1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh" doc

8 592 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 136,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007Đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Nguyễn Quang Tuấn a Biểu Chánh: sử dụng đắc địa từ địa phương và lớp từ của khẩu ngữ; vận

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

Đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Nguyễn Quang Tuấn (a)

Biểu Chánh: sử dụng đắc địa từ địa phương và lớp từ của khẩu ngữ; vận dụng thành ngữ, tục ngữ linh hoạt, sáng tạo; tạo phong cách khẩu ngữ cho câu văn; bảo lưu những mặt tích cực của câu văn biền ngẫu; du nhập vốn từ ngoại lai Những đặc sắc này đã tạo nên phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, khẳng định đóng góp của nhà văn đối với sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

ồ Biểu Chánh được xem là một

trong những người mở đường và

có những đóng góp lớn cho sự hình

thành nền tiểu thuyết Việt Nam hiện

đại Trong những yếu tố đưa tới thành

công của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có

yếu tố phong cách ngôn ngữ ở bài viết

này, chúng tôi sẽ tập trung phân tích

những điểm đặc sắc trong ngôn ngữ tiểu

thuyết Hồ Biểu Chánh để góp phần lý

giải cái sức hút mạnh mẽ mà tác phẩm

của ông có được đối với độc giả một thời

1 Sử dụng đắc địa từ địa phương

và lớp từ của khẩu ngữ

Trước Hồ Biểu Chánh, nhiều nhà văn

Nam Bộ đã có công khai thác và đưa vốn

từ ngữ bình dân Nam Bộ vào trong địa

hạt văn học như một phong cách ngôn

ngữ Trong những truyện thơ Lục Vân

Tiên, Dương Từ-Hà Mậu, Ngư tiều y

thuật vấn đáp, Nguyễn Đình Chiểu đã

sử dụng những từ ngữ, những cách nói

sinh động của bản thân đời sống, của

ngôn ngữ dân gian Nam Bộ Trương

Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn

Trọng Quản… là những tác giả đầu tiên

dùng chữ quốc ngữ để viết văn xuôi Các

tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm ất Hợi

(1876), Chuyện khôi hài (1882) của

Trương Vĩnh Ký, Chuyện giải buồn

(1885) của Huỳnh Tịnh Của, Truyện

thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn

Trọng Quản… đã sử dụng lớp từ của khẩu ngữ khá linh hoạt và đạt hiệu quả cao Nếu như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản

là những người tiên phong đặt nền móng cho văn xuôi quốc ngữ thì Hồ Biểu Chánh là một trong những người làm cho văn quốc ngữ phong phú hơn

Ông chắt lọc lời ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào sáng tác của mình khá thuần thục

Về phương diện ngữ âm, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cho người đọc thấy được đặc điểm phát âm của người Nam Bộ Ông đã thể hiện một cách chân thật, sinh động cách nói năng của người dân miền Nam Nhà văn ghi lại các biến thể phát âm trong lời đối thoại của nhân vật Những biến thể phát âm này thường diễn ra ở bộ phận âm chính như bá nhựt (bá nhật), chác nghĩa (chuốc nghĩa), đờn cầm (đàn cầm), hưỡn bước (hoãn bước), hườn công (hoàn công), đờn ông (đàn ông), bất nhơn (bất nhân), nưng (nâng), huê (hoa), phước (phúc), hun (hôn), kiếng (kính), mơi (mai), bịnh (bệnh), vưng (vâng), chánh đáng (chính đáng), hiệp

ý (hợp ý), chính chiên (chính chuyên)…

Hồ Biểu Chánh cũng sử dụng những biến thể phát âm về phụ âm đầu như: day (quay), nhắm nhía (ngắm nghía),

Nhận bài ngày 05/12/2006 Sửa chữa xong 28/12/2006

H

Trang 2

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

hửi (ngửi), mắc (đắt), nhỏ mức (nhỏ

sức), hực hỡ (rực rỡ), giồi (dồi), chắt lót

(chắt mót), đôi tôi (thôi nôi), giọi (rọi),

giợt (lợt), guộn (cuộn), khoả (thỏa), lún

thún (lún phún), nhếu nháo (lếu láo),

vắn (ngắn), vồng (trồng), xăng xái (hăng

hái)…

ở phương diện từ vựng, độc giả gặp

rất nhiều từ ngữ được nhà văn sử dụng

phù hợp, phản ánh được đặc trưng nói

năng của người dân vùng đất cực Nam

Tổ quốc Đó là những từ chỉ cây cối, sản

vật gắn với một vùng sông nước mênh

mông: mắm, đước, bầu, tràm, dừa nước,

bông súng, cây còng, cây tra, đậu hũ,

đậu phộng, bánh ú, bông lường, bông

lồng đèn, bông vông, cá chẽm, cá hố, cá

ngác… Đó là các từ ngữ chỉ trạng thái,

tính chất, chẳng hạn: buồn nghiến, nằm

dàu dàu, ngồi chồm hỗm, đứng xớ rớ, đi

lầm lũi, nói mờ ơ, ngủ nhầu, ngó chằng

chằng, nhẹ hều, buồn hiu, lừ lừ, im re,

đứng dụ dự một hồi, ngồi ngó cững,

nước mắt nước mũi choàm ngoàm, ngồi

chim bỉm, mừng quýnh, chết điếng,

buồn so, tròn vìn, nín khe, mặt chừ bự,

ngó chừng xăn văn xéo véo, nằm không

cục cựa, râu lún thún, nhảy xoi xói…

Hồ Biểu Chánh cũng có những cách

diễn đạt hết sức Nam Bộ, với những

tình thái từ: nghen, hen, vậy ta, hôn,

há, chớ…; với những cách xưng hô: qua,

má, tía, thẩy, cổ, cỏn, thẳng, sắp nhỏ,

ảnh, chỉ, bả, ổng, tao, má nó, mầy, tao,

hắn, y, mình… và những ngữ khí từ đặt

ở cuối câu hoặc dùng để nhấn mạnh ý:

bất nhân hôn, dữ hôn, mắc giống gì, còn

ức nỗi gì, làm giống gì, thiệt chớ, nhiều

hôn, mà làm gì, biết hôn, được hôn,

nghe hôn, giàu giống gì, như vầy nè,

phải hôn, nghĩ nỗi gì…

Nhân vật trong tiểu thuyết của ông

là những con người Nam Bộ với những cái tên bình dị, chân chất, đặt theo thứ

và cách xưng gọi thứ kết hợp với tên: Hai, Ba, Tư, út…, Hai Liền, Hai Cam, Hai Phục, Ba Có, Ba Điệp, Ba Thời, Tư

Cu, Tư Kiến, Tư Đỏ, Tư Tiền, Năm Đào, Năm Kiêu, Sáu Lý, Sáu Quýt… Những con người đó gắn liền với tên ấp, tên làng, tên chợ, tên kênh rạch hết sức Nam Bộ: xóm Rạch, xóm Chí Hoà, xóm Củi, làng Bình Thạnh Đông, kinh Vĩnh

Tế, cầu Rạch Bần, cầu Ông Lãnh, cầu Khánh Hội, chợ Mỹ Lợi, chợ Giồng, chợ Lớn, chợ Đủi, chợ Gạo, chợ Gò Công, chợ Cần Thơ, chợ Bến Thành, chợ Thủ, cầu Kho, chợ Cầu Nổi Đó là môi trường để người dân Nam Bộ sinh sống với những ngành nghề gắn liền với quê hương sông nước miền Nam như chăn vịt, len trâu, nghề theo gánh xiếc rong, làm vườn, ruộng, rẫy, câu rê, lái tàu, chèo ghe…

Nhiều từ địa phương nếu không

được đưa vào một ngữ cảnh cụ thể thì

sẽ rất khó hiểu Có thể so sánh một số

từ địa phương trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với từ “phổ thông” để thấy

rõ điều đó: chác nghĩa = chuốc nghĩa, mang nghĩa; cháng = choáng; chau vau

= mất tinh thần, vẻ mặt như người mất ngủ; chạy tờ = báo cáo; chiết: sẻ, chia; chim bỉm = không nói, không có ý kiến, nín thinh; chừ bự: thụng mặt khi giận dữ; cừ ngạnh = cứng đầu, chống đối;

đáo để = tận đáy, tận cùng; đếm = mua

sỉ, bán sỉ; leo cheo = lời qua tiếng lại; lưng túc = thiếu thốn; mảng = chuyên chú; nhụt nhụt = không còn mới; tầm ruồng = lòng vòng, không có chủ đích; thả rều = đi dạo không có mục đích; trịt

= kéo xuống, xệ xuống; trộ trạo = trừng

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

trợn; ui ui = có mây che, không đủ ánh

sáng; vi kiến = vây cánh; viết não = viết

nháp; vúc vắc = múa tay, múa chân;

xẳng = nói nặng; xáng = thoáng; xốc =

đảo lộn để kiểm điểm; xọp = teo, xẹp; xơ

xải = xơ xác, tơi bời; xạc lơ = không

nhiệt tình; tửng = sang lại…

Ngôn ngữ bình dân trong tiểu

thuyết của Hồ Biểu Chánh giản dị

nhưng không kém phần độc đáo Các từ

láy vừa có tác dụng gợi thanh, gợi hình,

vừa diễn tả được tâm tư, tình cảm của

nhân vật Những từ láy được Hồ Biểu

Chánh sử dụng trong tiểu thuyết

thường xuất hiện dưới dạng phó từ,

động từ Trong khi sử dụng từ láy, để

tăng thêm tính hình tượng, sinh động

và cụ thể trong việc miêu tả ngoại hình,

tâm lý, tính cách nhân vật, Hồ Biểu

Chánh đã dùng những từ láy tư điệp

âm Lớp từ này xuất hiện với tần số khá

cao, chưa xuất hiện trong các từ điển

tiếng Việt phổ thông như lu ầm lu ì, ní

na ní nần, rấm ra rấm rít, lao nhao lố

nhố, dấp dính dấp dưởi, hun trơ hút

trất, xăng văng xéo véo, xí xô xí xào,

lăng nhăng lít xít, bù xa bù xích, chộn

rộn chàng ràng, chết ngắt chết ngỏm, bè

hè bặc hặc, lững thững lờ thờ… Những

từ láy nói trên thể hiện rất rõ tính chất

phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh

Đưa từ địa phương và lớp từ của

khẩu ngữ vào sáng tác văn học là một

đặc điểm chung của văn xuôi quốc ngữ

đầu thế kỷ XX Đây là một thao tác tất

yếu của văn học giai đoạn giao thời từ

trung đại chuyển sang hiện đại Văn

học hiện đại Việt Nam đã dần dần từ bỏ

cách sử dụng ngôn ngữ sang trọng, đài

các, khuôn mẫu của văn học trung đại

để đi đến cách viết tự nhiên, bình dị,

gần gũi với nhân dân lao động Cùng với nhiều nhà văn khác, Hồ Biểu Chánh

đã khai thác tối đa lớp từ khẩu ngữ Nam Bộ, không những dùng trong lời

đối thoại của các nhân vật mà cả trong lời thuật truyện, mô tả của tác giả Sự xuất hiện của lớp từ khẩu ngữ đã làm cho tiểu thuyết của ông có sự gần gũi, quen thuộc với công chúng bình dân Các nhà nghiên cứu đã lập bảng kê những từ ngữ thường dùng trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh để độc giả

“có được một nhịp cầu ngôn ngữ với quá khứ và có thể phát triển nó cho tương lai” [2, 305] Do ông sáng tác nhiều mà dấu ấn ông để lại trên phương diện này

có đậm hơn so với những nhà văn Nam

Bộ cùng thời Hiển nhiên, không thể không xem đây là một đóng góp quan trọng của Hồ Biểu Chánh đối với văn học (trước hết là tiểu thuyết) đầu thế kỷ

XX, dẫu rằng trong việc sử dụng lớp từ khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh chưa đạt tới

sự thành thục khéo léo như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân sau này…

2 Vận dụng sáng tạo thành ngữ, tục ngữ

Hồ Biểu Chánh khi viết tiểu thuyết

đã dùng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ Nhà văn vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo Nhờ vậy, việc ghi lại cuộc sống của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết của ông vừa hình tượng, vừa khái quát, hấp dẫn và có sức thuyết phục cao Hồ Biểu Chánh có nhiều cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Có khi nhà văn sử dụng thành ngữ ở dạng nguyên bản, không thay đổi, thêm bớt Ví dụ: mẹ góa

Trang 4

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

con côi, quả báo nhãn tiền, no cơm ấm

áo, trôi sông lạc chợ, đền ơn đáp nghĩa,

nước đổ lá môn, khắc cốt ghi tâm, an cư

lạc nghiệp, tan xương nát thịt, ngậm

đắng nuốt cay…

Kết cấu của thành ngữ vốn “chặt chẽ

như nắm đấm”, do vậy, khi sử dụng nó,

người ta thường dùng liền một khối

Nhưng trong nhiều trường hợp, Hồ Biểu

Chánh lại sử dụng khá biến hoá Ông

tách thành ngữ ra từng bộ phận, đảo vị

trí hoặc xen vào những yếu tố phụ để

nhấn mạnh ý nghĩa của thành ngữ, tục

ngữ Chẳng hạn:

- “Họ cũng liệu cơm mà gắp mắm

chứ” (Một đời tài sắc)

- “Từ ấy về sau vợ chồng Quảng Giao

ở với nhau mặt càng yêu lòng càng mến,

tình càng mặn, nghĩa càng nồng, trên

dưới thuận hoà, trong êm ngoài ấm”

(Một chữ tình)

- “Hay là khiến cho gái hồng nhan

phải dày gió dạn sương” (Ngọn cỏ gió

đùa)

- “Đàm Tự Chấn nghe nói chuyện đó

thì ông giận, Kim Diệp làm con gái

không biết trọng danh tiết, cha mẹ

không định mà giám trộm nhớ thầm

yêu con trai, bởi vậy ông cau mày xụ

mặt” (Ngọn cỏ gió đùa)

Một điểm mới của Hồ Biểu Chánh

khi dùng thành ngữ là nhà văn đã cải

biến cách phát âm đối với nhiều từ

trong đó để chúng phù hợp với phương

ngữ Nam Bộ (cũng có thể trong phương

ngữ này, nhiều thành ngữ đã có hình

thức như thế, giờ được ông sử dụng lại -

dù sao đây cũng cần được xem là một sự

lựa chọn hợp lý) Một số thành ngữ được

cải biến cách phát âm: tu nhơn tích đức

(tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn

(nhắm mắt đưa chân), phú quý vinh

huê (phú quý vinh hoa), tâm đầu ý hiệp (tâm đầu ý hợp), cải tử huồn sinh (cải tử hoàn sinh)… Không chỉ cải biến cách phát âm đối với nhiều từ trong thành ngữ, Hồ Biểu Chánh còn tiến hành sự thay thế từ vựng: ghẹo nguyệt giỡn hoa (ghẹo nguyệt trêu hoa), nghèo cho sạch, rách cho thơm (đói cho sạch, rách cho thơm), chuột sa hũ nếp (chuột sa chĩnh gạo), xót ruột bầm gan (bầm gan tím ruột), dàu sương gội nắng (dầm sương dãi nắng), góp gió làm bão (góp gió thành bão), ham phú phụ bần (tham phú phụ bần), nâng khăn sửa tráp (nâng khăn sửa túi)…

Có thể nói, việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong văn học Việt Nam truyền thống mới chỉ diễn ra ở thơ và truyện thơ Nôm Tiểu thuyết Việt Nam trung

đại chủ yếu viết bằng chữ Hán, các tác giả không thể sử dụng tục ngữ, thành ngữ Việt Đến đầu thế kỷ XX, tục ngữ, thành ngữ đã được dùng trên địa hạt văn xuôi chữ quốc ngữ Hồ Biểu Chánh

là một trong những người đã vận dụng thành công tục ngữ, thành ngữ vào sáng tác của mình

3 Tạo phong cách khẩu ngữ cho câu văn

Việc sử dụng nhiều từ của khẩu ngữ

và từ địa phương trong tác phẩm là một trong những điều kiện quan trọng giúp nhà văn có được sự cách tân ở câu văn Bàn về văn phong của Hồ Biểu Chánh, Thanh Lãng cho rằng ông là người đầu tiên làm cách mạng vì đã đập vỡ khuôn khổ văn chương đài các đương thời Nhận định này là đúng nếu đem so sánh văn Hồ Biểu Chánh với lối văn trang trọng của các tác giả miền Bắc lúc bấy giờ Đây cũng chính là một cách

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

phản ứng của Hồ Biểu Chánh đối với

những hình thức ngôn ngữ vốn có trong

văn học cổ, thường gắn liền với chữ

Hán, có nhiều điển tích, điển cố mang

tính ước lệ và là cách thể hiện ý thức

dân tộc trong việc bảo vệ tiếng nói dân

tộc chống lại âm mưu Pháp hoá của

thực dân Pháp

Trước khi tiểu thuyết Hồ Biểu

Chánh ra đời, các tác giả của Nam Bộ

đã bắt đầu có ý thức viết câu văn xuôi

gần với khẩu ngữ hàng ngày của nhân

dân Các câu sử dụng phần lớn là từ

thuần Việt khá nôm na Nhờ báo chí

phát triển, phong trào dịch thuật tiểu

thuyết phương Tây ngày càng rầm rộ

nên câu văn xuôi tiếng Việt không

ngừng thay đổi theo chiều hướng diễn

đạt rõ ràng, đầy đủ và chính xác hơn

Hồ Biểu Chánh đã viết những câu văn

giản dị, tự nhiên, bình dân để thể hiện

sắc nét hơn tính cách bộc trực, mạnh

mẽ, đôn hậu, thẳng thắn, “ăn mặn nói

ngay”, nghĩ sao nói vậy, không che đậy,

ngụy trang… của con người Nam Bộ

Một ví dụ tiêu biểu là đoạn đối thoại

giữa Ba Thời với chồng:

- “Ban đầu má nó hỏi:

- Mấy năm nay mình đi làm ăn khá

hay không?

- Sao lại không khá

- Khá sao không về, bỏ tôi ở nhà khổ

hết sức vậy?

- Về làm giống gì?

- Như mình đi mình tính không về,

thời hồi đó dắt tôi đi theo, chớ sao lại bỏ

tôi lưu vong ở nhà vậy

- Mầy ở nhà sướng hòng chết, còn ức

nỗi gì?

- Mình đừng có nói vậy Sướng giống

gì? Tôi biết hết; mình mắc dắt con vợ bé

bên Cần Đước đi với mình, nên không chịu dắt tôi đi chớ gì

- ừ, tao dắt vợ bé đi đa, mầy làm sao tao?

- Nói chuyện mà nghe vậy chớ ai làm sao mình được

- Tao đi, mầy ở nhà có được một đứa con, còn ức hiếp gì nữa mà nói” (Cay

đắng mùi đời)

Có thể nói, nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của còn dò dẫm bước đi với những câu văn xuôi quốc ngữ mộc mạc, thô kệch, nếu Nguyễn Trọng Quản còn ngượng nghịu khi vận dụng kỹ thuật viết tiểu thuyết theo lối Tây phương thì

Hồ Biểu Chánh đã có những bước đi vững vàng, vừa Tây hoá kỹ thuật viết văn, vừa bảo tồn sắc thái ngôn ngữ địa phương, dân tộc Những cố gắng cách tân của ông đã đưa ngôn ngữ đậm phong cách khẩu ngữ trở thành ngôn ngữ văn chương

4 Bảo lưu những mặt tích cực của câu văn biền ngẫu

Chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ

điển, Hồ Biểu Chánh nhiều lần sử dụng câu văn biền ngẫu Nhà văn đã tạo nên cách diễn đạt súc tích, kiệm lời, có nhịp

điệu cân đối, tạo nên vẻ đẹp đối xứng hài hoà, phù hợp với thẩm mỹ phương

Đông Hồ Biểu Chánh sử dụng câu văn biền ngẫu ở ba khía cạnh chính là: tả cảnh, khắc họa ngoại hình nhân vật và thể hiện tâm trạng nhân vật Những lời văn có đối, có vần tự nhiên, lưu loát là một trong những yếu tố tạo ra sức hấp dẫn của tác phẩm Hồ Biểu Chánh Đọc tiểu thuyết của ông, ta gặp những câu văn tả cảnh, tả vật, sự việc nghe rất êm

đềm, du dương

Trang 6

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

- “Gió thổi hiu hiu, trăng soi vằng

vặc, hoa đơm chớm nở, lá giũ lào xào

Trăng chào hoa trăm đoá hữu duyên,

hoa mừng trăng một vừng tỏ rạng” (Đoá

hoa tàn)

- “ở chung quanh chợ Tân Châu nhà

nào cũng sửa soạn đốt đèn sập cửa,

người lo ôm củi vào bếp, kẻ lo đuổi gà

vào chuồng, đầu này inh ỏi giọng mẹ

hát ru con, đầu nọ ngâm nga tiếng học

trò đọc sách” (Chúa tàu Kim Quy)

Hồ Biểu Chánh đã sử dụng những

câu văn cầu kỳ, trau chuốt để miêu tả

ngoại hình nhân vật, chẳng hạn: “Một

người mỹ nữ, chừng mười tám, mười

chín tuổi thủng thẳng bước ra, mình

mặc một bộ đồ lụa trắng, chơn mang

một đôi dép da đen, môi đỏ như thoa

son, da trắng như dồi phấn, mặt sáng

rỡ như hoa tươi, tóc láng mướt như

huyền giồi” (Đoá hoa tàn) Ngay cả khi

miêu tả tâm trạng nhân vật, lời văn

trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

cũng nhịp nhàng đăng đối, lên bổng

xuống trầm Ví dụ:

- “Có nhiều khi canh khuya trò

chuyện, có nhiều lúc dưới nguyệt nhìn

nhau, trai bát ngát lòng vàng, gái ngẩn

ngơ dạ ngọc, sóng tình dồi dập, biển ái

mênh mông, chàng không thể dằn lòng

được, muốn mở miệng ép liễu nài hoa”

(Vì nghĩa vì tình)

- “Thủ Nghĩa tay nắm chèo, chơn

kềm lái, chí tang bồng khấp khởi với

dòng xanh, nhớ chuyện cũ, tính đường

đi, lòng ân oán chập chồng như non cả

… Mắt trông trời cao ngậm ngùi nhớ ơn

cha nghĩa mẹ, tai nghe sông bủa đau

đớn thay mối thảm đoạn sầu, ngồi dưới

tàu mà lòng dạ ở Tân Châu, trong tàu

chứa bạc hai ngàn nén, vàng hơn một

ngàn thoi mà lòng ảo não khác chi người bạch thủ” (Chúa tàu Kim Quy) Lối văn biền ngẫu trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu hay được nhìn nhận một cách tiêu cực Thật ra, tính thẩm mỹ của nó không phải là không có, nếu nó được khảm một cách khéo léo vào giữa dòng văn diễn đạt theo lối tự nhiên, bình dị Chính trong các sáng tác mẫu mực của Nguyễn Tuân sau này, câu văn biền ngẫu thỉnh thoảng vẫn trở về và gây được mỹ cảm tốt Tuy nhiên, nếu sử dụng quá nhiều câu văn biền ngẫu, tác phẩm dễ trở nên khuôn sáo, chú trọng vẻ đẹp hình thức réo rắt du dương mà làm hại nội dung tư tưởng và diễn tả sai lệch bản chất của hiện thực được phản ánh Có lẽ ý thức được điều đó nên càng về sau, Hồ Biểu Chánh càng ít dùng câu văn biền ngẫu mà chú tâm trau dồi một lối văn hiện đại, bình dị

5 Du nhập vốn từ ngoại lai Ngôn ngữ là một sản phẩm có tính xã hội, qua ngôn ngữ tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh, chúng ta sẽ thấy được một xã hội Nam Bộ những thập niên

đầu thế kỷ XX Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của đất nước về phía Nam, nằm trọn vẹn trong lưu vực của sông

Đồng Nai và sông Mê Kông Người Việt

đến khai phá vùng đất này vào khoảng thế kỷ XVI Cuối thế kỷ XVIII, Mạc Cửu đem người Trung Quốc vào lập nghiệp ở Hà Tiên Người Khơ me đến khai phá vùng này vào thế kỷ XVIII Còn người Chăm thì đến định cư ở đây vào thế kỷ XIX Nam Bộ lại là nơi đầu tiên chịu sự thống trị của người Pháp Như vậy, nói đến nền văn hoá Nam Bộ

là nói đến sự giao thoa văn hoá giữa hai

Trang 7

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

nền văn hoá phương Đông và phương

Tây Nam Bộ cũng là vùng văn hoá có

nhiều tôn giáo tín ngưỡng cùng đan xen

tồn tại Ngoài các tôn giáo lớn ở nước

ngoài du nhập vào như Phật giáo, Thiên

chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo, Nam Bộ

còn có các tôn giáo tín ngưỡng địa

phương như Cao Đài, Hoà Hảo…

Bằng phương tiện ngôn ngữ, Hồ

Biểu Chánh đã xây dựng lên một xã hội

giao thời với đầy đủ mọi hạng người

trong xã hội, với những lối sống, cách

sống, những tập tục của cả thôn quê lẫn

thành thị Nam Bộ Hồ Biểu Chánh đã

ghi lại những cái hay, cái đẹp cũng như

chỉ ra những mặt trái, sự xấu xa của xã

hội Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

chúng ta được sống lại với những khung

cảnh, sinh hoạt hàng ngày của mọi tầng

lớp người trong xã hội Đó là những bác

sỹ, văn sỹ, ký giả, thầy lang, thầy

thuốc, thầy dây thép, thầy thông, thầy

ký, ông cò, ông cò tàu, nhà buôn, thợ

may, người bán rong, trẻ bán vé số, xếp

ga, cai ngục, thầy bá, thầy tướng, biện

lý, chưởng khế, mái chín, bác vật, chệc

khách, chà và, cu ly, quan kinh lý, quan

trường tiền, chánh bố, chánh tổng, ông

phủ, tá điền, điền chủ, hương bộ, hương

sư, hương quản, cai tuần, chúa tàu,

từng khạo, đà công, trạo phu, kẻ trộm,

kẻ cướp, gái giang hồ…

Trong quá trình viết tiểu thuyết Hồ

Biểu Chánh đã góp phần làm phong

phú, làm giàu thêm cho vốn từ vựng

của ngôn ngữ dân tộc Đó là kết quả tự

nhiên của sự giao lưu giữa các nền văn

hoá Hồ Biểu Chánh đã Việt hoá những

từ ngữ nước ngoài vào câu văn một cách

linh hoạt Đó có thể là những từ xưng

hô: toa, moa, mông xừ, ma đam, sốp

phơ, đốc tơ, nị, ngộ, momcher, ma

femme, khách, còm mi, chệc, chệc khách, chà Chetty, chà và, cặp rằn… Đó

là những từ chỉ vật dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày: canô, cam nhông,

cà ra hoách, cà vạt, đèn pha, hộp số, ghế tônê, ghế xa lông, giấy săng, location, măng sông, ma nhê tô, mề đay, mu soa, pyjima, su dê, tút xơ, bu ri, bê rê, bành tô, mề đay, đrap Đó là những từ chỉ thức ăn, đồ uống, thuốc chữa bệnh: xúc xích, sô đa, sâm banh, sa bô chê, ram bon, pa tê, lave, ký ninh, măng, lu cu ma… Hồ Biểu Chánh cũng hay dùng một số từ thông dụng khác: bót, đíp lôm, đít cua, ríp lê, xẹt, lon ton, măng

đa, séc, ma rông, mốt, nôte, phắt tơ, tơ nít, tút xo, vecni…

Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, độc giả hiểu được quá trình giao lưu, tiếp xúc giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước phương Tây trên bình diện ngôn ngữ, qua những từ ngữ ngoại nhập mượn từ Hán tự, Hoa ngữ truyền khẩu

và Pháp ngữ phiên âm Có thể nói, ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp, thúc

đẩy quá trình giao lưu văn hoá của các quốc gia Hồ Biểu Chánh đã có đóng góp tích cực cho quá trình bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc, làm phong phú và giàu thêm hệ thống ngôn ngữ của người Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX

Nhìn chung, toàn bộ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là một bức tranh truyền thần bằng chữ hết sức sống động và chính xác về cuộc sống và phong tục của người dân Nam Bộ Từ tâm lý, tính cách, diện mạo của nhân vật đến khung cảnh sinh hoạt, môi trường sống của con người, tất cả đều được thể hiện qua những từ ngữ và cách nói rất riêng của nhân dân Nam Bộ Ông không chỉ xác

Trang 8

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007

lập được chỗ đứng riêng cho mình trong

lòng độc giả mà còn góp công rất lớn vào

việc tạo nên truyền thống văn học riêng

cho miền đất cực Nam của Tổ quốc

Truyền thống đó đã được các nhà văn

thế hệ sau như Phi Vân, Bình Nguyên

Lộc, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,

Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Lê Văn Thảo, Dạ

Ngân, Nguyễn Ngọc Tư, Trầm Nguyên

ý Anh, Nguyễn Thị Diệp Mai… tiếp nối làm nên những tác phẩm đặc sắc được công chúng cả nước quan tâm, tìm đọc

Ông, cùng với họ, đã thực sự cho thấy vai trò, vị trí của văn học Nam Bộ ở quá khứ cũng như hiện tại là rất quan trọng

Tài liệu tham khảo [1] Nguyễn Khuê, Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1998 [2] Trang Quan Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở (chủ biên), Hồ Biểu Chánh - người

mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh,

2006

[3] Website http://www.hobieuchanh.com

Summary

Language distinctions of Ho Bieu Chanh’s novels

In this article, we’d like to mention language distinctions of Ho Bieu Chanh’s novels: propitious use of dialect and spoken language; flexible and creative use of idioms and proverbs; spoken language style used in sentences; strong point’s reservation on parallel constructions; borrowed words imported These distinctive features create Ho Bieu Chanh’s own style in his novels, affirming his contribution to the establishment and development of modern Vietnamese novels

Ngày đăng: 23/07/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm