Trong bài viết này, chúng tôi chỉ ra rằng lập luận trong tạp văn Nguyễn Khải thể hiện ở việc xây dựng các lí lẽ nhiều tầng, hình thức đa dạng và kết luận chủ yếu là những dòng suy ngẫm,
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
đặc điểm lập luận trong tạp văn của Nguyễn khải
Đặng Thị Thu (a)
Tóm tắt Trong bài viết này, chúng tôi chỉ ra rằng lập luận trong tạp văn Nguyễn Khải thể hiện ở việc xây dựng các lí lẽ nhiều tầng, hình thức đa dạng và kết luận chủ yếu là những dòng suy ngẫm, suy diễn, nhận định mang màu sắc triết lý về cuộc đời
và con người Với cách thức lập luận như vậy đã mang đến tính thuyết phục cao và góp phần làm nổi bật phong cách văn xuôi của nhà văn Nguyễn Khải
1 Trong giao tiếp con người phải
trao đổi thông tin với nhau Muốn trao
đổi thông tin tốt thì cách tổ chức các
đơn vị lời nói rất quan trọng Cách tổ
chức lời nói để truyền đạt thông tin có
nhiều dạng: Có cách tổ chức lời nói
mang thông tin trực tiếp (tường minh),
có cách tổ chức lời nói gián tiếp (hàm
ẩn) Có cách dẫn dắt thông thường và
dẫn dắt luận lý Lập luận là cách tổ
chức mang tính chất luận lý đưa đến
hiệu quả cao trong giao tiếp
Vậy lập luận là gì? Từ trước đến
nay đã có nhiều ý kiến bàn về lập luận
Theo Đỗ Hữu Châu thì: “Lập luận là
đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người
nghe đến một kết luận nào đó mà người
nói muốn đạt tới" [1, 15]
Còn Nguyễn Đức Dân thì cho rằng:
“Lập luận là một hoạt động ngôn từ
Bằng cộng cụ ngôn ngữ, người nói đưa
ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người
nghe đến một hệ thống xác tín nào đó:
Rút ra một (một số) kết luận hay chấp
nhận một (một số) kết luận nào đó " [4,
165] Đỗ Thị Kim Liên xác định “Lập
luận là người nói hay viết đưa ra một
hay một số lý lẽ mà ta gọi là luận cứ
nhằm dẫn dắt người đọc hay người
nghe đến một kết luận nào đó mà người
viết muốn hướng tới” [2, 141] Dù diễn
đạt có khác nhau nhưng về cơ bản các
nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng lập luận là đưa ra các lý lẽ
để người cùng giao tiếp đi đến kết luận hoặc chấp nhận kết luận Như vậy trong hoạt động giao tiếp (dù trực tiếp hay gián tiếp) để đi đến một đích nào đó người nói phải có chiến lược giao tiếp phù hợp mà lập luận là một trong những yếu tố quan trọng của chiến lược
đó
Lập luận được thể hiện trong nhiều loại văn bản: Văn bản khoa học, văn bản pháp lý và cả văn bản nghệ thuật Trong văn bản nghệ thuật, loại tạp văn
là nơi thể hiện rõ tính chất lập luận Nguyễn Khải là một cây bút viết tạp văn nhiều và cách lập luận trong tạp văn của tác giả này đã mang tính định hình rõ nét, tạo nên phong cách riêng Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến vấn đề lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải nhằm làm nổi bật phong cách của một tác giả văn học lớn trong văn học Việt Nam hiện đại
2 Tạp văn của Nguyễn Khải được in trong tập “Nguyễn Khải tạp văn” (Nxb Văn học, 1996) bao gồm những bài viết ghi lại những mẩu chuyện, những kỷ kỷ niệm, những con người, những mảng hiện thực đời sống, những hiện tượng lịch sử (Bạn mới ở Hạ Long, Tiệc mừng
Nhận bài ngày 01/11/2007 Sửa chữa xong ngày 19/12/2007
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
đầu năm, Hào kiệt tỉnh Thanh, Chiến
binh khi đã về già…) Ngoài ra tạp văn
của ông còn bao gồm các bài báo đề cập
đến các vấn đề về đạo đức lối sống (Lối
sống ở khoảng giữa, Chúng tôi chăm sóc
những tài năng, Một người ủng hộ lực
lượng trẻ, Tính dối trá, Trách nhiệm với
người khác và trách nhiệm với xã
hội…) Bên cạnh đó còn có những bài
viết về nghề nghiệp (Nghề văn cũng
lắm công phu, Nghề viết với sách in,
Nếu trái tim tôi chưa nguội lạnh, Cuộc
tìm kiếm mãi mãi, Không Thầy đố mày
làm nên…) ở đề tài nào, chúng ta đều
nhận thấy một Nguyễn Khải luôn nhạy
bén trước hiện thực đời sống Nhà văn
đã khéo léo lồng vào sự trải nghiệm của
chính bản thân, từ đó đặt ra được
những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn
Thấp thoáng đằng sau những trang văn
của ông là những vấn đề mang tính
triết lý sâu sắc: Triết lý về lẽ sống, về
nghề nghiệp, về những vấn đề nhân
tình thế thái trong xã hội
Độc giả yêu quý tạp văn của
Nguyễn Khải trước hết ở sự khám phá
mới mẻ trên phương diện đề tài, ở tài
năng phân tích sắc sảo, ở sự phát hiện
và khẳng định những giá trị nhân văn
sâu sắc ẩn chứa sau những nhân vật
rất đỗi bình thường trong cuộc sống
Trong những câu chuyện về những con
người bình thường, những chuyện văn,
chuyện đời…thường lấp lánh những suy
tư, khiến người đọc phải chiêm nghiệm
thấm thía Điều hấp dẫn ở tạp văn
Nguyễn Khải còn là cách thức lập luận
mang tính thuyết phục cao Nhờ lập
luận mà Nguyễn Khải đã chuyển những
tư tưởng, tình cảm vốn rất phong phú
phức tạp thành những trang văn giúp
cho độc giả dễ theo dõi trong tính hệ
thống và cuốn hút Nhà văn đã thuyết
phục được độc giả thông qua tổ chức lập luận để rồi bạn đọc văn ông cùng suy ngẫm Các đoạn văn của Nguyễn Khải thường dài (có nhiều đoạn tương đương với một tiểu phẩm) Kể về những câu chuyện, chủ yếu là sử dụng các tình tiết Tác giả sử dụng gần như đan xen vào nhau những lời kể, lời tả, suy ngẫm, suy diễn, liên tưởng chuyện này sang chuyện kia Mỗi đoạn là một lập luận nhưng các lập luận đó không tồn tại độc lập mà nằm trên một đường dây lập luận, không tách bạch nhau rõ ràng Với Nguyễn Khải, sự kiện trước mắt không dễ trôi qua và cũng không thể trôi qua một cách nhàn nhạt mà nó luôn đọng lại Nhà văn thường mổ xẻ, xoáy sâu, lật đi lật lại vấn đề để cuối cùng rút ra được những bài học có tính chất triết lý sâu sắc
2.1 Qua khảo sát lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy nhà văn thường xuất phát từ những ý nghĩ, luận điểm chủ quan của cá nhân mình, xây dựng những mẩu chuyện những nhân vật, những lời kể, tả, nhận xét… để chứng minh cho những ý nghĩ, những luận điểm đó Chẳng hạn như trong “Chị Xuân Chị Đào” có đoạn: “Trong số mười lăm nữ công nhân chưa chồng ở đội sản xuất, có một cô tôi chú ý nhiều nhất Phải gọi là chị mới đúng vì chị ấy đã ngoài ba mươi, đã có một đời chồng, chồng chết, con chết… Chị tên là Xuân, vóc dáng sồ sề, mặt thô, chân tay thô, cười nói… Chỉ có một điều lạ, người như thế ăn nói như thế nhưng cả mọi người
đều thích bàn tán về chị…Chị Xuân biết
đọc, biết viết các bài bích báo chị thường viết bằng thơ lục bát, lời thơ nôm na nhưng vẫn nhiều người thuộc” [6, 117 -118]
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
Đoạn văn trên được bắt đầu từ một
nhận định chủ quan của tác giả: “Trong
số mười lăm nữ công nhân chưa chồng ở
đội sản xuất, có một cô tôi chú ý nhiều
nhất Phải gọi là chị mới đúng” (R) Để
làm rõ nhận định này tác giả bài viết đã
triễn khai các luận cứ sau:
+ Luận cứ 1: Kể về đời tư của chị (p)
+ Luận cứ 2: Tả hình thức của chị (q)
+ Luận cứ 3: Nhận xét về cuộc đời
của chị Đó là phụ nữ từng trải, chỉ có
điều lạ (n): Mối quan hệ với mọi người
(n1), tính tình của chị (n2), cách làm ăn
của chị (n3)
+ Luận cứ 4: Tài năng trong ứng xử
của chị (m)
Và như vậy qua bốn luận cứ là
những lời kể, tả, nhận xét đan cài đồng
hướng đã làm sáng tỏ kết luận khái
quát được đưa ra ở đầu đoạn Phần kết
luận được nối với các luận cứ bằng kết
tử “vì”
Có thể mô hình hoá kiểu lập luận
này như sau:
Hình 1
Cũng xuất phát từ những nhận
định mang tính chủ quan của mình,
nhà văn Tô Hoài đã triển khai lập luận
hoàn toàn khác với Nguyễn Khải Trong
một bài viết có tựa đề “Một thể văn tập
cho người viết nhiều nết quý”, có đoạn:
“Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng
tìm đọc truyện ngắn, bởi coi đó là một
thể loại có tính chiến đấu mạnh.” [7, 7]
Đoạn văn chỉ có một câu, chứa đựng một lập luận, được tổ chức theo kiểu diễn dịch dạng đơn, gồm một kết luận
và một luận cứ, nối kết luận và luận cứ
là kết tử “ bởi”
2.2 Xuất phát từ những nhận định, những suy nghĩ mang tính chủ quan, qua cách tổ chức các lý lẽ là những lời
kể, tả, nhận xét, dẫn chứng cụ thể nhà văn đã hướng người đọc đi đến kết luận
là những dòng suy ngẫm, suy diễn
Ví dụ như trong bài viết: “Cách đọc, cách học và cách làm việc của một nhà văn hoá” có đoạn viết về sở thích của nhân vật tôi: “Tôi rất thích cuốn hồi ký
“Nhớ nghĩ chiều hôm” của học giả Đào Duy Anh vì tôi đã được chứng kiến một cuộc phiêu lưu trí thức hết sức hấp dẫn của một nhà văn hoá Ngoài cái đọc, cái học và quá rình làm việc cho một đề tài, cho một công trình, ông không viết gì nhiều về bản thân ông cả… Ngay như học giả Cao Xuân Huy là bạn mấy chục năm của học giả Đào Duy Anh… Nhưng những ai muốn tìm hiểu không khí chính trị, không khí học thuật của một thời thì sẽ cần đọc đi đọc lại nhiều lần,
để lấy tư liệu cũng có mà cần phải nhìn vào người xưa mà kiểm tra cách học cách đọc và cách làm việc của chính mình, của thế hệ mình” [6, 216-217]
Đoạn văn trên được xuất phát từ một ý nghĩ chủ quan của người viết:
“Tôi rất thích cuốn hồi ký “Nhớ nghĩ chiều hôm” của học giả Đào Duy Anh” (R1)
+ Luận cứ 1: Cái tôi tiếp nhận được
“Tôi đã được chứng kiến một cuộc phiêu lưu trí thức hết sức hấp dẫn của một nhà văn hoá " (p)
+ Luận cứ 2: Nội dung chính của quyển sách “Ngoài cái đọc tài liệu” (q)
q
R
p
Kết tử
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
+ Luận cứ 3: Nêu lên dẫn chứng cụ
thể "Ngay như học giả Cao Xuân
Huy của hai người" (n)
Từ ba luận cứ trên, nhà văn đã dẫn
người đọc đi đến một kết luận: "Viết
như thế thì thật khó đọc Nhưng những
ai muốn tìm hiểu không khí chính
trị của thế hệ mình (R2)
Đoạn văn được tổ chức theo kiểu
hỗn hợp diễn dịch - quy nạp đồng hướng
lập luận Có thể mô hình hoá lập luận
này như sau:
Hình 2
Hay như trong bài viết: “Nghề văn
cũng lắm công phu” có đoạn: “Những
mộng mơ vẫn vơ một lần nữa được thoả
nguyện đến dễ dàng…vậy mà tôi vẫn
không hãi, không phân vân… tôi đâu
dám khước từ” [6, 3]
Đoạn văn trên chứa một lập luận
bao gồm kết luận 1 (R1) là một suy nghĩ
đứng ở đầu đoạn, sau khi triển khai hai
luận cứ:
+ Luận cứ 1: Đồng chí tỉnh đội đặt
vấn đề với tôi (p)
+ Luận cứ 2: Cảm xúc và suy nghĩ
trước sự lựa chọn của tôi (q)
Từ đó người viết đi đến kết luận:
“Vậy mà tôi vẫn không hãi, không phân
vân hay dở mặc, vinh nhục mặc… tôi
đâu dám khước từ” (R2) Các luận cư
nối với kết luận 2 bằng kết tử “vậy mà”
2.3 Có khi nhà văn lại xuất phát từ những sự kiện lịch sử, từ các kỉ niệm của bản thân để xây dựng những mẩu chuyện mà lý lẽ là những lời kể, tả, phân tích, liên tưởng so sánh vừa logích, vừa bất ngờ thú vị từ đó hướng người đọc đến kết luận khái quát
Đây cũng chính là một cách lập luận thường gặp trong các đoạn văn của Nguyễn Khải Trong bài "Nghề văn cũng lắm công phu”, có đoạn: "Cuối năm 1950 tôi được trung đoàn cử đi dự lớp nghiên cứu văn nghệ Người phụ trách lớp là nhà văn Nguyễn Tuân, học viên là nhiều văn nghệ sĩ đã rất nổi tiếng và những cán bộ làm công tác quản lý… Lần đầu tiên tôi được biết mặt hai nhân vật nửa người nửa thần
là ông Nguyễn Tuân và ông Xuân Diệu… Ông Nguyễn Tuân năm đó mới bốn mươi tuổi nhưng văn nghiệp của
ông xem như đã hoàn tất… Những năm
về sau ông đã gần tám mươi, tôi đã xấp
xỉ sáu chục, tôi lại gọi ông là bác và xưng cháu thì ông nhìn tôi như ngạc nhiên lắm… cái lẽ thông thường là tôi không được phép xem ông như bạn, là thầy thì được là bạn thì tôi hỗn láo quá
" [7, 14 -15]
Đoạn văn trên được xây dựng từ một luận điểm là một mốc trong cuộc
đời nhà văn: Được đi dự lớp nghiên cứu văn nghệ (R1) Các luận cứ đưa ra gồm: + Luận cứ 1: Giới thiệu về lớp học: Người phụ trách lớp, học viên (p)
+ Luận cứ 2: Kể về cái lần đầu tiên của tôi (q)
+ Luận cứ 3: Kể về ông Nguyễn Tuân: Tuổi, sự nghiệp văn học, quan tâm đến tôi dù tôi không thể lý giải nổi (n)
+ Tuổi của tôi còn ít (n1) + Tài thì chưa có (n2)
R1
n
R2
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
+ Cách trò chuyện thì khúm núm,
nhạt nhẽo (n3)
+ Luận cứ 4: Cách xưng hô của tôi
đối với ông Nguyễn: Trước đây, bây giờ
(m)
Từ bốn luận cứ trên, tác giả bài viết
đã dẫn bạn đọc đến kết luận khái quát
về một cách ứng xử của nhân vật "tôi"
đối với các bậc thầy trong lịch sử văn
học: “Tôi không được phép là bạn thì
tôi hỗn láo quá" (R2) Có thể mô hình
hoá dạng lập luận này như sau:
Hình 3 2.4 Lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải nhiều khi được xây dựng từ các luận cứ là những lời kể, tả, nhận xét, liên tưởng, dẫn chứng sau đó dẫn dắt bạn đọc đi đến kết luận Kết luận này lại được tăng cường bằng các luận cứ sau nó nhằm tăng thêm sức thuyết phục cho lập luận ở loại lập luận này, kết luận nằm ở giữa đoạn, mối quan hệ giữa các luận cứ đầu với kết luận là mối quan hệ đi từ cụ thể đến khái quát, còn mối quan hệ giữa kết luận với các luận cứ sau lại từ khái quát đến cụ thể Với cách lập luận như vậy đã tạo cho kết luận một cơ sở vững chắc để thuyết phục người đọc Trong bài "Bạn mới ở Hạ Long" có đoạn: “Cái nghề và cũng là cái nghiệp của bọn tôi…Thế là tôi có ngay một hướng dẫn viên, một cán bộ của …người chơi được, tin được” [ 6, 397] Đoạn văn trên chứa một lập luận bao gồm các luận cứ sau: + Luận cứ 1: “Cái nghề… đã quên hết” (p) + Luận cứ 2: “Tôi rụt rè nói với anh phó phòng an ninh…không” (q) Từ 2 luận cứ này, tác giả rút ra kết luận: “Thế là tôi có ngay một hướng dẫn viên” (R) Kết luận này nối với hai luận cứ trên bằng kết tử “Thế là” Kết luận tiếp tục được chứng minh bằng các luận cứ sau nó là các lời kể về quê quán của hướng dẫn viên (n), quá trình học hành (m), tả về ngoại hình (g), nhận xét về hướng dẫn viên (h)… Có thể biểu diễn lập luận trên bằng mô hình sau:
Hình 4
Hay như trong đoạn mở đầu bài viết “Mùi khói rạ” có đoạn: “Tôi về xã M.L vào dịp cuối năm… Họ nắm tay nhau đi về cái lò gạch bỏ hoang, trong
ánh sáng lờ mờ của trăng đầu tháng, hai cái hình người rất trẻ ôm chặt lấy nhau gần như bất động trong cái mùi thơm nồng nàn của đống rạ cháy không thành ngọn lúc tối lúc đỏ gắt ở phía xa” [6, 421- 422]
Đoạn văn được bắt đầu bằng một kỉ niệm của bản thân tác giả: Về xã M L
R1
P1 P2 n1 n2 n1 m2 m3
R
R
p
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
Lý lẽ là những lời kể về việc phân công
chổ ở, kể về gia đình Huy mà tác giả
được đến ở, tả về không gian trên
đường, từ đó tác giả dẫn dắt đến một
kết luận: “Bất chợt mùi khói rạ ở đâu
đó ập vào đầy mắt quách quện, nồng
nàn thân thiết từ cái thời còn là trẻ con
rời nhà đi kháng chiến” (R) Kết luận
này là một dòng liên tưởng mang tính
hồi cố Để chứng minh cho kết luận vừa
nêu người viết đưa ra một dòng liên
tưởng khác “Lập tức tôi liên tưởng
ngay… phía xa” Đó là kỉ niệm với
Cường: Đi tuần, chờ người yêu của
Cường, tả về ngoại hình, thời nhỏ,
trang phục, cuộc gặp gở của Cường với
người yêu…
Đoạn văn trên được tổ chức theo
kiểu hỗn hợp quy nạp - diễn dịch Có
thể mô hình hoá dạng lập luận này
bằng mô hình 5:
Hình 5
Qua phân tích kiểu lập luận trong
đoạn văn trên, chúng tôi còn nhận thấy
cách sử dụng các dòng liên tưởng trong
tạp văn của Nguyễn Khải Ngay trong
một đoạn văn, liên tưởng vừa đóng vai
trò là lý lẽ, vừa đóng vai trò là kết luận khái quát cho cả đoạn Chính nhờ sự vận dụng các dòng liên tưởng một cách linh hoạt, bất ngờ, thú vị kết hợp với sự
đan xen của những lời kể, tả, tác giả dẫn dắt người đọc hướng đến vấn đề mà mình muốn nói một cách nhẹ nhàng mà chứa một lượng thông tin lớn
2.5 Lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải nhiều khi được tổ chức bằng đối thoại dưới hình thức phỏng vấn
ở loại lập luận này, người viết thường tự đưa mình vào tham gia đối thoại tranh luận, tự bộc lộ bằng rất nhiều lý lẽ sâu sắc Có khi câu hỏi và lời đáp cứ tiếp nối như cuộn xoắn, kết chuổi tạo nên sinh khí và lôi cuốn bạn
đọc Có khi hình thức phỏng vấn ấy lại
được dùng xen kẻ với các hình thức khác Và đằng sau cuộc phỏng vấn là một khoảng mở để người kể chuyện, nhân vật và bạn đọc cùng nghiền ngẫm chiêm nghiệm về lẽ đời, về thời cuộc, về thế hệ con người của hôm qua và hôm nay
Trong bài viết “Tính dối trá” [6, 329], Nguyễn Khải đã tổ chức lập luận bằng ba cuộc đối thoại: Cuộc đối thoại thứ nhất là giữa nhân vật tôi và anh S – một cán bộ tổ chức Vấn đề được nêu
ra là đánh giá về đội ngũ cán bộ trẻ trong tỉnh Cuộc đối thoại thứ hai là giữa nhân vật tôi và anh B - cấp trên của “tôi” và anh A Vấn đề được nêu ra
ở đây là ý kiến về bài thơ của anh P Tiếp nữa là cuộc đối thoại giữa nhân vật tôi với đồng chí chủ nhiệm là thường vụ Đảng uỷ còn rất trẻ, vấn đề
đặt ra là trên tỉnh họ có xì xào gì về chuyện ở dưới này hay không Ba cuộc
đối thoại với ba chủ đề khác nhau
r1
R
m
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
nhưng đều có một điểm chung là ẩn
đằng sau nó chính là sự dối trá Dù mục
đích của sự dối trá ấy là khác nhau: Để
lấy lòng người khác (đối thoại 1), nịnh
bợ cấp trên (đối thoại 2), nhằm che đậy
một sự thật (đối thoại 3) Nhà văn đã
không ngần ngại vạch rõ tính dối trá
của con người là không thể chấp nhận
được Nó có ảnh hưởng rất xấu đến sự
phát triển xã hội Mỗi đoạn đối thoại
được tổ chức lập luận theo cấu trúc diễn
dịch – quy nạp
Hay như trong bài viết “Đến một
nơi rất xa để được hiểu lại mình”, tác
giả đã sử dụng rất nhiều hình thức tổ
chức lập luận này Đặc biệt có đoạn viết
về buổi hẹn của chị Chu - đi với “chúng
tôi” thì những câu hỏi lời đáp như quện
chặt vào nhau và cứ thế cho đến hết cả
đoạn: “Chị Chu - đi có hẹn chúng tôi tới
thăm chị tại thư viện trường đại học
tổng hợp Mass, vì chị làm việc ở đó Chị
nói “Thư viện rất lớn, có rất nhiều sách
quan trọng” Tôi cười: “Nhưng chúng tôi
không biết tiếng Anh” “Có cả tiếng Việt”
Anh Lê Lựu hỏi: “Sách Tiếng Việt?”-
“Không có sách” Tôi hỏi “Báo Tiếng
Việt?” - “Không có báo”- “Cái gì bằng
tiếng Việt?” Chị đưa hai bàn tay lên rồi
lại cười: “Tôi không biết nữa” Lê Lựu
hỏi: “Tài liệu bằng tiếng Việt phải
không?” – “Đúng rồi tài liệu rất nhiều,
tài liệu của quân đội”- “Quân đội Mỹ?”-
“Không phải của quân đội giải phóng”
lại cười: “Của Vixi”” [6, 519]
Đoạn đối thoại này được tổ chức
theo kiểu móc xích- quy nạp Những
câu hỏi đáp nhằm dẫn dắt đến một
thông tin bất ngờ và đó chính là chủ đề
chính của đoạn: Tài liệu của quân giải
phóng đang cất giấu ở thư viện tại Mỹ
Có thể mô hình hoá dạng lập luận này như sau:
Hình 6
3 Qua việc khảo sát, phân tích đặc
điểm lập luận trong đoạn văn tạp văn của Nguyễn Khải, chúng tôi xin rút ra một số nhận xét khái quát sau:
3.1 Cách tổ chức lập luận trong tạp văn Nguyễn Khải đa dạng, biến hoá, với nhiều tầng lý lẽ: Có cách tổ chức theo kiểu diễn dịch, có cách tổ chức theo kiểu quy nạp, lại có cách tổ chức phối hợp diễn dịch - quy nạp, phối hợp quy nap - diễn dịch Giữa phần luận cứ
và kết luận có khi được nối kết với nhau nhờ các kết tử nhưng có trường hợp không có sự hiện diện của kết tử Tuy nhiên qua khảo sát chúng tôi nhận thấy cách tổ chức lập luận mà nhà văn Nguyễn Khải sử dụng chủ yếu ở thể loại tạp văn là kiểu hỗn hợp diễn dịch - quy nạp Số lượng là 170 đoạn trên tổng số
395 đoạn văn được khảo sát, tỉ lệ là: 43,3% Còn trong tạp văn của Tô Hoài thì đoạn văn thường ngắn và lập luận thường là đơn giản theo cấu trúc diễn dịch hoặc quy nạp
3.2 ở phần luận cứ, nhà văn đã sử dụng một hệ thống lý lẽ phong phú với
sự đa dạng trong hình thức biểu hiện:
Kể, tả, hồi ức, liên tưởng, suy diễn, suy ngẫm, nhận xét…Với cấu trúc trùng
điệp bao lấy nhau, A trong B, B trong
C Các lý lẽ nhiều khi không liên quan
đến nhau nhưng bằng tài dẫn dắt, tác giả đã hướng người đọc đi đến một kết luận chung và lúc đó bạn đọc mới nhận
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
ra sợi dây ngầm ẩn nối kết xuyên suốt
các lý lẽ với nhau Với cách lập luận
như thế độc giả dễ nhận thấy trong
đoạn văn tạp văn của Nguyễn Khải
chứa đựng hàm lượng tri thức lớn về
nghề nghiệp, về xã hội…đặc biệt là
những tri thức này lại được trình bày
thông qua sự trải nghiệm của nhà văn
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh
nhận xét: “Mỗi lần đọc Nguyễn Khải trí
khôn của mình cũng được mở mang
thêm một điều gì đó” [7, 30] Nhà
nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng:
“Muốn hiểu con ngừơi thời đại, những
cái hay cái dở của họ, đời sống tinh
thần của họ phải đọc Nguyễn Khải” [7,
30]
3.3 Phần kết luận trong lập luận
của Nguyễn Khải có những nét riêng
Thông thường người ta nhận ra phần
kết luận trong một lập luận là nhờ vào
các dấu hiệu hình thức như: Kết tử lập
luận, phép liên kết… Trong đoạn văn
tạp văn của Nguyễn Khải, người đọc
nhận ra được phần kết luận còn dựa
vào sự chuyển đổi của giọng văn Trong
những trang viết của mình, nhà văn sử
dụng nhiều giọng đan xen: Kể, tả, hồi
tưởng, phỏng vấn… Nhưng khi hướng
người đọc đi đến phần kết luận phần
lớn nhà văn chuyển sang giọng suy
ngẫm triết lý Do vậy ở thể loại tạp văn
thường xuất hiện một con người độc
thoại trầm ngâm suy ngẫm về nghề
nghiệp, về các vấn đề về đạo đức lối
sống với những day dứt nuối tiếc,
những trăn trở của bản thân người cầm
bút Nếu như ở thể loại truyện ngắn,
tiểu thuyết chất triết lý chủ yếu được thông qua hình tượng nhân vật thì ở thể loại tạp văn màu sắc triết lý chủ yếu biểu hiện bằng lời trữ tình ngoại
đề, với những dòng suy ngẫm, suy diễn, suy tưởng Có nhiều trường hợp phần kết luận, nhà văn để cho nhân vật phát biểu tự nói lên suy nghĩ của mình Từ
đó nhà văn đã khám phá thế giới tâm hồn của con người, rút ra được những suy ngẫm triết lý về cuộc đời và con người Chính kết luận là những dòng suy ngẫm này đã mang đến một sắc thái khác hẳn cho thể loại tạp văn Nó không chỉ mang đến một cách nhìn rạch ròi rõ rệt, một cái nhìn phê phán
tố cáo như mọi người vẫn nói mà đây còn là những xót xa đau đớn về sự buông tuồng của xã hội, là tiếng kêu thảm thiết về sự xuống cấp của những mối quan hệ giữa người với người và đôi khi là tiếng cười cay đắng về những khuyết tật rõ ràng đến thế mà không ai nói ra để tính chuyện thay đổi
3.4 Đặc điểm lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải là một vấn đề lý thuyết mới mẻ nhưng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Viết về tạp văn của Nguyễn Khải ở góc độ ngôn ngữ học là một hướng đi hứa hẹn nhiều điều thú
vị Kết quả nghiên cứu trên chỉ là bước
đầu, chúng tôi mong muốn ở những công trình quy mô và khoa học hơn với cái nhìn toàn diện và tổng thể về đặc
điểm lập luận trong các sáng tác của Nguyễn Khải Từ đó chắc chắn sẽ làm nổi bật phong cách của một cây bút hiện đại
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập II - Ngữ dụng học, NXB Giáo duc,
Hà Nội, 2001
[2] Đỗ Thị Kim Liên, Giáo trình ngữ dụng học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2005 [3] Hà Công Tài, Phan Diễm Phương, Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003
[4] Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập I, NXB Giáo dục, 2000
[5] Nguyễn Hữu Sơn, Đọc "truyện ngắn và tạp văn" của Nguyễn Khải, Báo nhân dân, (ngày 27-2-1999)
[6] Nhóm tác giả, Nguyễn Khải tạp văn, NXB Hội nhà văn, 2004
[7] Vương Trí Nhàn, Sổ tay truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 1998
SUMMARY Features of arguments in Nguyen Khai’s miscellanea
In this article, we proved that the arguments in Nguyen Khai’s miscellanea is shown in the construction of multistage, multiform, and in the main conclusions – lines of meditating, deducing, judging… which are characterized by the philosophy
of life and human Such argument brings the highly convincingness and contributes
to highlighting Nguyen Khai’s prose style
(a) Cao học 13 ngôn ngữ, Trường đại học vinh