Có một số thông tin về lợn Kiềng Sắt là có khả năng thích nghi cao với ñiều kiện khí hậu miền núi, chống chịu bệnh tốt, sử dụng hiệu quả các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng và có chất
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, đại học Huế, Số 64, 2011
đÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI KIỀNG SẮT
Ở TỈNH QUÃNG NGÃI
Hồ Trung Thông, đàm Văn Tiện Trường đại học Nông Lâm, đại học Huế
đỗ Văn Chung
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi
TÓM TẮT
Nghiên cứu này ựã ựược tiến hành nhằm ựánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt trên ựịa bàn tỉnh Quảng Ngãi Tổng số 15 con lợn cái và 3 con lợn ựực Kiềng Sắt ựược bố trắ trên 3 trang trại thắ nghiệm, trong ựó mỗi trại có 5 lợn cái và 1 lợn ựực Lợn nái Kiềng Sắt ựược theo dõi các chỉ tiêu sinh sản qua 3 lứa ựẻ (lứa 1 - 3) Kết quả cho thấy lợn nái Kiềng Sắt
có tuổi ựộng dục lần ựầu ở 146,87 ngày tuổi Trọng lượng cơ thể khi ựộng dục lần ựầu là 9,77
kg Chu kỳ ựộng dục của lợn nái Kiềng Sắt là 21,07 ngày, thời gian kéo dài ựộng dục trung bình
là 4,84 ngày Khi ựộng dục lợn nái thường có biểu hiện không rõ ràng và yên tĩnh hơn so với một số giống lợn khác Mỗi năm lợn nái Kiềng Sắt ựẻ khoảng 1,96 lứa Số con ựẻ ra trên lứa tăng dần từ lứa 1 ựến lứa 3 Trọng lượng sơ sinh trung bình là 408,15 g/con và không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các lứa ựẻ Tỉ lệ lợn con sơ sinh sống sau 24 giờ khoảng 95,63%
Tỉ lệ lợn con cai sữa so với thời ựiểm 24 giờ sau khi sinh ựạt 100% Trọng lượng lợn con khi cai sữa ở 59,73 ngày tuổi là 3,76 kg/con
Từ khóa: lợn Kiềng Sắt, lợn bản ựịa, sinh sản
1 đặt vấn ựề
Trong những năm gần ựây, ựời sống của người dân ngày càng ựược cải thiện và nâng cao, do ựó nhu cầu về các sản phẩm thịt, trong ựó có thịt lợn ngày một tăng về số lượng và chất lượng Yêu cầu về thịt lợn sạch và chất lượng cao trên thị trường là yếu tố thúc ựẩy ngành chăn nuôi lợn chuyển dịch sang hướng phát triển mới Các giống lợn nạc cao sản ựã và ựang ựược ựưa vào thực tiễn sản xuất để phát huy tối ựa giá trị của giống lợn này, cần phải áp phương thức chăn nuôi thâm canh cao, ựáp ứng ựầy ựủ nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai ựoạn phát triển con vật, thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh, Trong khi ựó, chăn nuôi lợn ở nước ta chủ yếu theo phương thức truyền thống, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở ựịa phương Vì vậy, việc sử dụng các giống bản ựịa với các ưu ựiểm như khả năng thắch ứng tốt với môi trường và phù hợp với tập quán chăn nuôi của người dân ựịa phương sẽ góp phần thúc ựẩy phát triển kinh tế ở những vùng khó khăn, ựồng thời phục vụ cho công tác bảo tồn ựa dạng sinh học vật nuôi
Trang 2Lợn Kiềng Sắt là lợn bản ñịa ở Quảng Ngãi Có một số thông tin về lợn Kiềng Sắt là có khả năng thích nghi cao với ñiều kiện khí hậu miền núi, chống chịu bệnh tốt,
sử dụng hiệu quả các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng và có chất lượng thịt cao, … Tuy nhiên, cho ñến nay vẫn chưa có nghiên cứu ñồng bộ nhằm ñánh giá ñặc ñiểm sinh học của chúng Chính vì vậy, nghiên cứu này ñã ñược thực hiện nhằm ñánh giá năng suất sinh sản của lợn Kiềng Sắt ðây là dữ liệu quan trọng phục vụ cho việc ñánh giá giá trị sinh học, từ ñó làm cơ sở cho việc nghiên cứu và ứng dụng sau này
2 ðối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 ðối tượng nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu là lợn Kiềng Sắt ñược theo dõi từ giai ñoạn hậu bị và qua
3 lứa ñẻ (lứa 1 – 3) Lợn thí nghiệm có trọng lượng dao ñộng từ 6 – 7 kg/con (khoảng 4 tháng tuổi), ñược mua tại các xã thuộc 2 huyện Ba Tơ và Sơn Tây Sau ñó, lợn ñược nuôi nhốt tập trung tại Trung tâm của 2 huyện này từ 3 – 5 ngày ñể tiêm phòng các loại vắc xin (vắc xin tam liên ñể phòng các bệnh dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng và vắc xin lở mồm long móng) Sau khi tiêm phòng 7 ngày và làm các thủ tục kiểm dịch thú y, lợn ñược ñưa về 3 trang trại thí nghiệm ñể tẩy ký sinh trùng và nuôi chuẩn bị ñể làm quen với thức ăn trong thời gian 5 ngày trước khi thu thập số liệu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
ðể nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản, tổng số 15 con lợn cái và 3 con lợn ñực Kiềng Sắt ñược bố trí trên 3 trang trại thí nghiệm, trong ñó mỗi trại có 5 con lợn cái và 1 con lợn ñực Lợn nái Kiềng Sắt ñược theo dõi các chỉ tiêu sinh sản qua 3 lứa ñẻ (lứa 1 – 3) Lợn thí nghiệm ñược nuôi bán thả trong các ô có diện tích 100m2 vàñược ñánh số tai
ñể theo dõi cá thể Trong thời gian ñẻ và nuôi con, lợn nái ñược nuôi ở các ô riêng biệt Chế ñộ nuôi ñược áp dụng là cho ăn hạn chế ñối với thức ăn tinh với khẩu phần gồm cám gạo, bột sắn, bột ngô, gạo và mắm cá Thức ăn xanh gồm rau lang, cỏ voi và cỏ Setaria ñược cho ăn theo chế ñộ bán tự do Lợn ñược cung cấp nước uống tự do và nước sạch ñể tắm Lợn ñược cho ăn 2 lần/1 ngày Các chỉ tiêu sinh sản theo dõi bao gồm tuổi ñộng dục lần ñầu, trọng lượng cơ thể khi ñộng dục lần ñầu, thời gian ñộng dục, chu kỳ ñộng dục, thời gian mang thai, thời gian ñộng dục trở lại sau cai sữa, số con sơ sinh/ổ,
số con còn sống sau 24 giờ/ổ, số con cai sữa/ổ, trọng lượng sơ sinh/con, trọng lượng sơ sinh/ổ, thời gian cai sữa, trọng lượng cai sữa/con, trọng lượng cai sữa/ổ và hệ số lứa ñẻ/năm
2.3 Xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm ñược xử lý sơ bộ bằng Microsoft Excel và phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 13.0 Kết quả thí nghiệm ñược trình bày trong các bảng số liệu là giá trị trung bình (TB) ± sai số của số trung bình (SE) Các giá trị trung bình ñược coi là khác nhau có ý nghĩa thống kê khi p ≤ 0,05
Trang 33 Kết quả và thảo luận
3.1 đặc ựiểm sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt
Kết quả khảo sát một số ựặc ựiểm sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt ựược trình bày
ở bảng 1 Lợn nái Kiềng Sắt ựộng dục lần ựầu trung bình lúc 146,87 ngày tuổi Trọng lượng cơ thể khi ựộng dục lần ựầu là 9,77 kg/con Theo Từ Quang Hiển và Lục Xuân đức (2005), Trần Văn Do và cs (2005), lợn Lang và lợn Vân Pa có tuổi ựộng dục lần ựầu muộn nên trọng lượng cơ thể khi ựộng dục lần ựầu cao hơn so với lợn Kiềng Sắt (14,42 kg ở lợn Lang và 15 kg ở lợn Vân Pa) Trong khi ựó, các kết quả nghiên cứu của
Lê Viết Ly và cs (1999), Vũ đình Huy và Hoàng Gián (1999) cho thấy lợn Móng Cái có tuổi ựộng dục lần ựầu ở 120 ngày tuổi, sớm hơn so với lợn nái Kiềng Sắt (146,87 ngày tuổi) Tuy nhiên, trọng lượng cơ thể khi ựộng dục lần ựầu của lợn nái Móng Cái khá cao, 39,54 kg/con Như vậy có thể thấy sự sai khác về tuổi ựộng dục lần ựầu và trọng lượng
cơ thể khi ựộng dục lần ựầu giữa các giống lợn bản ựịa Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do sự khác nhau về yếu tố di truyền giữa các giống lợn và môi trường nuôi
Bảng 1 Một số chỉ tiêu ựánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt
2 Trọng lượng cơ thể khi ựộng dục lần kg 15 9,77 ổ 0,34
6 Thời gian ựộng dục lại sau cai sữa ngày 45 18,73 ổ 0,37
So với một số giống lợn khác, lợn nái Kiềng Sắt khi ựộng dục thường biểu hiện không rõ ràng và yên tĩnh hơn: ắt kêu, âm hộ ắt ựỏ và sưng lên nhưng chỉ có ướt nước, không có nước nhờn chảy ra nhiều Những ựặc ựiểm tương tự cũng ựã ựược Trần Thanh Vân và đinh Thu Hà (2005) thông báo khi nghiên cứu trên lợn Mẹo trong thời kỳ ựộng dục Tuy nhiên, chu kỳ ựộng dục của nái Mẹo dài hơn so với nái Kiềng Sắt (27 Ờ 30 ngày ở lợn Mẹo so với 21,07 ngày ở lợn Kiềng Sắt) Nghiên cứu của Phạm Hữu Doanh
và Lưu Kỷ (2000); Trần Văn Do và cs (2005); Từ Quang Hiển và Lục Xuân đức (2005) trên các giống lợn Móng Cái, lợn Vân Pa và lợn Lang cho thấy chu kỳ ựộng dục diễn ra tương ựương với lợn Kiềng Sắt, tương ứng là 21 ngày, 20,5 ngày và 18,81 ngày Mặt khác theo kết quả ở bảng 1 cho thấy bình quân trên 3 lứa ựầu tiên, quá trình ựộng dục của lợn nái Kiềng Sắt diễn ra trong 4,84 ngày (biến ựộng trong thời gian 4 Ờ 7 ngày) và thời gian ựộng dục trở lại sau cai sữa là 18,73 ngày Kết quả này cao hơn so với các kết quả ựã thông báo của Nguyễn Văn đức (2005), Lê Thị Thúy và Bùi Khắc Hùng (2008),
Từ Quang Hiển và Lục Xuân đức (2005) trên lợn Móng Cái và lợn Lang Theo Nguyễn
Trang 4Văn đức (2005), Lê Thị Thúy và Bùi Khắc Hùng (2008), thời gian ựộng dục của lợn Móng Cái kéo dài 3 Ờ 4 ngày và thời gian ựộng dục trở lại sau cai sữa là 7,34 ngày Trong khi ựó, ở lợn Lang các chỉ số này lần lượt là 3,25 ngày và 8,59 ngày (Từ Quang Hiển và Lục Xuân đức, 2005) Nguyên nhân có thể là do thời gian cai sữa của lợn nái Kiềng Sắt khá dài (60 ngày) dẫn ựến lợn mẹ quá gầy sau khi cai sữa cho lợn con Mặt khác, khẩu phần ăn của lợn Kiềng Sắt ựược thiết lập giống với cách nuôi của người dân ựịa phương nên có tỉ lệ protein thấp, có thể ựây cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng ựến một số ựặc ựiểm sinh lý sinh sản của lợn nái, ựặc biệt là thời gian ựộng dục lại sau cai sữa kéo dài hơn so với một số giống lợn bản ựịa khác (lợn Móng Cái và lợn Lang)
3.2 Năng suất sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt theo lứa ựẻ
Theo đặng Vũ Bình (2003), yếu tố lứa ựẻ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng ựến năng suất sinh sản của lợn Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của 15 con lợn nái Kiềng Sắt theo dõi qua 3 lứa ựẻ ựược thể hiện ở bảng 2 Sự sai khác của 2 tắnh trạng trọng lượng sơ sinh/con và trọng lượng cai sữa/con giữa 3 lứa ựẻ là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngược lại, các tắnh trạng sinh sản khác như số con sơ sinh/ổ, số con còn sống sau 24 giờ/ổ, số con cai sữa/ổ, trọng lượng sơ sinh/ổ và trọng lượng cai sữa/ổ tăng dần qua các lứa ựẻ và sự sai khác này là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Theo kết quả ở bảng 2, mỗi năm lợn nái Kiềng Sắt ựẻ khoảng 1,96 lứa Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Vũ đình Tôn và Phan đăng Thắng (2009) trên giống lợn Bản (1,49 lứa/năm) Tuy nhiên so với giống lợn Móng Cái và các tổ hợp lợn lai ngoại,
hệ số lứa ựẻ/năm của lợn nái Kiềng Sắt thấp hơn (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1999; Nguyễn Văn Thắng và Vũ đình Tôn, 2010) Kết quả nghiên cứu Nguyễn Văn Thiện và
cs (1999) cho thấy lợn nái Móng Cái ựẻ ựược từ 2,00 Ờ 2,16 lứa/năm Ở các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace ừ Yorkshire) với ựực giống Landrace, Duroc và (Piétrain ừ Duroc), hệ số lứa ựẻ ựạt khoảng 2,31 lứa/năm (Nguyễn Văn Thắng và Vũ đình Tôn, 2010) điều này có thể là do sự sai khác về thời gian cai sữa, thời gian ựộng dục và phối giống trở lại sau cai sữa ở các giống lợn
Tắnh trung bình trên 3 lứa ựầu tiên của lợn nái Kiềng Sắt, số con sơ sinh là 6,86 con/ổ; trọng lượng lợn con sơ sinh là 408,15 g/con và trọng lượng sơ sinh toàn ổ là 2,82 kg/ổ Ở tổ hợp nái lai TD1 (Meishan ừ Yorkshire), các chỉ tiêu về số con sơ sinh, trọng lượng lợn con sơ sinh và trọng lượng sơ sinh toàn ổ bình quân của 3 lứa ựầu cho kết quả cao hơn, lần lượt là 10,76 con/ổ, 1,55 kg/con và 16,49 kg/ổ (Nguyễn Ngọc Phục và cs, 2007) Trong khi ựó, kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh (2010) trên giống lợn Bản nuôi tại điện Biên ựược theo dõi qua 3 lứa cho thấy số con sơ sinh/ổ là thấp, 5,87 con/ổ so với 6,86 con/ổ ở lợn Kiềng Sắt Tuy nhiên, trọng lượng sơ sinh/con và trọng lượng sơ sinh/ổ của lợn Bản cho giá trị cao hơn, lần lượt là 513,33 g
và 2,90 kg Theo Tummaruk và cs (2001), Schwarz và cs (2009), số con ựẻ ra trung bình trong 3 lứa ựầu tiên ở các giống lợn Landrace Thụy điển, Yorkshire Thụy điển và Large White Ba Lan là 10,97 con/ổ, cao hơn so với lợn Kiềng Sắt (6,86 con/ổ) Như vậy, yếu
Trang 5tố giống có ảnh hưởng ựến một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn Kết quả nghiên cứu của đặng Vũ Bình (2003) cũng ựã chỉ ra rằng giống ảnh hưởng ựến số con ựẻ ra, trọng lượng sơ sinh toàn ổ và trọng lượng trung bình của lợn con sơ sinh
Ngoài ra, số con cai sữa/ổ cũng là một trong những chỉ tiêu ựánh giá hiệu quả chăn nuôi của lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào sức sống của lợn con trong thời gian theo mẹ, tắnh nuôi con khéo của lợn mẹ và ựiều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của các cơ
sở chăn nuôi ựối với lợn mẹ và lợn con (Trịnh Hồng Sơn và cs, 2009) Kết quả ở bảng 2 cho thấy ở cả 3 lứa theo dõi, tỉ lệ số con còn sống sau 24 giờ ựược duy trì ựến khi cai sữa và giá trị trung bình ựạt ựược là 6,56 con/ổ Ngược lại, nghiên cứu của Vũ đình Tôn
và cs (2007) trên nái lai F1(Yorkshire ừ Móng Cái) cho kết quả về số con sơ sinh còn sống sau 24 giờ cao hơn so với số con cai sữa Sau 24 giờ, số con sơ sinh còn sống trung bình của 3 lứa ựầu ở nái lai F1 là 11,32 con/ổ, trong khi ựó số con cai sữa chỉ ựạt 10,37 con/ổ Tương tự, ở 2 giống lợn nái VCN01 và VCN02 có số con sơ sinh còn sống và số con cai sữa toàn ổ trung bình qua 3 lứa ựẻ lần lượt là 9,92 con/ổ và 8,72 con/ổ (Trịnh Hồng Sơn và cs, 2009) Theo thông báo của Trịnh Hồng Sơn và cs, 2009, số con cai sữa/ổ ảnh hưởng ựến trọng lượng lợn con khi cai sữa Với thời gian cai sữa là 59,73 ngày, lợn Kiềng Sắt có trọng lượng cai sữa trung bình qua 3 lứa ựầu là 3,76 kg/con.Kết quả trong nghiên cứu này thấp hơn so với công bố của Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh (2010) về trọng lượng cai sữa/con của nái Bản qua 3 lứa ựẻ ựầu tiên Theo nhóm tác giả, trọng lượng lợn con lúc cai sữa của nái Bản khá cao, 7,72 kg/con điều này có thể giải thắch là do sự khác nhau về thời gian cai sữa ở 2 giống lợn: 59,73 ngày ở lợn Kiềng Sắt và 113 ngày ở lợn Bản Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phục và cs (2007) trên giống lợn lai TD1 (Meishan ừ Yorkshire) cho thấy thời gian cai sữa cho lợn con ngắn nhưng trọng lượng cai sữa/con ựạt giá trị khá cao, 5,77 kg/con sau 23 ngày nuôi so với 3,76 kg/con trong 59,73 ngày nuôi ở lợn Kiềng Sắt
Bảng 2 Một số tắnh trạng sinh sản theo lứa ựẻ của lợn nái Kiềng Sắt
theo dõi
đơn vị
Trung bình
3 lứa
1 Số con sơ sinh/ổ con 4,93a ổ 0,07 6,73b ổ 0,37 8,93c ổ 0,13 6,86 ổ 0,59
2 Số con còn sống
sau 24 giờ/ổ con 4,73
a ổ 0,07 6,33b ổ 0,47 8,60c ổ 0,12 6,56 ổ 0,58
3 Số con cai sữa/ổ con 4,73a ổ 0,07 6,33b ổ 0,47 8,60c ổ 0,12 6,56 ổ 0,58
4 Trọng lượng sơ
a ổ 12,65 414,08a ổ 9,90 405,96a ổ 9,84 408,15 ổ 9,08
5 Trọng lượng sơ
a ổ 0,18 2,81b ổ 0,15 3,62c ổ 0,10 2,82 ổ 0,24
Trang 66 Thời gian cai sữa ngày 60,13 ± 0,22 60,00 ± 0,24 59,07 ± 0,46 59,73 ± 0,34
7 Trọng lượng cai
a ± 0,11 3,80a ± 0,08 3,77a ± 0,07 3,76 ± 0,48
8 Trọng lượng cai
a ± 1,40 24,37b ± 1,60 32,11c ± 1,13 24,82 ± 2,14
9 Hệ số lứa
ñẻ/năm
Lứa/
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái ở phần chỉ số trên giống nhau thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn và cs (2009) ñã chỉ ra rằng các yếu tố như thời gian cai sữa, số con cai sữa/ổ và trọng lượng cai sữa/con ảnh hưởng ñồng thời ñến trọng lượng cai sữa toàn ổ Theo kết quả ở bảng 2,trọng lượng cai sữa toàn ổ trung bình qua 3 lứa ñầu của nái Kiềng Sắt là 24,82 kg/ổ, thấp hơn so với giá trị ñạt ñược trên lợn Móng Cái cao sản tổng hợp nuôi tại Hải Phòng và Bảo Thắng (Lào Cai), 48,89 kg/ổ (Nguyễn Văn Trung và cs, 2009) Nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh (2010) cho thấy số con cai sữa bình quân trong 3 lứa ñầu tiên ở lợn nái Bản là thấp hơn
so với lợn Kiềng Sắt (5,53 con/ổ so với 6,56 con/ổ).Tuy nhiên, trọng lượng lợn con lúc cai sữa và trọng lượng cai sữa toàn ổ tính trung bình trên 3 lứa ñẻ ở lợn Bản cho kết quả cao hơn, lần lượt là 7,72 kg/con và 41,97 kg/ổ so với 3,76 kg/con và 24,82 kg/ổ ở lợn Kiềng Sắt
4 Kết luận
4.1 Lợn nái Kiềng Sắt có tuổi ñộng dục lần ñầu ở giai ñoạn 146,87 ngày tuổi
(khoảng 5 tháng tuổi) Trọng lượng cơ thể khi ñộng dục lần ñầu là 9,77 kg Thời gian ñộng dục kéo dài trong 4,84 ngày và khoảng cách giữa 2 lần ñộng dục liên tiếp là 21,07 ngày Khi ñộng dục lợn nái Kiềng Sắt thường có biểu hiện không rõ ràng và yên tĩnh hơn so với một số giống lợn khác
4.2 Mỗi năm lợn nái Kiềng Sắt ñẻ khoảng 1,96 lứa Số con ñẻ ra trên lứa tăng
dần từ lứa 1 ñến lứa 3 Trọng lượng sơ sinh trung bình là 408,15 g/con và không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các lứa ñẻ Tỉ lệ lợn con sơ sinh sống sau 24 giờ ñạt 95,63% Tỉ lệ số con còn sống ñến giai ñoạn cai sữa so với thời ñiểm 24 giờ sau khi ñẻ ñạt 100% Trọng lượng lợn con khi cai sữa ở 59,73 ngày tuổi là 3,76kg/con
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] ðặng Vũ Bình, Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại các cơ
sở giống miền Bắc, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp, 2, (2003), 113-117 [2] Trần Văn Do, Trương Thị Quỳnh, Trần Hạnh Hải, Sinh trưởng phát triển của lợn Vân
Trang 7Pa tại đakrông, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Báo cáo tóm tắt ựề tài NCKH, Sở Khoa
học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị, 2005
[3] Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn ựẻ sai con, Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội, 2000
[4] Nguyễn Văn đức, Nguồn gen giống lợn Móng Cái, Nxb Lao ựộng Ờ Xã hội, 2005 [5] Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh, đặc ựiểm ngoại hình và tắnh trạng sản xuất của lợn Bản nuôi tại điện Biên, Tạp chắ Khoa học và Phát triển, 2, (2010), 239-246
[6] Từ Quang Hiển, Lục Xuân đức, điều tra một số chỉ tiêu sinh học của giống lợn Lang tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về
chăn nuôi, (Tập I), Nxb Nông nghiệp, (2005), 227-229
[7] Vũ đình Huy, Hoàng Gián, Khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái tại các xắ nghiệp lợn giống Thanh Hóa, Tạp chắ Chăn nuôi, 2, (1999), 19-20
[8] Lê Viết Ly, Hoàng Kim Giao, Mai Văn Sánh, Võ Văn Sự, Lê Minh Sắt, Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam, tập 1: Phần Gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội, (1999)
[9] Nguyễn Ngọc Phục, Trịnh Hồng Sơn, Vũ Văn Quang, đinh Văn Hùng, đặc ựiểm sinh
lý phát dục và năng suất sinh sản của lợn cái TD1 có máu Meishan, Báo cáo khoa học
năm 2006, Phần Công nghệ sinh học và các vấn ựề kỹ thuật chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, (2007), 327-322
[10] Schwarz T, Nowicki J, and Tuz R, Reproductive performance of Polish Large White sows in intensive production Ờ Effect of parity and seasons, Ann Anim Sci., 9, (2009)
269-277
[11] Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Ngọc Phục, Lê Thế Tuấn, Nguyễn Thành
Chung, Phan Duy Hưng, Năng suất sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng và tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái VCN01 và VCN02 qua 5 thế hệ, Báo cáo Khoa học năm 2008, Phần Di truyền Ờ giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi, (2009), 103-111
[12] Nguyễn Văn Thắng, Vũ đình Tôn, Năng suất sinh sản, sinh trưởng, thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F 1 (Landrace ừ Yorkshire) với ựực giống Landrace, Duroc và (Piétrain ừ Duroc), Tạp chắ Khoa học và Phát triển, 8, (2010),
98-105
[13] Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn đức, Tạ Thị Bắch Duyên, Sức sinh sản cao của lợn Móng Cái nuôi tại nông trường Thành Tô Ờ Hải Phòng, Tạp chắ Chăn nuôi, 4, (1999),
16-17
[14] Lê Thị Thúy và Bùi Khắc Hùng, Một số chỉ tiêu về sinh trưởng phát dục, khả năng sinh sản của lợn Bản và lợn Móng Cái nuôi trong nông hộ vùng cao huyện Yên
Trang 8Châu-[15] Vũ đình Tôn, Nguyễn Văn Duy, Phan Văn Chung, Năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái lai F 1 (Yorkshire ừ Móng Cái) trong ựiều kiện nông hộ, Tạp chắ Khoa học Kỹ
thuật Nông nghiệp, 5, (2007), 38-43
[16] Vũ đình Tôn, Phan đăng Thắng, Phân bố, ựặc ựiểm và năng suất sinh sản của lợn Bản nuôi tại tỉnh Hòa Bình, Tạp chắ Khoa học và Phát triển, 7, (2009), 180-185
[17] Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Vân Anh, Giang Hồng Tuyến, đặng đình Trung, Nguyễn
Văn đức, Nguyễn Thị Viễn, Khả năng sinh sản của nhóm lợn MC TH và sinh sản, sản xuất, chất lượng thịt của lợn lai F 1 (LR ừ MC TH ) và F 1 (Y ừ MC TH ), Báo cáo Khoa học
năm 2008 Phần Di truyền Ờ giống vật nuôi Viện Chăn nuôi, (2009), 94-102
[18] Tummaruk P, Lundeheim N, Einarsson S, and Dalin AM, Effect of birth litter size, birth parity number, growth rate, backfat thickness and age at first mating of gilts on their reproductive performance as sows, Animal Reproduction Science, 66, (2001),
225-237
[19] Trần Thanh Vân, đinh Thu Hà, Khảo sát một số chỉ tiêu sản xuất của lợn Mẹo nuôi tại huyện Phú Sa tỉnh Sơn La, Tạp chắ Chăn nuôi, 1, (2005), 71
STUDY ON REPRODUCTIVE PERFORMANCE OF KIENG SAT SOWS
IN QUANG NGAI PROVINCE
Ho Trung Thong, Dam Van Tien College of Agriculture and Forestry, Hue University
Do Van Chung Department of Agriculture and Rural Developement of Quang Ngai Province
SUMMARY
The experiment was done to evaluate the reproductive performance of Kieng Sat sows
in Quang Ngai province A total of 15 female and 3 male Kieng Sat pigs were used in the experiment Results from the study showed that Kieng Sat gilts expressed their first oestruation
at 146,87 days of age The average body weight of gilts was 9,77 kg at the first oestrous period The oestrous cycle length was 21,07 days and oestrous duration was 4,84 days The oestrous expression of Kieng Sat sows was not clear and it was quieter than that of other pig breeds Kieng Sat sows had 1,96 of farrowing frequency The litter size increased from the first litter to the third one The average piglet birth weight was 408,15 g and there was no significant difference between litters The survival rate after 24 hours was 95,63% and that ratio maintained until the weaning period The piglet weaning weight was about 3,76 kg at 59,73 days of age
Key words: Kieng Sat, local pig, reproductive performance