Câu đơn mở rộng thành phần về hình thức là kéo dài thêm lời nói tương ứng với sự trọn vẹn trong ngữ nghĩa Lời nói của nhân vật không chỉ cung cấp thông tin cho qua chuyện mà còn giãi bày tìm tới sự đồng cảm chia sẻ của người đối thoại Vì thế, câu hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai ngoài việc cung cấp thông tin còn mang ý nghĩa tạo lập quan hệ Trong khi đó, 3 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chỉ có 1 truyện xuất hiện loại câu này nhưng chỉ chiếm không quá 2% Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ có sử dụng loại câu này, nhưng số lượng hạn chế, chỉ chiếm 2,6%
Đối với Trần Thuỳ Mai, tác giả sử dụng câu đơn mở rộng thành phần trong câu hội thoại với tỉ lệ cao so với các tác giả khác, có tới 10,1% Câu mở rộng thành phần bao gồm ba loại: câu
mở rộng thành phần phụ bổ ngữ, câu
mở rộng thành phần phụ định ngữ và câu mở rộng thành phần phụ chú thích Trong đó câu mở rộng thành phần phụ
bổ ngữ có tỷ lệ sử dụng cao nhất, chiếm 60,1% trong 10,1%
(20) - Biết đâu cô có thể giúp tôi
được nhiều hơn người ta // tưởng [5, tr.478]
2.4 Câu ghép
Có một xu hướng đổi mới văn xuôi hiện nay là tạo ngôn ngữ xù xì góc cạnh
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
nhằm thể hiện mặt trái của cuộc sống,
một lĩnh vực mà trước đây văn học ngại
nói đến Khi phản ánh những nội dung
này ngôn ngữ hội thoại thường sử dụng
những kiểu câu tĩnh lược hoặc là tìm
mọi cách rút ngắn lời thoại, cắt bỏ
những phần bày tỏ, diễn giải Đó cũng
là một cách tạo hấp dẫn cho văn
chương, độc giả nhận thức cuộc sống
mặt trái sâu sắc hơn, nhưng nó sẽ
không phù hợp trong việc thể hiện nội
dung tình cảm nhẹ nhàng, sâu sắc và
lãng mạn Trong lời hội thoại chúng ta
nhận ra một giọng điệu riêng của Trần
Thuỳ Mai, bao giờ cũng hướng tới sự
giải bày tâm trạng, câu thoại của chị
vượt ra khỏi yêu cầu cung cấp thông tin
mà hướng tới sự cởi mở tấm lòng, vì thế
câu ghép cũng là một trong những yếu
tố tạo nên đặc điểm đó
Câu ghép trong ngôn ngữ hội thoại
trong tập Đêm tái sinh chiếm tỉ lệ
không nhiều so với các kiểu câu khác
nhưng so với hai tác giả mà chúng tôi
đã khảo sát thì nó vẫn chiếm ưu thế ở
bốn truyện của Trần Thuỳ Mai có số
lượng và tỷ lệ câu ghép được sử dụng
như sau: Đêm tái sinh có 17 câu, chiếm
14,1%; Thể cúc có 39 câu, chiếm 25,4%;
Gió thiên đường có 19 câu, chiếm 11,9%;
Lên phố có 25 câu, chiếm 18, 9% Trong
khi đó ở tác giả Nguyễn Huy Thiệp có
số lượng là: Tướng về hưu có 26 câu,
chiếm 10,2%; Không có vua có 33 câu,
chiếm 8,6% và ở Nguyễn Thị Thu Huệ
có số lượng là: Một nửa cuộc đời có 14
câu, chiếm 7,3%; Mại có 7 câu, chiếm
5,5% Con số này cho thấy Trần Thuỳ
Mai sử dụng câu ghép trong hội thoại
nhiều nhất Lý giải điều này có thể có
nhiều lý do, ở đây chúng tôi dừng lại ở
nhân tố cảm xúc, tâm lý nhân vật, nội
dung cần diễn tả đã chi phối đến việc sử dụng câu ghép với sự kéo dài lời thoại nhân vật
Trong một số ngữ cảnh nếu sử dụng câu đơn một kết cấu C-V hay câu tĩnh lược thì không thể chuyển tải được tâm trạng cảm xúc của nhân vật Ngân trong Đêm tái sinh có tình yêu tha thiết với nghệ thuật xiếc, nhưng cuộc sống vốn không đơn giản đã tước đi của cô sự nghiệp, và khát vọng cống hiến Câu hội thoại được kéo dài bằng cấu trúc câu ghép, thể hiện nỗi niềm của người nói: (21) - Tự nhiên sức//xuống hẳn,
em // không thể múa thêm nổi nữa, tim
em // đập ghê quá, cơ bắp // y như nhão ra, em // sợ rơi vòng mất không hiểu vì sao [5, tr 236]
Câu ghép hội thoại có khả năng chuyển tải nhiều nội dung thông tin với nhiều tầng nghĩa, thường xuất hiện ở những nhân vật có nhiều suy tư, đời sống nội tâm được chú ý thể hiện Nhân vật hướng ngoại, tìm đến sự đồng cảm của người cùng tham gia đối thoại: (22) - Bây giờ // thì quá muộn, thói quen // đã gấp thành nếp không thể vuốt thẳng ra được, anh // đã là một con người // định hình với tất cả sự bất lực và tồi tệ của nó, hôn nhân, đó là / một hạnh phúc quá lớn mà anh / không thể cưu mang [5, tr 151]
(23) - Khách hàng là thượng đế, anh đã đóng vai trò thượng đế, cho nên mới giữ được em ở đây, giờ này, trên sông này [5, tr 505]
Ta có thể bắt gặp khá nhiều lời thoại nhân vật bộc lộ tâm trạng, nỗi niềm, cảm xúc cá nhân cũng như muốn chuyển tải lượng tin hàng ngày quá lớn nên hình thức cấu tạo câu phải là câu ghép mới đủ sức chuyển tải
Trang 10Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
3 Kết luận
Thông qua việc sử dụng đa dạng
các kiểu cấu trúc câu, câu văn hội thoại
trong tập truyện Đêm tái sinh không
còn giới hạn ở nghĩa trao đổi thông tin,
mà đã vượt lên biểu lộ nỗi lòng nhân
vật, thể hiện một thế giới nhận vật có
chiều sâu nội tâm, coi trọng những giá
trị tinh thần cũng như các quan hệ liên
nhân
Tìm hiểu cấu trúc câu trong quan
hệ với ngữ nghĩa là một hướng nghiên cứu ngôn ngữ từ bình diện ngữ dụng học cần được quan tâm Cấu trúc câu ở dạng mô hình không có mối liên hệ nào với ngữ nghĩa, nhưng khi tham gia hành chức, cấu trúc câu văn là một tín hiệu nghệ thuật biểu đạt ngữ nghĩa mang tính mã hoá của ngôn ngữ nghệ thuật
Tài liệu tham khảo
[1] Diệp Quang Ban, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Đại học Huế, 2004
[2] Phan Mậu Cảnh, Câu đơn phần trong tiếng Việt, NXB Trường ĐHSP Hà Nội,
2005
[3] Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục,
2005
[4] Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2002
[5] Trần Thuỳ Mai, Đêm tái sinh, NXB Thuận Hoá, 2004
[6] Nhiều tác giả, Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học, 2002
[7] Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, NXBGD, 1997
[8] Nguyễn Huy Thiệp, Như những ngọn gió, NXB Văn học, 1999
[9] Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2001
Summary
relationships between linguistic meanings and sentence structures, through the study of the sentences in the short story series "The reborn night", written by Tran Thuy Mai
An investigation in sentence strutures in relation to linguistic meaning is a study method in the view of pragmatics Sentence structures in the form of models
do not relate to linguistic meanings, but when they are in use, they play the role of art aignal because they express linguistic meanings in the form of the coded art language Through the investigation of sentence structures and linguistic meanings
in the short story series "the reborn night", written by Tran Thuy Mai, we realize that structures of conversational and descriptive narrative sentences in those stories have the role of expressing linguistic meanings and relationships of linguistic meanings and sentence strucures illustrate the typical stereotypes of images, aesthetics and the style of the author
(a)Cao học 12 Ngôn ngữ, Trường Đại học Vinh