1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Tìm hiểu phạm trù "Đạo"của Lão Tử" doc

6 694 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu phạm trù "Đạo" của Lão Tử
Tác giả Nguyễn Trường Sơn
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 95,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vô tiền khoáng hậu ở chỗ triết học của Lão Tử là hệ thống khái quát nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc trong đó phạm trù "đạo" là phạm trù cơ bản, phạm trù xuất phát để từ đó ông gi

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

Tìm hiểu phạm trù "Đạo"của Lo Tử

Nguyễn Trường Sơn (a)

trung tâm - nhất là phạm trù Đạo của Lão Tử Bài báo tập trung vào các nội dung: Đạo

là bản nguyên tạo ra thế giới; Đạo là quy luật vận động và phát triển của thế giới; Đạo là

"vô vi" Nghiên cứu nó một cách kĩ lưỡng có ý nghĩa rất lớn không chỉ về học thuật mà còn là tư liệu quý để sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị tham khảo

ão Tử (sống ở thế kỷ thứ V

tr.CN) là một hiện tượng đặc

biệt trong lịch sử triết học Trung Quốc

nói riêng cũng như triết học nhân loại

nói chung Đến nay chúng ta chưa biết

chắc chắn về cuộc đời, sự nghiệp của

ông, về tác phẩm bất hủ mang tên ông

thế nhưng tư tưởng triết học thì vô tiền

khoáng hậu Vô tiền khoáng hậu ở chỗ

triết học của Lão Tử là hệ thống khái

quát nhất trong lịch sử triết học Trung

Quốc trong đó phạm trù "đạo" là phạm

trù cơ bản, phạm trù xuất phát để từ đó

ông giải quyết vấn đề bản thể luận một

cách xuất sắc

1 Trong lịch sử triết học Trung

Quốc khái niệm "đạo" do Tử Sản tìm ra

đầu tiên với nghĩa là con đường Trong

Hán Ngữ Đại Từ Điển, chữ Đạo có 45

nghĩa và có đến 1291 từ kép Cùng với

sự phát triển của nhận thức thì nội hàm

của nó cũng được mở rộng: đạo là cái lí

phải theo như đạo làm người, đạo làm

vua, đạo làm tôi, đạo làm con hoặc chỉ

một học thuyết, một tôn giáo như đạo

Nho, đạo Phật… Trong suy tưởng triết

học và tôn giáo, đạo là nguyên tắc trật

tự có thể nhập hay hiện hữu trong

nhiều trường hợp hay sinh hoạt thực tế

Với Lão Tử đạo là tổ tiên của muôn loài

Trong tác phẩm "Đạo đức kinh" chữ

Đạo được nhắc đến 76 lần Khi bàn về vai trò của đạo, ông viết: "Đạo sinh ra

sử dụng nó không dư thừa Nó sâu xa tựa như tổ tông của vạn vật” [3, tr 82]; hoặc: "Đạo đức sinh ra Đức nuôi dưỡng

nó, vật là hình bóng nó, thế tạo ra nó Trong vạn vật không có gì là không theo

đạo và quý đức" Đạo chẳng những là bản nguyên sinh ra thế giới mà còn vô cùng trừu tượng Ông nói: "Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất Nó yên lặng (vô thanh), trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay

đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành khắp

vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là

mẹ của vạn vật trong thiên hạ" [1, tr 202] Cái bản nguyên đó vô sắc, vô thanh, vô hình nên không thể giảng

được, gọi tên được nhưng nó tràn ngập

vũ trụ; là nguồn gốc của vạn vật ở chương 14 ông viết: "Nhìn không thấy gọi là di, nghe không thấy gọi là hi, nắm không được gọi là vi, truy cứu đến cùng cũng không biết được gì chỉ thấy trộn lộn làm một ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có

Nhận bài ngày 24/10/2006 Sửa chữa xong 23/11/2006

L

Trang 2

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005

vật thể Nó thấp thoáng mờ mờ Đón nó

thì không thấy đầu, theo nó thì không

thấy đuôi" [1, tr 61] Do đó, ông không

biết tên nó là gì, tạm đặt tên là đạo Khi

đặt tên là đạo thì vô cái bản nguyên vũ

trụ đó không thể có cái tên nào diễn tả

được đầy đủ nội hàm của nó Vì vậy,

ngay ở chương 1 của tác phẩm "Đạo đức

kinh", ông viết: "Đạo khả đạo phi

thường đạo, danh khả danh phi thường

danh" [1, tr.161], nghĩa là: Cái đạo gọi

được là đạo thì không phải là đạo vĩnh

hằng; cái tên mà gọi được tên của nó thì

không phải là tên vĩnh hằng Xét ở một

khía cạnh nhất định điều đó cũng giống

như chúng ta đang đeo đuổi một cái gì

đó; khi chúng ta càng tiến gần tới thì nó

lại cách xa ta, càng đeo đuổi tưởng như

hụt hơi nhưng không chiếm lĩnh được,

ta cảm thấy nó vô cùng lớn lao, vĩ đại

Nhưng khi đã nắm bắt, chiếm lĩnh được

nó thì không còn có quan niệm như cũ

nữa

Dưới con mắt của người Trung Quốc

thời Ân, Chu thì Thượng đế là trên hết,

là Chúa tể sáng tạo ra muôn loài và

quyết định tất cả Với Nho gia Trời và

mệnh trời chi phối toàn bộ Khổng Tử

đã từng nói không hiểu mệnh trời

không phải là người quân tử Làm việc

gì (dù là ai) đã mắc tội với trời thì có

cầu đảo cũng vô ích Mặc Tử đưa ra học

thuyết "Phi mệnh", lên án gắt gao tư

tưởng thiên mệnh của Nho gia, đề cao

sự nỗ lực của con người Ông nói người

nào dựa vào sự nỗ lực của mình thì

sống, không dựa vào sự nỗ lực của mình

thì không sống Ông còn cho rằng

những người đi tuyên truyền, gieo rắc

tư tưởng thiên mệnh là những người

không có lòng nhân ái, chẳng qua cũng chỉ là những tên cướp ngày mà thôi Thế nhưng ông lại đưa ra tư tưởng

"Minh quỷ" để bắt buộc mọi người phải tuân theo học thuyết "Kiêm ái" Đó là một bước thụt lùi trong tư tưởng của Mặc Tử Với Lão Tử, ông phủ nhận hết thảy mọi Đấng sáng tạo và kết luận tất cả mọi sự vật hiện tượng đều do đạo sinh ra, và hơn thế đạo còn có trước và sinh ra Thượng đế Trong Chương 4 ông viết: "Ta không biết nó là con ai; có lẽ

nó có trước cả đế" [1, tr 169] Theo học giả Nguyễn Hiến Lê thì tư tưởng của Lão Tử là "một học thuyết vô thần" [1,

tr 67] Với luận cứ: "Cả bộ Đạo đức kinh, chương 4 là nhắc tới "đế" nhưng lại đặt "đế" dưới đạo Đạo có lẽ có trước Thượng đế nghĩa là sinh ra Thượng đế

Có nhiều chương ông dùng chữ "thiên" nhưng với nghĩa là vòm trời như chương 52: "Thiên hạ hữu thuỷ" (những vật ở dưới vòm trời đều có nguồn gốc là đạo), hoặc với nghĩa đạo trời như chương 5:

"thiên địa bất nhân" (đạo trời bất nhân); chương 79: "thiên chi đạo, bất tranh nhi thiện thăng" (đạo trời không tranh mà khéo thắng)" [1, tr 69]

Theo kết cấu lôgic triết học của Lão

Tử, đạo là thể thống nhất giữa có và không Ông nói "Cái gọi là không (vô danh) là khởi thuỷ của trời đất, cái gọi

là có (hữu danh) là mẹ đẻ của vạn vật Vì thế cái thường vô là muốn thấy được cái kì diệu của nó, cái thường hữu là muốn thấy cái phạm vi của nó Hai cái này cùng xuất hiện, nhưng lại khác nhau tên gọi" [3, tr 88] Như vậy, ở đây cái vô và hữu liên hệ chặt chẽ với nhau, cái này quy định chế ước cái kia, sinh ra

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005

cái kia Trong đó cái vô là cái có trước

và sinh ra hữu, quyết định cái hữu:

"Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh

tam, tam sinh vạn vật" Với mệnh đề

này theo chúng tôi, đạo của Lão Tử duy

tâm một trăm phần trăm

Đạo không chỉ là bản nguyên khởi

thủy mà còn mang tính vĩnh hằng

(thường) Trong vũ trụ không có cái gì

là không do đạo sinh ra Chúng là hiện

thân của đạo và khi chết đi lại quay trở

về với đạo Theo ông, "Vạn vật phồn

thịnh đều trở về căn nguyên của chúng

(tức đạo) Trở về căn nguyên thì tĩnh,

(tĩnh là bản tính của mọi vật), cho nên

trở về căn nguyên gọi là "trở về mệnh"

Trở về mệnh là luật bất biến (thường)

của vật Biết luật bất biến thì sáng

suốt, không biết luật bất biến thì vọng

động mà gây hoạ" [1, tr 188]

2 Đạo không chỉ là bản nguyên sinh

ra thế giới mà còn mang tính quy luật

Tất cả các sự vật hiện tượng trên thế

giới sinh thành, tồn tại và biến hóa đều

tuân theo quy luật của đạo: "Trong vũ

trụ có bốn cái lớn mà người là một

Người bắt chước đất, đất bắt chước trời,

trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự

nhiên" [1, tr 202] Nội dung của quy

luật là "phản, phục" "Luật vận hành

của đạo là trở lại lúc ban đầu, diệu

dụng của đạo là khiêm nhu" [1, tr 225]

với hai biểu hiện:

Thứ nhất, là tuần hoàn Đạo và vạn

vật ở trong trời đất do đạo sinh ra đều

biểu hiện những đặc điểm vận động

tuần hoàn lặp đi lặp lại Đạo "cường vi

chi danh viết đại, đại viết thệ, thệ viết

viễn, viễn viết phản" (nghĩa là đạo

mạnh thì gọi là lớn, lớn thì gọi là qua

đi, qua đi thì gọi là xa, xa gọi là phản, phản là ngược lại, quay trở lại) Bản thân đạo luôn luôn vận động theo một vòng tròn khép kín, hết vòng này đến vòng khác Vạn vật sản sinh, trưởng thành, hủy hoại đều theo những vòng tuần hoàn Vòng tuần hoàn đó là biểu hiện sự vận động của đạo: "Phản giả

đạo chi động" (phản hồi trở về ấy là hoạt

động của đạo) [1, tr 225]

Thứ hai, là chuyển hóa lẫn nhau Vạn vật trong trời đất đều được cấu tạo bởi hai mặt đối lập Hai mặt đối lập đó vừa trái ngược nhau, vừa liên hệ, tác

động qua lại lẫn nhau để sinh thành, biến hóa "Sự vật ôm âm cõng dương

Âm, dương luôn luôn thay thế vị trí cho nhau Âm thịnh thì dương suy và ngược lại Có và không; dài ngắn; cao thấp; phúc họa… luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau Có kết hợp với không thì sinh tồn; khó kết hợp với dễ thì thành đạt; dài kết hợp với ngắn; cao kết hợp với thấp thì sẽ không nghiêng lệch; âm kết hợp với thanh thì hài hòa; trước kết hợp với sau thì thuận theo" [3, tr 84] Có hay không, khó hay dễ, dài hay ngắn, mạnh hay yếu, cao hay thấp, tiền với hậu, họa với phúc… tất cả đều chuyển hóa lẫn nhau Những vận động cương nhu, vinh nhục, thắng thua, tiến thoái… đều như thế cả Hơn thế, trong từng mặt đối lập đã chứa đựng mầm mống của mặt đối lập với chính nó và còn là chỗ dựa của chính nó: "Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục" (Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ngầm chứa của họa) Sự chuyển hóa đó cũng tuân theo quy luật: "Tổn hữu dư nhi bổ bất túc" [1, tr 271] (Bớt chỗ dư

Trang 4

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005

thừa bù vào chỗ thiếu) Quá trình biến

hóa đó diễn ra như sau: "Đạo sinh nhất,

nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh

vạn vật" [1, tr 228] Cái gọi là "nhất"

ấy, là một trạng thái hỗn mang, chưa

phân ranh giới trước khi trời đất được

hình thành Từ một sinh hai, tức là

sinh ra trời đất hoặc âm dương Trời đất

và âm dương giao hòa sinh ra tam, từ

tam sinh ra vạn vật Trong hai mặt đối

lập đó, ông bao giờ cũng thiên về cái

"vô" và cái "nhược" Nếu cái có làm nên

sự vật thì cái vô mới làm nên cái dụng

của nó Làm cái bát, cái chén nếu không

có khoảng trống thì làm sao đựng được

thức ăn, nước uống; làm cái nhà không

có khoảng trống thì làm sao có chỗ để

đồ vật sinh hoạt Trong chương 11, Lão

Tử viết: "Ba mươi tay hoa cùng quy vào

một cái bầu nhưng chính nhờ khoảng

trống không trong cái bầu mà xe mới

dùng được Nhồi đất sét để làm chén

bát nhưng chính nhờ khoảng trống

không ở trong mà chén bát mới dùng

được Đục cửa và cửa sổ để làm nhà

chính là nhờ cái trống không đó mà nhà

mới dùng được Vậy ta tưởng cái có (bầu

xe, chén bát, nhà) có lợi cho ta mà thực

ra cái không mới làm cho cái có hữu

dụng" [1, tr 180] Ông còn ví khoảng

không giữa trời đất như cái bễ lò rèn,

nhờ cái bễ đó mọi vật mới vận động,

biến hoá: "Khoảng giữa trời đất như ống

bễ, hư không mà không kiệt, càng

chuyển động hơi lại càng ra" [1, tr 171]

Tư tưởng thiên về nhược của ông

biểu hiện rất rõ ràng: trên thế gian này

cái gì mềm mại thì sống và cường thịnh

"Con người ta khi sinh ra thì mềm yếu

mà khi chết thì cứng đơ Thảo mộc sinh

ra thì mềm yếu mà khi chết đi thì khô cứng Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loại với sống" [1, tr 113] Ông còn cho rằng: "Mộc cường tắc chiết, binh cường tắc diệt" (một cây gỗ mau lớn thì bị chặt, một nước binh cường thì sớm bị tiêu diệt) Trên thế gian này không có cái gì mềm hơn nước nhưng cũng không có cái gì mạnh hơn nước: "Trong thiên hạ cái cực mềm (là nước) chế ngự được cái cực cứng (đá), (vì nước xói mòn đá)" [1, tr 113] Nước biết chỗ cao thì tránh, biết chỗ thấp thì vào; nó điều hoà làm cho mọi vật tươi tốt Hơn thế nước còn biết nhường nhịn, không tranh giành với ai,

mà không tranh giành thì không bao giờ lầm lỗi "Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, ở chỗ mọi người ghét (chỗ thấp) cho nên gần với đạo" [1, tr 176) Từ đó ông đi tới kết luận: "Nhu nhược thắng cương thường" hoặc: "Nhược thắng cường, nhu thắng cương" [1, tr 113]

Từ tư tưởng cơ bản đã phân tích ở trên, ông đưa ra một tư tưởng mới để thúc đẩy sự vận động và phát triển của

sự vật (hiện nay trong y học cổ truyền vẫn ứng dụng để chữa bệnh) là: "Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã Muốn phế bỏ ai thì tất hết hãy đề cử họ lên

đã Hiểu như vậy là sáng suốt" [1, tr 218] Tất cả những vấn đề trên theo Lão

Tử là quy luật Quy luật đó mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào bất cứ cái gì: "Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm" [1, tr 171]

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005

Quy luật đó chi phối tất cả các sự vật

hiện tượng, không một cái gì thoát khỏi

quy luật đó Ông nói: "Thiên võng khôi

khôi sơ nhi bất thất" (lưới trời lồng lộng

thưa mà không lọt) [1, tr 266]

3 Đạo là vô vi Vô vi không phải là

không làm mà là không làm gì trái với

tự nhiên Trừ những cái không trái với

tự nhiên thì con người phải làm và làm

được tất cả Trong chương 37 ông viết:

"Đạo thường vô vi nhi vô bất vi" (đạo

vĩnh hằng thì không làm gì nhưng lại

làm tất cả) Đặc trưng của đạo là tự

nhiên, vô vi (thuận theo lẽ tự nhiên,

không làm gì cả) Hữu vi là những sáng

tạo của con người Vô vi và hữu vi hoàn

toàn trái ngược nhau Ông chủ trương

con người hãy thuận theo lẽ tự nhiên

của đạo, vứt bỏ mọi cái hữu vi thì tất cả

đâu sẽ vào đấy: "Tuyệt học vô ưu"

(chương 20: bỏ cái học đi thì không lo

sợ) và: "Tri bất tri thượng" (chương 71:

biết cái không biết là hơn hết) "Học bất

học" nghĩa là lấy sự không học làm học

Nếu làm được như vậy thì: "Không cần

ra khỏi cửa mà biết được (sự lí trong)

thiên hạ; không dòm ra cửa mà biết

được đạo trời Càng đi xa thì càng biết

được ít (vì chỉ biết được những hiện

tượng trước mắt thôi, biết được phần tử

không biết được toàn thể) Cho nên

thánh nhân không đi mà biết, không

nhìn mà thấy rõ, không làm mà nên" [1,

tr 103] và như vậy mới giúp được mọi

người trở về với đạo, giúp vạn vật phát

triển theo lẽ tự nhiên Trong cuộc sống

con người cần "tri túc" (biết đủ) bởi vì:

tri túc thì "tâm" luôn luôn vui vẻ, tự

bằng lòng với chính mình, không tranh

giành, đòi hỏi:

Tri túc tâm thường lạc Vô cầu phẩm tự cao

Thời kì Lão Tử sống là thời kì Chiến quốc Chiến tranh xảy ra liên miên, chẳng những chư hầu đánh nhau với chư hầu mà chư hầu còn đánh nhau với Thiên tử Các nhà tư tưởng ưu thời mẫn thế như Khổng Tử, Mặc Tử tìm mọi cách để cứu vớt thiên hạ bằng cách nhập thế Trong đó những tư tưởng nhân nghĩa, kiêm ái, thượng hiền luôn luôn được đề cao Tất cả những việc làm đó là hữu vi Với Lão Tử thì hoàn toàn khác: "Muốn trị thiên hạ mà hữu vi thì ta biết là không thể được rồi Thiên hạ là một đồ vật thần diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấp

được Hữu vi thì làm cho thiên hạ hỏng,

cố chấp thì làm mất thiên hạ" [1, tr 208] Từ đó ông chủ trương: "Không tôn trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cướp, không phô bày cái gì gợi lòng ham muốn để lòng dân không loạn Cho nên chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, tâm chí thì yếu (không ham muốn, không tranh giành), xương cốt thì mạnh Khiến cho dân không biết, không muốn

mà bọn trí xảo không hành động Theo chính sách "vô vi" thì mọi việc đều trị" [1, tr 168]; "Dùng đạo mà trị thiên hạ thì quỷ không linh; chẳng những quỷ không linh mà thần cũng không làm hại được người; chẳng những thần không làm hại người mà thánh nhân cũng không làm hại người Hai bên (một bên là quỷ, thần, thánh nhân một bên là người) không làm hại nhau, cho nên đức quy cả về dân" (chương 60)

Trang 6

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005

Nếu trị quốc theo đạo tự nhiên vô vi,

con người không can thiệp vào mà chỉ

theo lẽ tự nhiên; đồng thời ruồng bỏ

những bậc tài cao học rộng trở lại trạng

thái ít, nước nhỏ dân hèn; đưa xã hội

trở về trạng thái chất phác thật thà

không tranh giành, đố kị lẫn nhau có

thể làm cho trăm họ lạc nghiệp, xã hội

thái bình, thịnh trị

Tóm lại: Những nội dung trên đây là

những tư tưởng cơ bản về phạm trù đạo

của Lão Tử trong "Đạo đức kinh"

Những tư tưởng đó có thể chưa bao quát

đầy đủ những ý tưởng mà Lão Tử muốn gửi gắm lại cho hậu thế; nhưng phía chủ quan, tác giả bài báo mong muốn

đem lại cho người đọc - nhất là sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, những tri thức bổ ích trong quá trình học tập, nghiên cứu lịch sử triết học phương Đông; đặng góp phần tìm ra những nét đặc thù của nền triết học đó khi chưa có sự giao thoa, tiếp biến văn hoá giữa Đông và Tây

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử- Đạo đức kinh, NXB Văn hoá Thông tin, 2006

[2] Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử triết học Phương Đông, NXB Thành phố HCM, 1991 [3] Trương Lập Văn, Đạo- Lịch sử triết học Phương Đông, NXB KHXH, 1998

[4] Max Kaltenmark, (Phan Ngọc dịch), Triết học Trung Hoa, NXB Thế giới, Hà Nội,

1999

[5] Vũ Thế Ngọc, Lão Tử- Đạo đức kinh, NXB Lao Động, 2005

Summary

A study on Lao Tu’s TAO category

In the history of Chinese philosophy, TAO is a central category, especially, Lao Tu’ TAO category The following main contents are focused in the article: TAO is the origin of creating a universe; TAO is the universe’s law of motion and development; TAO is inaction (wu-wei)

Making a thorough study on it has both theoretical and practical significance The result of the study is a good reference for the students of Politics-Law Department

Ngày đăng: 23/07/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm