1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử (Bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng nho)" pps

11 559 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 149,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng việc chỉ ra chuỗi các phiến đoạn tự sự có tính cách truyện ngắn và bút kí ghi chép được phân bố rải đều trong suốt chiều dài của văn bản trần thuật, chúng tôi đã chỉ rõ một phần tro

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử

(Bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng nho)

Lê Thời Tân (a)

Tóm tắt Bên dưới lớp vỏ chương hồi truyền thống, Nho lâm ngoại sử ẩn tàng một quan niệm mới về thể tài tiểu thuyết Việc đó khiến cho tác phẩm tự

sự trường thiên này có một cấu trúc thể loại rất độc đáo khác hẳn với tất cả các

bộ tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng khác Bằng việc chỉ ra chuỗi các phiến đoạn

tự sự có tính cách truyện ngắn và bút kí ghi chép được phân bố rải đều trong suốt chiều dài của văn bản trần thuật, chúng tôi đã chỉ rõ một phần trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết này Đó là điều chưa từng được giới nghiên cứu chú ý

và luận giải thích đáng

1 Quan niệm thể tài tiểu thuyết

mới của Nho lâm ngoại sử

Sự lặp lại có tính quy luật của một

số nhân tố nhất định ở các tác phẩm

văn học chính là cơ sở hình thành thể

loại Thể loại văn học là hiện tượng loại

hình của quá trình sáng tác - giao tiếp

Thế nhưng thể loại không đơn giản chỉ

là một sự lặp lại loại hình tác phẩm

Thể loại trên thực tế là hình thức tồn

tại độc đáo, hoàn chỉnh của một tác

phẩm Vì vậy muốn nhận thức được thể

loại của một tác phẩm cụ thể, một mặt

phải có các tri thức đặc trưng về sự lặp

lại có tính quy luật của một số nhân tố

nhất định ở các tác phẩm văn học, mặt

khác thấy rõ tính độc đáo của nhà văn

trong việc tuân thủ một cách có sáng

tạo các quy luật thể loại Điều đáng chú

ý là, trong số những thể loại hiện tồn,

tiểu thuyết là dạng phức tạp nhất Tiểu

thuyết có thể hiểu đơn giản là một thể

loại phức tạp nhất lấy văn xuôi (la Pose)

làm hình thức biểu hiện chính Tiểu

thuyết là một thể loại đa nguyên hấp

thu không giới hạn các dị chất, thể hiện một trạng thái văn hoá giao thoa và dân chủ bậc nhất

Nhìn từ góc độ vĩ mô, tiểu thuyết hấp thụ mọi thể loại khác, tiểu thuyết

“mô phỏng” toàn bộ thế giới lời nói Đây chính là quan điểm của M Bakhtin:

“Đúng như Bôcaxiô (Boccacio) và Xecvantec (Cervantes) đã nói, trong tiểu thuyết hoà trộn đan kết mọi hình thức và mọi thể loại văn học”(1) Theo

ông, so với bất kì thể loại nào đã từng xác lập, tiểu thuyết không phải là một thể loại giữa các thể loại, nó chính là một thể loại “tạp thực”, một hỗn hợp các thể loại

Tính khoan dung vô bờ bến của tiểu thuyết làm cho mỗi một cuốn tiểu thuyết bộc lộ ra một vẻ đa dạng và phong phú không thể loại nào sánh nổi

Đúng như tác giả bộ sách Tiểu thuyết:

Kĩ xảo và phương pháp phân tích văn học đã nói - “mỗi bộ tiểu thuyết tự thành thể loại”, “mỗi bộ tiểu thuyết chính là bản thân tác giả của nó, bản

Nhận bài ngày 30/10/2007 Sửa chữa xong 13/12/2007

nghệ xuất bản xã, 2001, tr 294 Bakhtin cũng cho rằng “tiểu thuyết không chỉ là một thể loại

đang trong quá trình biến đổi” (Sách vừa dẫn, tr 295).

Trang 2

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

chất của tiểu thuyết chính là ở chỗ đó”

Theo nghĩa đó mà nói, mỗi một cuốn

tiểu thuyết đều xác lập nên một diện

mạo thể loại cụ thể

Nhận thức trên đây sẽ là cơ sở cho

việc phân tích cấu trúc thể loại tiểu

thuyết Nho lâm ngoại sử mà chúng tôi

sẽ triển khai tiếp theo Đây có thể gọi là

xuất phát từ góc độ phê bình thể loại

(generic critiscism) đi tìm hiểu một tác

phẩm cụ thể Đặc trưng thể loại của

Nho lâm ngoại sử chính là ở chỗ đây là

một cuốn tiểu thuyết kiến tạo tự sự

(Narrative; chúng tôi phân biệt thuật

ngữ này với narration) dựa trên việc kết

hợp một cách khéo léo các hình thức

trung, đoản thiên với tản văn bút kí, kí

sự vào trong một lớp vỏ chương hồi

truyền thống Cách tân trong việc kiến

cấu thể loại cho tiểu thuyết Nho lâm

ngoại sử này là cống hiến quan trọng

của Ngô Kính Tử Các hình thức trung,

đoản thiên ở đây có thể được hiểu như

là hình thức truyện vừa và truyện

ngắn Còn hình thức tản văn thì được

hiểu như là văn xuôi dạng kí hay ghi

chép tự do(2) Nho lâm ngoại sử không

phải là một sự kết hợp đơn giản các thể

loại “nhỏ” hơn tiểu thuyết Nó càng

không phải là chuỗi liên kết các câu

chuyện theo kiểu Tây du kí, Thuỷ hử

Điều này không chỉ liên quan đến quá

trình hình thành bộ sách, căn bản hơn

nó gắn liền với ý thức của chính nhà

văn đối với các thể loại trung - đoản

thiên cũng như tản văn bút kí Trong Nho lâm ngoại sử, chuỗi các đơn nguyên tự sự có dáng dấp như những truyện ngắn, truyện vừa trộn lẫn với văn xuôi kí sự mà chúng tôi phân tách trong nhiều trường hợp có thể tách rời thành những truyện ngắn, truyện vừa

độc lập, Nhưng một khi chúng tham gia vào trong một chỉnh thể trường thiên thì đặc trưng thể loại của chúng đã

được tổng hợp lại nhằm đáp ứng yêu cầu cấu trúc thể loại mới Chính điều này đã tạo nên tính chất độc đáo cho tiểu thuyết của Ngô Kính Tử Trong bài viết này chúng tôi tập trung phân tích

sự vận dụng thể loại đoản thiên và tản văn bút kí vào trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử của tác giả Ngô Kính Tử

2 Vận dụng thể loại truyện ngắn

Như đã chỉ ra, trên đại thể Nho lâm ngoại sử là một chuỗi các đơn nguyên tự

sự có tính cách truyện vừa đóng khung bởi hồi mở đầu có tính cách màn giáo

đầu và hồi kết thúc có tính cách như là một vĩ thanh Tiến thêm một bước khảo sát, không khó phát hiện ra trong một

số đơn nguyên có tính cách trung thiên tiểu thuyết đó tồn tại những phiến đoạn trần thuật quy mô trùng khít hồi truyện có dáng dấp như là một truyện ngắn Thống kê cho thấy có cả thảy:

sau:

Đoản thiên tiểu thuyết - story hoặc novel cỡ nhỏ

Trung thiên tiểu thuyết - novel hoặc novelette

Trường thiên tiểu thuyết - romance hoặc fiction

Trung Quốc gọi là tản văn bút kí, truyện kí Trong văn học Pháp Le roman chỉ các tác phẩm

tự sự trường thiên, các hình thức đoản thiên, trung thiên, đặc biệt là những tác phẩm kể lại những câu chuyện sinh hoạt thế thái nhân tình kì thú được người Pháp gọi là La nouvelle

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

(1) Hồi 7 trong đơn nguyên câu

chuyện Chu - Phạm Lưỡng Tiến

(nhóm hồi 2-7)

(2) Hồi 19 trong đơn nguyên câu

chuyện nhà nho trẻ Khuông Siêu

Nhân (nhóm hồi 15B-20A)

(3) Hồi 30 trong đơn nguyên câu

chuyện danh sĩ Nam Kinh và Đỗ

Thận Khanh (nhóm hồi 28-30)

(4) Hồi 42 trong đơn nguyên câu

chuyện cha con nhà họ Thang

(nhóm hồi 42-44A)

(5) Hồi 52 trong đơn nguyên câu

chuyện lão hiệp khách họ Phượng

(nhóm hồi 50-52)

Nhìn trên quy mô toàn sách các

đoản thiên này được bố trí ở các vị trí

cách đều nhau trên dưới 10 hồi truyện,

chúng nằm trong các đơn nguyên

truyện vừa khá quan trọng của tiểu

thuyết Điều đáng nói là chúng đều là

hồi cuối trong các đơn nguyên truyện

vừa kể trên Hoàn toàn có thể đặt tên

cho mỗi một đoản thiên bằng một vế

trong cặp đối ngẫu đề mục hồi truyện

Ví dụ có thể gọi hồi 7 là Truyện Vương

viên ngoại trong triều giúp bạn (lấy vế

“Vương viên ngoại lập triều đôn hữu

nghị” của hồi mục) Tương tự:

Hồi 19 - Truyện viên lại họ Phan

mắc vạ (lấy vế “Phan tự nghiệp hoành

tao họa sự”)

Hồi 30 - Truyện họp hội phong lưu

hồ Mạc Sầu (lấy vế “Sính phong lưu cao

hội Mạc sầu hồ”)

Hồi 42 - Truyện công tử lầu xanh

bàn khoa trường (lấy vế “Công tử kĩ viện

thuyết khoa trường”

Hồi 52 - Truyện anh hùng phá nhà

đòi nợ (lấy vế “Huỷ sảnh đường anh hùng thảo trái”)

Các hồi truyện có tính cách đoản thiên truyện ngắn này thậm chí có thể tách khỏi chuỗi hồi tiểu thuyết và hoàn toàn có thể đọc hiểu chúng trong tình thế độc lập khỏi văn cảnh (context) tiểu thuyết Đương nhiên khi cố ý tách chúng ra khỏi văn bản tiểu thuyết ta cần phải “xử lí ” chút ít về câu chữ Thử nghiệm của chúng tôi cho thấy, trừ hồi

7 và hồi 42 ra, còn nữa chỉ cần cắt đi hai câu cuối hồi “Chỉ nhân……, khiến cho……; Chưa biết…… hẵng xem hồi sau phân giải” là bản thân hồi đó tự thành một truyện ngắn Hồi 42 do chỗ nằm ở vị trí mở đầu cho đơn nguyên truyện vừa nên có hiện tượng quá độ tình tiết sang hồi sau Thế nhưng cũng theo thử nghiệm của chúng tôi, chỉ cần cắt lấn lên vài câu nữa là vẫn có khả năng thành một đoản thiên độc lập Hồi truyện kết thúc như sau:

“Hai công tử (Thang Thực và Thang

Do, con Thang tổng trấn - LTT) trở về nhà Hơn hai mươi ngày sau, trước cổng trường thi thấy người ta đem mực vào viết bảng xanh (yết tên những thí sinh phạm quy - LTT), biết là sắp báo kết quả Hai hôm treo bảng, hai anh em chẳng ai đậu Về nhà ngồi tức tối bảy, tám ngày liền Đi nhận lại quyển thi hỏng, Thang Do ba bài, Thang Thực ba bài Ba bài đều không từng được xem xong Cả hai nổi đoá chửi cả quan chấm thi lẫn quan chủ khảo dốt nát Chửi

đang cơn hứng thì có gia nhân từ trên nha môn tỉnh Quý Châu mang thư nhà

về Hai người bóc xem Chỉ nhân phen này khiến cho:

Trang 4

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

Vin cành hoa quế, chơi vườn hạnh: thi

cử như là chơi trong mộng(3)

Hổ và rồng vờn đấu với nhau: cảnh

chiến chinh lại thấy nhãn tiền

Rốt cuộc chuyện về sau ra sao hẵng

nghe hạ hồi phân giải.”

Rõ ràng câu chuyện chính của hồi

truyện đã chấm dứt ở câu trần thuật

hai cậu ấm nhận lại bài thi hỏng và

chửi “cả quan chấm thi lẫn quan chủ

khảo dốt nát”(4) Thực ra chi tiết có

người mang thư nhà đến ở hồi này cũng

như chi tiết người đưa giấy báo thi đậu

cuối hồi 7 không có quan hệ tất yếu với

nội dung hồi truyện Cho đây là khởi

dẫn cho tình tiết truyện trong hồi kế

theo sau thì đúng hơn so với quan niệm

chúng là để kết thúc cho bản thân hồi

truyện mà nó thuộc vào

Thế nhưng vấn đề quan trọng hơn

là các “hồi truyện ngắn” này có một

quan hệ kết cấu tự sự ra sao trong dự

tính kiến tạo các đơn nguyên tự sự

nhóm hồi có tính cách truyện vừa trong

tiểu thuyết này? Có thể thấy ngay một

điều là tất cả các hồi truyện ngắn này

đều có một tác dụng tạm gọi là “hướng

tâm” (endocentric) Trong trường hợp nó

là hồi mở đầu cho một đơn nguyên

truyện vừa thì các liên hệ tình tiết khởi

dẫn nên từ hồi này bắt mối đến tận các

hồi truyện về sau trong nhóm hồi truyện vừa Ngược lại nếu hồi truyện ngắn là hồi kết thúc cho một nhóm hồi

đơn nguyên truyện vừa thì các mối liên

hệ trần thuật tạo nên từ nó lại quan hệ ngược lên các hồi phía trước ở trong nhóm Sau đây chúng tôi sẽ phân tích trên dẫn chứng cụ thể

Đoản thiên hồi 7 Vương viên ngoại trong triều giúp bạn kể mối thâm tình giữa hai người bạn vong niên Vương Huệ với Tuân Mai Vương Huệ đến lúc thi đậu tiến sĩ mới gặp được Tuân Mai - người mà ông cử Vương chỉ biết tên trong giấc mơ hơn mười năm trước báo cho biết sẽ đậu đồng khoa hội thí với mình (lúc đó Vương cũng chỉ xem là chuyện tầm phào đem ra kể để giỡn Chu Tiến ở am Quan Âm nhân khi Chu nói trong đám học trò trẻ con của mình

có đứa họ Tuân tên Mai) Tình tiết này làm cho liên hệ chỉnh thể trong đơn nguyên nhóm hồi thêm chặt chẽ Chu Tiến và Phạm Tiến(5) là cặp nhân vật chính của nhóm hồi Về mặt tình tiết truyện, nhân vật Tuân Mai có tác dụng liên kết hai hình tượng Chu Phạm lại với nhau: Tuân Mai là học trò vỡ lòng của Chu Tiến thời hàn vi gõ đầu trẻ kiếm cơm ở am Quan Âm làng Vấn

hương vào tháng tám âm mùa hoa quế nở Người thi đậu gọi là “bẻ cành quế” hoặc “vin cành quế” Thi hội định vào tháng ba âm tiết hạnh hoa Người đậu hội thí gọi là “thám hạnh”

Thế nhưng dốt hay giỏi dường như không quyết định chuyện thi đậu Cách kể: “Ba bài đều không từng được xem xong” kín đáo cho ta thấy có thể quan chấm thi lười nhác, qua chuyện

Đương nhiên hiểu như giáo sư Trần Mĩ Lâm cũng là một cách: “Văn chương bài thi hội của loại trở thành tú tài nhờ bố làm quan thì không cần phải “xem xong”, mà chưa chừng hai cậu

ấm cũng chưa viết xong” (Nho lâm ngoại sử - bản kèm lời bình của Thanh Lương Bố Hạt Trần Mĩ Lâm, Tân thế giới xuất bản xã, tr 464)

đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết ra đi lều chõng trở về võng lọng Một phần vì vậy nên trong khi phân tích câu chuyện hai thầy trò chúng tôi vẫn hay gọi Chu Phạm lưỡng Tiến!

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

Thượng, sau đó Tuân lại thành thí sinh

trong khoa thi mà Phạm Tiến làm chủ

khảo Chu chấm đậu cho Phạm xưa kia

cũng như Phạm chấm đậu cho Tuân

bây giờ thảy đều vì những lí do bên

ngoài phép chọn hiền tài cho quốc gia

Thế nhưng nhân vật Tuân Mai xuất

hiện và rút lui được một cách tự nhiên

trên sân khấu trần thuật của truyện thì

lại nhờ vào công dẫn xuất của nhân vật

Vương Huệ: Cử Vương tránh mưa ở am

Quan Âm đọc thấy tên Tuân Mai trên

vở tập mà ông đồ Chu Tiến đang chấm

dở bèn đem chuyện “mộng thấy bảng

vàng có tên Tuân Mai” (hồi 2) kể với

Chu Hơn mười năm sau chuyện trời

báo thi đậu(6) đó mới ứng nghiệm Cụ cử

già họ Vương gặp được chàng tân khoa

họ Tuân trong cùng kì thi đình (hồi 7)

Câu chuyện nhỏ về mối giao hảo giữa

hai cử tử Vương Huệ và Tuân Mai phản

chiếu và làm sắc nét thêm hình bóng

câu chuyện lớn về nghĩa tình giữa ân sư

Chu Tiến với học trò kiêm đồng nghiệp

Phạm Tiến (Phạm Tiến về sau cũng làm

học đạo quan trông coi thi cử học hành

như Chu Tiến) Câu chuyện cho ta thấy

hình ảnh hai lão hàn sĩ một Nam một

Bắc quá nửa đời long đong khoa cử Chu

Phạm sau cùng cũng tròn được giấc mơ

công danh đậu đến tiến sĩ Một người

được bổ về làm học đạo quan ở Quảng

Đông (quê của Phạm Tiến, đông nam Trung Quốc Chu xem thi ở đây động lòng thương Phạm ngồi thi mặc áo bông rách trong khi tiết trời miền Nam đã sắp sang mùa hạ) Một người được bổ về làm học đạo quan ở Sơn Đông (quê của Chu Tiến, đông bắc Trung Quốc Chu dặn người học trò cùng tên khi làm quan ở quê thầy nếu chấm thi nhớ để ý giúp đỡ một học trò vỡ lòng của thầy tên

là Tuân Mai) Câu chuyện lớn của hai nhân vật thầy trò nhưng là đồng liêu này trong những hồi đầu đã gài sẵn một vài tình tiết ngầm hẹn một câu chuyện nhỏ của hai nhân vật bạn vong niên nhưng đồng khoa Vương Huệ - Tuân Mai sẽ được trần thuật tập trung trong hồi kết đơn nguyên tự sự truyện vừa

đầu tiên trong Nho lâm ngoại sử Vương - Tuân một già một trẻ cùng quê cùng chứng nghiệm cho giấc mộng bảng vàng rồi “cùng ra làm chủ sự bộ công Mãn nhiệm đổi làm viên ngoại” (hồi 7,

tr 93)(7) Có thể nói những nét màu cơ bản nhất trong bức tranh nho lâm đã thể hiện ngay trong nhóm chân dung bốn nhân vật trên

Tương tự, đoản thiên truyện ngắn Chuyện viên lại họ Phan mắc vạ hồi 19

khoa cập đệ” Trong khi danh sách truy tặng tiến sĩ cập đệ cho các nho sĩ đã mất của triều

đình trong hồi cuối cùng - hồi 56 thì truyền thống phê bình quen gọi là “U bảng” Được báo thi đậu lúc đang sống hay được báo thi đậu lúc đã chết rồi đều là giấc mộng của sĩ nhân thời khoa cử Đọc từ truyền kì đời Đường cho đến Liêu Trai chí dị qua Tang thương ngẫu lục của

ta thì biết tình tiết giấc mộng khoa bảng này còn ám ảnh các nhà văn trung đại lâu dài, khác chăng chỉ ở bút pháp thể hiện mà thôi

Vương Huệ phạm pháp xem hồi 8, kết cục của nhân vật này xem hồi 39 Chuyện Tuân Mai vướng vòng lao lí xem hồi 29 Kết cục của các nhân vật này rõ ràng diễn ra trong những hồi ở bên ngoài nhóm hồi truyện vừa chứa câu chuyên chính của chúng Đây là bút pháp mới trong nghệ thuật tự sự của Ngô Kính Tử

Trang 6

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

cũng đảm nhận vai trò kết thúc cho đơn

nguyên nhóm hồi truyện vừa câu

chuyện Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi

15B-20A) Sự xuất hiện loáng thoáng

của hai nhân vật Phan Bảo Chính và

Phan Tam trong những hồi phía trước

của đơn nguyên để sau đó đi đến một

trần thuật tập trung ở một hồi sau cùng

có tính cách truyện ngắn nhằm kết lại

cho cả đơn nguyên truyện vừa câu

chuyện Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi

15B-20A) - thủ pháp này cũng tương tự

như cách để cho Tuân Mai và Vương

Huệ lúc ẩn hiện lúc hiện trước lúc xuất

hiện tập trung trong hồi kết thúc đơn

nguyên câu chuyện câu chuyện Chu -

Phạm lưỡng Tiến (nhóm hồi 2-7) Các

hồi 30 Họp hội phong lưu hồ Mạc sầu

và hồi 52 Anh hùng phá nhà đòi nợ đều

là những cách kết thúc cho đơn nguyên

trung thiên tiểu thuyết bằng một hồi

truyện có tính cách truyện ngắn

3 Vận dụng thể loại tản văn bút

Từ lâu, những phiến đoạn miêu tả

không gian cảnh vật nổi tiếng trong

Nho lâm ngoại sử đã thu hút sự chú ý

của các nhà nghiên cứu Tác giả của bộ

sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, bộ

Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận -

giáo sư Hạ Chí Thanh(8) nhấn mạnh đến

bút pháp hiện thực chủ nghĩa ở những

đoạn tả cảnh trong Nho lâm ngoại sử

Ông viết: “Phong cảnh thiên nhiên nổi

tiếng cũng như cảnh trí sinh hoạt

thường nhật muôn màu của nhiều

thành thị miền Giang Nam trong đó có

Nam Kinh, Hàng Châu, Gia Hưng được tái hiện sinh động trong tác phẩm Chúng thậm chí đến nay vẫn có thể kiểm đối được với thực tế” Tuy nhiên không phải đoạn tản văn có tính chất kí lục nào trong tác phẩm cũng đều được tán thưởng Cũng chính Hạ Chí Thanh phê bình Ngô Kính Tử bộc lộ mình quá

rõ trong đoạn có tính cách bút kí về cái gọi là phong tục nhân tình Ngũ Hà huyện (đây là bối cảnh không gian quan trọng trong nửa sau tiểu thuyết sau Nam Kinh): “Trong đoạn miêu tả nhân tình phong tục huyện Ngũ Hà, họ Ngô

rõ ràng đã đánh mất đi sự chừng mực

tự kìm nên có trong nghệ thuật phúng thích” Không hẹn mà nên, tại đại lục giáo sư Trần Mĩ Lâm cũng bình luận

đoạn này: “Tác giả dường như không còn nén nhịn được bèn trực tiếp ra mặt bình thuyết”(9) Chúng tôi tự thấy không

có nhiệm vụ tranh luận trực diện với các ý kiến trên vì cách đặt vấn đề của chúng tôi ở đây không cùng hướng với hai học giả Thế nhưng trước khi nêu vấn đề sự vận dụng thể loại tản văn bút

kí vào trong kiến cấu thể loại tác phẩm,

ta hãy tìm hiểu qua quan điểm có liên quan đến cái gọi là phần miêu tả trong

tự sự tiểu thuyết Theo quan điểm của một số nhà phê bình cấu trúc luận, ta

có thể xếp những đoạn tản văn kí tả vừa nhắc ở trên trong Nho lâm ngoại sử vào thành phần miêu tả (decription) không gian ngoại bộ “Trong truyền thống tiểu thuyết cổ điển, những đoạn

giáo sư Hạ Chí Thanh, sách xuất bản bắng tiếng Anh Bản dịch tiếng Trung do Giang Tây nhân dân xuất bản xã ấn hành Chúng tôi dẫn từ bản tiếng Trung, tr 212 Đoạn tiếp theo dẫn từ trang 246

tr 159

Trang 7

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

có tính miêu tả trên thực tế là tương

đối độc lập Chúng (trên kết cấu bề

mặt văn bản tác phẩm) thường được

phân cách bằng qua hàng và có một

tính độc lập nhất định Xét từ góc độ

sinh thành, chúng có thể là được chuẩn

bị sẵn để “điền đệm” vào trong văn bản

tiểu thuyết” (phần in đậm do chúng tôi

nhấn mạnh)(10) Giờ đây đã đến lúc

chúng tôi biện hộ cho những đoạn có

tính cách tản văn kí tả trong Nho lâm

ngoại sử Nhận xét trên đây có thể là

đúng đối với một số tiểu thuyết hạng

trung Trong những cuốn tiểu thuyết

này, các phiến đoạn miêu tả có thể bị

lược bỏ mà không ảnh hưởng lớn đến

hiệu quả tự sự của tác phẩm, chúng có

thể chỉ là “một thứ trang sức miễn phí”,

biểu hiện của những “động cơ tự do” của

người viết Thế nhưng trước một cuốn

tiểu thuyết đã xuất bản ra rồi, thật khó

mà nói đến cái gọi là “xét từ góc độ sinh

thành” để từ đó kết luận được “chúng có

thể là được chuẩn bị sẵn để “điền đệm”

vào trong văn bản tiểu thuyết” hay

không Càng khó đồng ý với ý kiến trên

nếu ta biết tất cả những đoạn tản văn

có tính cách miêu tả, kí lục gợi ta nhớ

đến thể loại tuỳ bút hay bút kí ngày

nay đó đều được tác giả Ngô Kính Tử bố

trí vào vị trí mở đầu hoặc kết thúc của

các đơn nguyên nhóm hồi truyện vừa

Chúng nhất định phải là một phần

trong kế hoạch tự sự kết hợp đa thể tài

của nhà văn Không kể những đoạn

nhỏ, thống kê cho thấy tiểu thuyết Nho

lâm ngoại sử có 8 trường đoạn có tính

cách tản văn kí lục thuần tuý Có thể

đặt tên theo nội dung mỗi đoạn và liệt

kê theo thứ tự sau đây:

(1) “Tây Hồ du kí”: nửa sau hồi 14 -

đơn nguyên truyện vừa chuyện Mã Nhị (nhóm hồi 13B-15A)

(2) “Nam Kinh kí” và “Nam Kinh kịch nghệ kí”: nửa sau hồi 24 - đơn nguyên truyện vừa chuyện cha con Bão Văn Khanh (nhóm hồi 24B-27)

(3) “Ghi chép về phong tục và cảnh vật ở Tần Hoài hai mùa xuân thu”: hồi

41 - đơn nguyên chuyện Thẩm Quỳnh nương (nhóm hồi 40B-41)

(4) “Ngũ Hà nhân tình phong tục kí”: hồi đầu đơn nguyên chuyện Ngô Lương (nhóm hồi 46B-47)

(5) “Bút kí thăm cảnh cũ đền Thái Bá”: cuối hồi 48 - đơn nguyên chuyện Vương Ngọc Huy (hồi 48)

(6) “Nam Kinh thập nhị lầu kí”: hồi

đầu đơn nguyên câu chuyện Trần Mộc Nam (nhóm hồi 53-54)

(7) “Ghi chép nhân chuyến thăm lại

đền Thái bá”: chuyện bốn người khách (hồi 55)

(8) Các bài văn tế, chiếu dụ, tấu sớ cùng ghi chép về nguồn cơn quá trình công việc truy phong bảng vàng tiến sĩ cập đệ của triều đình trong hồi 56 có thể xem là những văn bản phỏng nhại thể tài văn hành chính - chức năng và ghi chép sử học kiểu thực lục

Không cần chú ý đến vai trò vị trí của chúng trong các đơn nguyên nhóm hồi tự sự có tính cách truyện vừa mà chúng thuộc vào, chỉ theo dõi trong chuỗi trường thiên hồi nối hồi của tiểu thuyết cũng đã có thể phát hiện thấy các phiến đoạn có tính cách bút kí đó

được phân bố rải đều trong toàn sách - chúng nằm trong dãy các hồi 14, 24, 37,

41, 47, 53 Các phiến đoạn đó có một tác

sự của một cuốn tiểu thuyết phân thành 4 thành phần bao gồm kể thuật, luận thuật, thoại ngữ và miêu tả (tr 47).

Trang 8

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

dụng nhất định trong việc điều tiết tiết

tấu tự sự toàn sách, tạo bối cảnh cho

câu chuyện, triển khai một thế giới khả

thị cho bạn đọc Không thể tuỳ tiện di

chuyển vị trí xuất hiện của chúng trong

văn bản tiểu thuyết Dưới đây chúng tôi

sẽ chọn phân tích đoạn Ngũ Hà nhân

tình phong tục kí - đoạn đã trở thành

nguyên khởi của mục II.2 Vận dụng thể

loại tản văn bút kí này Nhưng trước

khi quay lại với đoạn đó, ta hẵng điểm

qua các đoạn kí tả xoay xung quanh đề

tài Nam Kinh - một bối cảnh không

gian hàng đầu trong tiểu thuyết Nho

lâm ngoại sử

Như đã thấy, từ phần sau của nửa

đầu tiểu thuyết các nhân vật bắt đầu

“châu tuần” về Nam Kinh Địa danh

Nam Kinh xuất hiện lần đầu trong hệ

thống hồi mục chính là từ hồi 25(11) Từ

sau hồi này, bối cảnh không gian chính

của tiểu thuyết tập trung ở Nam Kinh

Khảo sát kĩ hơn cho thấy những phiến

đoạn miêu tả Nam Kinh trong nửa sau

cuốn sách chiếm một tỉ lệ đáng kể, các

phiến đoạn đó cũng được phân bố khá

đều Có thể liệt kê ra như sau (chúng

tôi gọi tên mỗi phiến đoạn kí tả theo nội

dung chính của đoạn):

Hồi 24: “Nam Kinh thành kí” và

“Nam Kinh kịch nghệ kí”

Hồi 37: “Cảnh Vũ Hoa Đài ở Nam

Kinh”

Hồi 41: “Tần Hoài xuân, thu cảnh

vật- phong tục kí”

Hồi 53: “Nam Kinh thanh lâu kí”

hoặc “Nam Kinh thập nhị lầu kí”

Như vừa nói ở trên, từ sau hồi 25

tiểu thuyết chuyển sang một bối cảnh

không gian mới Cái bản lề chuyển đổi sân khấu tự sự trong tiểu thuyết này chính là được định vị ở nửa sau hồi 24, nhân vật giữ chức năng nối cảnh chuyển màn đó là Bão Văn Khanh Để chuẩn bị cho việc đó, tác giả đã khéo léo

đặt tiếp liền nhau trước câu chuyện Bão Văn Khanh (hồi 24B - xem Bảng phân

định) hai phiến đoạn tản văn kí tả -

đoạn “Nam Kinh kí” và “Nam Kinh kịch nghệ kí” Đoạn miêu tả chung thành Nam Kinh đánh dấu sự xuất hiện bối cảnh không gian mới của tiểu thuyết, tiếp liền là đoạn ghi chép về nghề kịch ở Nam Kinh Đoạn này mở màn cho câu chuyện kép hát Bão Văn Khanh Tấn tuồng cuộc sống thời đại nói chung cũng như nghiệp diễn của người diễn viên cụ thể tất cả phản chiếu vào nhau Nhà bình điểm Nho lâm ngoại sử lớn nhất - Nhàn Trai lão nhân dường như đã cảm nhận được một cách trực giác ý vị đó của tiểu thuyết khi ông viết những dòng bình điểm câu chuyện Bão Văn Khanh:

“Văn Khanh giấu đời lăn thân trong nghề diễn mà cứng cỏi giữ mình, không thẹn là bậc đoan nhân chính sĩ Tuy làm một diễn viên nhưng nào có gì đáng ngại? Thiên hạ há chẳng phải có đầy những hạng sĩ đại phu mà hành tung khác gì đào kép, danh gọi là nho mà thực chất là đóng kịch Nay họ Bão rõ ràng là một kép hát mà thực không xấu

hổ khi xếp vào hàng sĩ đại phu, ấy chính là danh là đào kép mà thực là nho nhân vậy.” Nhìn theo con mắt của nhà bình điểm này không khó phát hiện thấy đám thời danh sĩ phong lưu trong

Nghê Đình Tỉ An Khánh chiêu thân

Phủ An Khánh Nghê Đình Tỉ thành hôn

Trang 9

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

những hồi truyện tiếp theo sau câu

chuyện Bão Văn Khanh thực mới là kép

hát của thời đại, sự nghiệp hành xử của

đám này cũng chỉ là tuồng diễn mà

thôi Nam Kinh thật như một đại sân

khấu, chính nhân quân tử áo mũ diễn

trò mà ngược lại trong cái thế giới nhỏ

bé của nghề kịch kia một anh kép hát

(nguyên văn hí tử) như Bão Văn Khanh

kia lại tính tình hồn hậu, chân phương

làm người

Giờ đây vẫn trên lập trường cho

rằng các phiến đoạn có tính chất tản

văn bút kí trong Nho lâm ngoại sử là

một phần tất yếu của một kế hoạch kết

hợp đa thể tài nhằm mục đích kiến cấu

chỉnh thể tự sự cho tiểu thuyết chúng

ta hãy quay lại với đoạn Ngũ Hà nhân

tình phong tục kí Như đã thấy, phiến

đoạn này xuất hiện trong đơn nguyên

nhóm hồi câu chuyện Ngu Lương Rất

dễ nhận ra tác giả tiểu thuyết có ý đối

lập nhà họ Ngu với cái tiểu xã hội Ngũ

Hà huyện Nói đúng hơn xã hội Ngũ Hà

dung tục vị lợi đã cô lập nhà họ Ngu

thành một ốc đảo Để tiện hình dung

vấn đề chúng tôi dẫn nguyên cả một

trường đoạn:

“Lại nói Ngu Hoa Tuyên cũng

không phải hạng người thường Từ năm

lên bảy lên tám đã là một thần đồng Về

sau, kinh sử cho đến bách gia chư tử

không có cái gì là không đọc kĩ, không

cái gì là không để tâm đến, không có gì

là không thông triệt Năm hai mươi

tuổi, học vấn toàn tài Mọi thứ từ binh,

nông, lễ, nhạc, thuỷ, hoả cho đến xây

dựng, thuỷ lợi đụng đầu Ngu đã biết

đuôi Văn chương ngang tầm Mai Thừa, Tư Mã Tương Như, thi phú không kém

Lí Bạch, Đỗ Phủ Người cố từng làm thượng thư, ông nội là hàn lâm, cha làm tri phủ, thực là đại gia Khổ nỗi tuy Ngu học vấn sâu rộng thế nhưng dân Ngũ Hà chả bao giờ để cho Ngu được mở mồm” (Hồi 47, tr 507)(12)

Tiếp liền đoạn giới thiệu gia thế nhân vật chính của câu chuyện là đoạn

có tính chất kí lục về nhân tình phong tục Ngũ Hà:

“Phong tục Ngũ Hà nói đến người nào có phẩm hạnh họ liền cười méo cả mồm; Nói đến thế gia đại tộc dòng dõi mấy chục năm về trước họ bèn cười khì trong mũi; Nói đến ai biết làm thơ phú viết cổ văn(13) họ thì cười chau cả mày Hỏi huyện Ngũ Hà có phong cảnh núi sông gì, rằng có cụ thân hào họ Bành; Hỏi huyện Ngũ Hà có sản vật quý hiếm gì, đáp có cụ thân hào họ bành; Hỏi huyện Ngũ hà ai người có phẩm vọng, khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai người có

đức hạnh, khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai người tài tình, rằng chỉ biết khen có cụ Bành Lại còn có một chuyện người ta ai cũng hãi, ấy là nhà cụ Bành kết thông gia với nhà cụ Phương ở Huy Châu; Một chuyện nữa người ta cũng rất phục, đó

là việc nhà cụ Bành vốc bạc ra mua ruộng.”

Như trên đây đã nói đến, không phải là ngẫu nhiên khi tác giả tiểu thuyết đặt bên cạnh nhau hai phiến

đoạn tự sự trên Hai phiến đoạn trở nên

để trước tác nghiêm túc đối lập với “thời văn” mà nhà nước quy định (xem hồi 1) dùng để thi

cử - cái gọi là văn bát cổ đã đẩy cả nền văn hoá đi vào chỗ trống rỗng và chôn vùi hàng thế hệ trí thức Trung Hoa Đây là một nét chủ đề quan trọng trong Nho lâm ngoại sử.

Trang 10

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

tương phản soi chiếu lẫn nhau do sự

thay đổi của bút pháp: trần thuật chân

phương nghiêm túc kiểu sử truyện

trong đoạn thứ nhất và lối kể tả giễu

nhại hí kịch trong đoạn thứ hai Lịch sử

quả có chuyện xưa nay - truyền thống

(văn chương thi phú, học vấn toàn diện,

dòng họ thi thư) trở thành trò cười trước

một hiện thời quy tất cả giá trị ý nghĩa

vào trong hai chữ tiền tài thế lực Xã

hội cũng có chuyện một thiểu số bị cô

lập trước quảng đại xu thời - cái quảng

đại cả tiếng nói cười hỏi đáp “chả bao

giờ để cho” cái thiểu số kia “được mở

mồm” Khi đã cảm nhận được tất cả

những ý vị tự sự như vậy, thật khó mà

cho rằng đây chỉ là một đoạn miêu tả

ngoại cảnh xuất hiện tuỳ tiện trong văn

bản trần thuật và là “một thứ trang sức

miễn phí” cho tiểu thuyết Đặt đoạn văn

trong kết cấu trần thuật cụ thể như

trên, ta cũng sẽ khó mà nói được trong

đoạn đó tác giả tiểu thuyết “rõ ràng đã

đánh mất đi sự chừng mực tự kìm nên

có trong nghệ thuật phúng thích” “trực

tiếp ra mặt bình thuyết” (xem phần đầu

tiểu mục này) Thực ra, nói một cách

xác đáng, trong đoạn văn trên độc giả

tinh tai đã có thể nghe ra được có sự

thẩm thấu vào trong từng từ giọng mai

mỉa nhạo cười của nhân vật chính của

câu chuyện, kẻ được giới thiệu trực diện

trong đoạn đầu - Ngu Lương(14) Nói đến

những đoạn tả cảnh trong Nho lâm

ngoại sử phàm người đã đọc qua tiểu

thuyết này không thể không nghĩ ngay

đến đoạn “tả cảnh Tây Hồ” ở hồi 14

Đây là trường đoạn có tính cách tản văn

kí lục đầu tiên trong tiểu thuyết mà

chúng tôi từng thống kê (xem phần đầu

tiểu mục, trường đoạn này được vận dụng trong đơn nguyên “truyện vừa” Chuyện thầy tú soạn sách ôn thi - nhóm hồi 13B ~15A Xem Bảng phân định) Xin nhường lời cho nhà bình điểm nổi tiếng Nho lâm ngoại sử thời Thanh - cụ Trương Văn Hổ: “Cực tả cái đẹp thanh

tú u tĩnh của Tây Hồ cùng cảnh phồn hoa của phong tục vùng hồ lồng với kể chuyện thầy Mã hủ nho gàn gở bần cùng Người và cảnh ánh chiếu lẫn nhau, làm người đọc hình dung đến tận cùng đường nét” Tây Hồ như gương soi

rõ bóng thầy tú kiết Kết hợp thể tản văn kí tả vào trong một tự sự nhẹ nhàng bình đạm cho ta thiên tiểu thuyết già dặn biết mấy về bút pháp Toàn bộ công việc phân tích khảo sát trên đây không nhằm đơn giản để phân xuất ra từ chỉnh thể văn bản trần thuật chương hồi tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử những phiến đoạn tự sự gọi là

“trung thiên truyện vừa” hay “đoản thiên truyện ngắn” hoặc “bút kí” Công việc phân xuất đó sau khi đã được tổng hợp hợp lại dưới một quan điểm thống nhất về diện mạo thể loại của tác phẩm tiểu thuyết cụ thể, chính là nhằm chứng minh cho tính cách tân cũng như

vẻ độc đáo của Nho lâm ngoại sử xét từ phương diện cấu tạo văn thể Mọi thao tác từ phân tích cho đến chứng minh, tất cả đều diễn ra dưới tư tưởng lí luận chủ đạo mà chúng tôi đã viện dẫn ngay

từ đầu - tư tưởng cho rằng “mỗi bộ tiểu thuyết tự thành thể loại”, “mỗi bộ tiểu thuyết chính là bản thân tác giả của nó, bản chất của tiểu thuyết chính là ở chỗ

đó”

thuyết Chí Phèo vậy.

Ngày đăng: 23/07/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm