1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

40 6,8K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 556,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCLời mở đầuChương 1: Lý luận chung về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kế toán và kiểmtoán ................................................................................................................... trang 11.1. Khái niệm về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp .......................................... trang 11.1.1. Khái niệm về đạo đức ............................................................................. trang 11.1.2. Đạo đức nghề nghiệp ............................................................................. trang 11.1.3. Khái niệm về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên ......................... trang 21.2. Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp ........................................................ trang 21.2.1. Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp nói chung ..................................... trang 31.2.2. Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp kiểm toán ..................................... trang 41.3. Lịch sử ra đời và phát triển các quy định về đạo đức nghề nghiệp cho người hànhnghề kiểm toán ................................................................................................ trang 41.3.1. Giai đoạn hình thành .............................................................................. trang 51.3.2. Giai đoạn phát triển ................................................................................ trang 51.3.3. Giai đoạn hiện tại ................................................................................... trang 81.4. Các nội dung cơ bản của hệ thống quy định về đạo đức nghề nghiệp ........ trang 91.4.1. Tổ chức lập quy và cơ chế giám sát ........................................................ trang 91.4.2. Nội dung của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ....................................... trang 9Chương 2: Thực tiễn xây dựng và áp dụng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toánkiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam .......................................................... trang 122.1. Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Liên đoàn Kế toán quốc tế trang 122.1.1. Điều lệ đạo đức năm 1996 .................................................................... trang 122.1.2. Điều lệ đạo đức nghề nghiệp năm 2001 ................................................. trang 132.1.3. Điều lệ đạo đức năm 2005 ..................................................................... trang 142.2. Quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Hoa Kỳ ............................ trang 162.2.1. Lịch sử ra đời ........................................................................................ trang 162.2.2. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp .......................................................... trang 162.3. Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Pháp ............................. trang 182.3.1. Lịch sử ra đời ........................................................................................ trang 182.3.2. Các quy định về đạo đức nghề nghiệp ................................................... trang 202.4. Các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam .................... trang 212.4.2. Lịch sử ra đời ....................................................................................... trang 212.4.2. Nội dung chuẩn mực ............................................................................ trang 22Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tại Việt Nam................................................................................................................... trang 293.1. Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp và việc giám sát sự tuân thủ đạođức nghề nghiệp ......................................................................................... trang 293.1.1. Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp ........................... trang 293.1.2. Đánh giá việc giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp .................. trang 323.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại ViệtNam ............................................................................................................ trang 333.2.1. Ban hành các hướng dẫn chi tiết về một số nội dung quan trọng ...... trang 333.2.2. Giải quyết khi có sự khác biệt .......................................................... trang 343.2.3. Giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp ....................................... trang 35Kết luậnTài liệu tham khảoLỜI NÓI ĐẦUNền kinh tế Việt Nam hiện nay đang ngày càng phát triển, hội nhập ngày càngsâu rộng vào nền kinh tế thế giới: Nhiều doanh nghiệp được thành lập, số lượng cácnhà đầu tư tăng lên nhiều lần; cùng với đó, nhu cầu về kiểm tra kiểm soát để nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh và nhu cầu về sử dụng thông tin tài chính của nhiều đốitượng khác nhau trong nền kinh tế ngày càng tăng lên. Theo đó, kiểm toán ra đời vàphát triển ngày một mạnh mẽ hơn để đáp ứng những nhu cầu đó.Những người sử dụng kết quả kiểm toán yêu cầu phải có những cuộc kiểm toánchất lượng đòi hỏi những kiểm toán viên không chỉ liên tục trau dồi kiến thức, luâncập nhật, tuân thủ các quy định pháp lý, chuẩn mực nghề nghiệp mà còn đòi hỏi phảicó đạo đức nghề nghiệp thích đáng. Có như vậy các cuộc kiểm toán mới đạt được chấtlượng cao, những người sử dụng thông tin mới có được những thông tin bổ ích.Xuất phát từ những yêu cầu đó, nhóm đã chọn đề tài: “ Đạo đức nghề nghiệpkiểm toán và thực trạng các quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán ở Việt Nam”.Nội dung đề tài gồm có 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kế toán vàkiểm toán. Chương 2: Thực tiễn xây dựng và áp dụng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kếtoán kiểm toán trên thế giới và Việt Nam. Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toánkiểm toán Việt Nam.

Trang 1

O ho

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC LỚP KẾ TOÁN ĐÊM - KHÓA 20



ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

GVHD : T.S TRẦN THỊ GIANG TÂN Thực hiện :

1 Trần Thị Mỹ Linh

2 Nguyễn Hoàng Mai

3 Trịnh Thị Thu Nhung

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10/ 2012

Trang 2

2.2.1 Lịch sử ra đời trang 16 2.2.2 Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trang 16

2.3 Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Pháp trang 18

Trang 3

2.3.1 Lịch sử ra đời trang 18 2.3.2 Các quy định về đạo đức nghề nghiệp trang 20 2.4 Các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam trang 21 2.4.2 Lịch sử ra đời trang 21 2.4.2 Nội dung chuẩn mực trang 22 Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tại Việt Nam trang 29 3.1 Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp và việc giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trang 29 3.1.1 Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp trang 29 3.1.2 Đánh giá việc giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trang 32 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam trang 33 3.2.1 Ban hành các hướng dẫn chi tiết về một số nội dung quan trọng trang 33 3.2.2 Giải quyết khi có sự khác biệt trang 34 3.2.3 Giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trang 35 Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang ngày càng phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới: Nhiều doanh nghiệp được thành lập, số lượng các nhà đầu tư tăng lên nhiều lần; cùng với đó, nhu cầu về kiểm tra kiểm soát để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và nhu cầu về sử dụng thông tin tài chính của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế ngày càng tăng lên Theo đó, kiểm toán ra đời và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn để đáp ứng những nhu cầu đó

Những người sử dụng kết quả kiểm toán yêu cầu phải có những cuộc kiểm toán chất lượng đòi hỏi những kiểm toán viên không chỉ liên tục trau dồi kiến thức, luân cập nhật, tuân thủ các quy định pháp lý, chuẩn mực nghề nghiệp mà còn đòi hỏi phải

có đạo đức nghề nghiệp thích đáng Có như vậy các cuộc kiểm toán mới đạt được chất lượng cao, những người sử dụng thông tin mới có được những thông tin bổ ích

Xuất phát từ những yêu cầu đó, nhóm đã chọn đề tài: “ Đạo đức nghề nghiệp kiểm toán và thực trạng các quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán ở Việt Nam”

Nội dung đề tài gồm có 3 chương:

 Chương 1: Lý luận chung về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kế toán và kiểm toán

 Chương 2: Thực tiễn xây dựng và áp dụng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán kiểm toán trên thế giới và Việt Nam

 Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán kiểm toán Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ

NGHIỆP CỦA KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN

1.1 Khái niệm về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm về đạo đức

Theo từ điển tiếng Việt, đạo là lẽ phải, là đường lối, là nguyên tắc mà con người

có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống, còn đức là điều tốt lành Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp nhưng nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Một số nguyên tắc đạo đức căn bản thường được thiết lập như: sự trung thực, tính có trách nhiệm, lương thiện, thẳng thắn, công bằng, ngay thẳng, tuân thủ nghĩa vụ công dân

Về mặt xã hội, đạo đức được biểu hiện bằng thái độ cụ thể của dư luận xã hội

Về mặt cá nhân, đạo đức được coi là “tòa án lương tâm” có khả năng tự phê phán, đánh giá và suy sét từng hành vi, thái độ và ý nghĩ trong bản thân mỗi cá nhân Như vậy, về bản chất, sự điều chỉnh của đạo đức mang tính tự giác, là sự tự lựa chọn của mỗi người nên ngoài biểu hiện trong các quan hệ xã hội, đạo đức còn thể hiện trong thái độ, hành vi và sự tự ứng xử trong bản thân mỗi con người

1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp được tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có chuẩn mực và quy phạm đạo đức đặc trưng của bản thân từng nghề nghiệp Trong xã hội có bao nhiêu nghề nghiệp khác nhau thì có bấy nhiêu đạo đức nghề nghiệp Trong bất kỳ thời kỳ nào, đạo đức nghề nghiệp luôn là đạo đức của xã hội đương thời, biểu hiện đặc thù và quán triệt cụ thể trong các hoạt động nghề nghiệp Trong quá trình phát triển của kinh tế, của xã hội, mỗi cá nhân đều phải lấy tâm huyết, lòng yêu nghề, trách nhiệm làm nội dung chủ yếu cho đạo đức nghề nghiệp Đó là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung mà tất cả các ngành nghề đều phải tuân theo

1.1.3 Khái niệm về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

Trang 6

Trong mọi nghề nghiệp, để hướng dẫn cho người hành nghề có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất cho lợi ích của xã hội, các cơ quan chức năng, luật pháp hay nghề nghiệp thường phải thiết lập các quy định cho người hành nghề

Kiểm toán là một nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp cao, vì vậy càng cần phải chịu sự chi phối bởi các quy định có liên quan, trong đó quy định về đạo đức nghề nghiệp là rất quan trọng

Đạo đức nghề nghiệp được định nghĩa là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội

Đạo đức nghề nghiệp yêu cầu mỗi kiểm toán viên phải là người có đạo đức, và mội tổ chức kiểm toán phải là cộng đồng của những người có đạo đức Vì thế, điều lệ đạo đức nghề nghiệp phải được xác định rõ ràng, công bố và trở thành yêu cầu bắt buộc trong nghề kiểm toán, một mặt sẽ giúp quản lý và giám sát chặt chẽ mọi kiểm toán viên, mặt khác sẽ giúp cho công chúng hiểu biết về chúng, để qua đó họ có quyền đòi hỏi và đánh giá về các hành vi đạo đức của kiểm toán viên

Nói cách khác, bên cạnh luật pháp và cùng với luật pháp, chính việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho các thành viên luôn duy trì được một thái độ nghề nghiệp đúng đắn, giúp bảo vệ và nâng cao uy tín cho nghề kiểm toán trong xã hội, bởi

nó tạo nên sự bảo đảm về chất lượng cao của dịch vụ cung ứng cho khách hàng và xã hội Điều cần chú ý là các vấn đề thuộc đạo đức nghề nghiệp có trường hợp không bị chi phối bởi luật pháp, ví dụ như kiểm toán viên phải luôn đi tìm sự hoàn hảo trong công việc, nhưng cũng có trường hợp bị chi phối bởi luật pháp, ví dụ như vấn đề bảo mật

1.2 Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp

1.2.1 Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp nói chung

Trong xã hội, làm nghề gì cũng cần phải có đức, có tâm, cần những quy tắc ứng

xử của nghề nghiệp ấy

Với ngành y, đạo đức nghề nghiệp được đặc biệt chú trọng bởi y đức có tác động trực tiếp tới tính mạng con người Nhưng thực trạng hiện nay, nhiều vụ việc

Trang 7

trong ngành y xảy ra đã cho thấy đạo đức y học đang bị suy thoái nghiêm trọng Có một bộ phận không nhỏ các bác sĩ, y tá bị thoái hóa biến chất từ những người coi việc khám chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân là bổn phận và nghĩa vụ trở thành những người

vô cảm trước tính mạng của người khác, coi việc khám chữa bệnh là một công cụ để làm giàu một cách nhanh chóng Điều đó chứng tỏ để có một bác sĩ tốt thì coi trọng việc đào tạo tay nghề là chưa đủ, mà còn cần đặc biệt quan tâm tới đạo đức nghề nghiệp

Với nghề luật sư lại có đặc trưng riêng, đó là nghề cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng mà loại dịch vụ này gắn liền với việc bảo vệ các quyền tự do, danh dự, nhân phẩm… của con người Một người bị truy tố ra trước tòa án có nghĩa là người đó

sẽ phải chịu sự phán xét của pháp luật về số phận pháp lý gắn liền với các chế tài nghiêm khắc Dịch vụ pháp lý mà luật sư cung cấp cho khách hàng vì thế cũng là một loại dịch vụ có ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của họ Có thể nói có ba yếu tố quan trọng quyết định uy tín, danh dự, sự thành bại trong hoạt động nghề nghiệp luật sư Đó là sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật thực định cũng như các lĩnh vực khác có liên quan trong đời sống xã hội; các kỹ năng hành nghề mà luật sư vận dụng trong quá trình tác nghiệp, ứng phó với các tình huống nảy sinh, thậm chí có khi rất phức tạp trong hoạt động tranh tụng; và cuối cùng là vấn đề đạo đức nghề nghiệp của người luật sư Ba yếu

tố này có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, tạo nên sức mạnh của luật sư trong việc thực hiện sứ mệnh truyền thống cao cả là “Phụng sự công lý” Trong ba yếu

tố trên, vì đặc tính độc lập và tự do trong hành nghề nên vấn đề đạo đức nghề nghiệp nổi lên như là một thành tố giúp luật sư giữ được mình trước mọi thứ cám dỗ, tiêu cực thực có trong đời sống xã hội

Ngoài ra, cũng có rất nhiều ngành khác trong xã hội cần quan tâm tới vấn đề đạo đức trong hành nghề Với nghề sư phạm, đạo đức nghề nghiệp là một yếu tố quan trọng trong phẩm chất cá nhân của những người làm nghề giáo, nó tồn tại như đỉnh của tam giác mà nền móng là kiến thức vả kĩ năng góp phần tạo nên bộ mặt nhân cách của người thầy

Như vậy, chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng với nghề kiểm toán thì sao?

1.2.2 Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp kiểm toán

Trang 8

Ngày nay, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, nhu cầu về kiểm toán là rất lớn, số lượng các cá nhân và tổ chức sử dụng kết quả kiểm toán là rất đa dạng, song không phải ai trong số họ cũng có khả năng đánh giá được tính chính xác của các kết quả kiểm toán Kiểm toán là một lĩnh vực chuyên nghiệp với những người làm việc có trình độ chuyên môn cao được kỳ vọng là hoạt động cao hơn phần đông các thành viên khác trong xã hội Khái niệm hành nghề kiểm toán đề cập đến trách nhiệm hoạt động cao hơn so với việc đơn thuần áp dụng các trách nhiệm cá nhân và các quy định của luật pháp Lý do của vấn đề này là sự tin cậy của công chúng đối với chất lượng của dịch vụ kiểm toán chuyên nghiệp bởi thông thường người sử dụng không đánh giá được chất lượng của dịch vụ kiểm toán cung cấp bởi tính chất phức tạp của loại hình dịch vụ này

Do vậy, ngoài việc tuân thủ các quy định có tính chất pháp lý, kiểm toán viên còn cần phải tuân thủ các quy tắc chuẩn mực đạo đức khi hành nghề Các quy tắc nghề nghiệp được xây dựng dựa trên cơ sở đúc kết các kinh nghiệm từ thực tế của hoạt động kiểm toán Quá trình đúc kết kinh nghiệm này đã xây dựng lên hệ thống các chuẩn mực kiểm toán Để hoạt động kiểm toán thực sự có hiệu quả, chúng ta cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực đó

1.3 Lịch sử ra đời và phát triển các quy định về đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kiểm toán

Các quy định về đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kiểm toán được hình thành do mối liên hệ giữa nghề nghiệp và môi trường xã hội Việc hình thành đạo đức nghề nghiệp xuất phát từ quan điểm cần xây dựng hình tượng lý tưởng của nghề nghiệp và khởi đầu tại Anh và Mỹ Các nhà kinh tế học cho rằng đạo đức nghề nghiệp thường được xây dựng dựa trên các nền tảng:

- Thuyết mục đích: dựa trên nền tảng mục đích của hành động Mục đích của nghề kiểm toán là gia tăng độ tin cậy cho các thông tin tài chính Vì vậy, người hành nghề cần có các đức tính để xã hội có thể tin tưởng được ở họ

- Thuyết nghĩa vụ: dựa trên cơ sở trách nhiệm và quyền hạn Việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp thể hiện mong muốn diễn tả sự đòi hỏi về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với cộng đồng, khách hàng và đồng nghiệp

Trang 9

- Thuyết phẩm chất: các phẩm chất thường được mong đợi ở kiểm toán viên là trung thực và khách quan

Quá trình hình thành và phát triển của các quy định về đạo đức nghề nghiệp có thể chia thành ba giai đoạn chính:

1.3.1 Giai đoạn hình thành

Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán trước hết xuất hiện ở Anh vào thế

kỷ 19 Ở thời kỳ này, do sự bành trướng thuộc địa của Anh, các nhà đầu tư Anh quốc

đã mở rộng đầu tư sang các quốc gia thuộc địa Chính vì thế, các chủ đầu tư cần có người để giám sát các khoản đầu tư khi họ vắng mặt, và đó là nghĩa vụ chính của kiểm toán viên Tuy vậy, khái niệm về đạo đức trong suốt thế kỷ này chưa được nhận thức

là một đức tính quan trọng của người hành nghề kiểm toán Để có thể tin cậy vào kiểm toán viên, các nhà đầu tư Anh quốc cấm kiểm toán viên đầu tư hay làm việc cho công

ty được kiểm toán Thuật ngữ đạo đức chỉ giới hạn ở sự trung thành của kiểm toán viên với các nhà đầu tư ở chính quốc, do vậy, trong thời kỳ này kiểm toán viên có thể thực hiện dịch vụ kế toán hay soạn thảo báo cáo tài chính cho công ty được kiểm toán

Có thể nói, trong giai đoạn này, chưa có chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, mà chỉ có một số yêu cầu về đạo đức đối với người hành nghề Các yêu cầu này là khởi điểm cho chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau này

1.3.2 Giai đoạn phát triển

Quan niệm về đạo đức của kiểm toán viên đã không ngừng thay đổi vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Trong thời gian này, do có sự dịch chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ, đường sắt, nhiên liệu, điện thoại … đã dẫn đến sự thay đổi trong quan điểm về mục đích, bản chất và nguồn vốn đầu tư vào các công ty Từ đó, nhiệm vụ của kiểm toán viên chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của các người chủ sở hữu vắng mặt Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa phương, mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn và nhóm này ngày càng gia tăng

Trong những năm 1930, các nhà kinh tế học Mỹ Adolf Bearle và Gardiner Means cho rằng vai trò quan trọng nhất của kiểm toán là đánh giá sự hợp lý về lợi

Trang 10

nhuận trên báo cáo tài chính của công ty, cụ thể là Bảng cân đối kế toán cần xác định tính trung thực phần lợi nhuận có thể phân phối cho các chủ sở hữu

Đến năm 1933, tại Hoa Kỳ, với sự ra đời của Luật Chứng khoán Liên bang và việc thành lập Ủy ban chứng khoán (SEC) đã dẫn đến quan điểm mới về tính độc lập của kiểm toán viên Đặc biệt, vào năm 1934 là sự ra đời của Luật Giao dịch chứng khoán, chương 13 của Luật này đã đưa ra yêu cầu về tính độc lập của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính

Ảnh hưởng lớn nhất của SEC đối với tính độc lập của kiểm toán viên là việc thiết lập các chuẩn mực kế toán và kiểm toán Theo nội dung của chuẩn mực kiểm toán, mà hình thức ban đầu là các hướng dẫn thực hành kiểm toán, trách nhiệm đầu tiên của kiểm toán viên không phải là trung thành với các nhà đầu tư vắng mặt mà chỉ chịu trách nhiệm áp dụng đúng đắn các chuẩn mực kiểm toán đã được thiết lập Từ đây, quan niệm về sự trung thành chỉ với một nhóm người đã chuyển dịch sang quan điểm ưu tiên cho tính khách quan và trung lập Quan điểm này đã được phát triển về lý thuyết bởi giáo sư A.Paton, người đã nhấn mạnh quan niệm về tính hữu ích của báo cáo tài chính Chính vì thế, vào thời gian này, các công ty kiểm toán bắt đầu điều chỉnh mục tiêu chính là tập trung vào tính khách quan và trung thực để bảo vệ cho người sử dụng báo cáo tài chính

Đến năm 1988, Hoa Kỳ ban hành bộ đạo đức nghề nghiệp và đến năm 1996, Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) cũng ban hành bộ đạo đức nghề nghiệp Có thể nói trong giai đoạn này, nghề nghiệp kiểm toán đã xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khá hoàn chỉnh Nội dung bộ đạo đức nghề nghiệp của Hoa Kỳ và IFAC trong giai đoạn này tập trung vào các nguyên tắc độc lập, chính trực và khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng, tư cách nghề nghiệp và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn

Trong giai đoạn trên, sự phát triển nhanh chóng của quá trình kinh doanh trên trường quốc tế đã cung cấp cơ hội rộng lớn cho các công ty kiểm toán, nhờ đó doanh thu từ các dịch vụ khác đã phát triển nhanh hơn doanh thu từ dịch vụ kiểm toán truyền thống Và từ những năm 1970, dịch vụ do các công ty kiểm toán cung cấp đã ngày càng đa dạng hơn và doanh thu từ dịch vụ phi kiểm toán đã chiểm tỷ trọng đáng kể

Trang 11

trong tổng doanh thu của họ, và để duy trì doanh số và gia tăng lợi nhuận, các công ty kiểm toán đã ngày càng chú ý đến các dịch vụ phi kiểm toán

Thế nhưng, khi đề cập đến tính độc lập, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho phép các công ty kiểm toán được đồng thời cung cấp dịch vụ phi kiểm toán bên cạnh dịch vụ kiểm toán Tuy chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có nhấn mạnh tính độc lập của kiểm toán viên, nhưng do sự cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các dịch vụ kiểm toán, cùng với tính phức tạp của việc cung cấp nhiều dịch vụ đã làm giảm đi tính khách quan và trung thực Bên cạnh đó, sự sút giảm doanh thu từ hoạt động kiểm toán

và việc gia tăng doanh thu từ hoạt động phi kiểm toán đã ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên, bởi lẽ vì họ cho rằng có thể tư vấn cho khách hàng nên đã chuyển sang ưu tiên cho việc cố gắng trở thành nhà tư vấn đáng tin cậy của khách hàng

Nhìn chung, trong giai đoạn 1988 – 2001, các quy định về đạo đức nghề nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới đều cho rằng công ty kiểm toán và kiểm toán viên có thể cung cấp dịch vụ kế toán và các dịch vụ phi kiểm toán khác, nếu:

- Không có mâu thuẫn quyền lợi để có thể gây ảnh hưởng đến tính chính trực và khách quan

- Khách hàng chấp nhận trách nhiệm của họ đối với báo cáo tài chính

- Kiểm toán viên không được kiêm nhiệm việc quản lý, trong đó bao gồm cả việc không được soạn thảo báo cáo tài chính

- Khi thực hiện kiểm toán, cần tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết, không được

bỏ sót hay cắt giảm các thủ tục kiểm toán

Ngoài ra, kiểm toán viên có thể kiểm toán cho công ty mà mình có lợi ích tài chính không trọng yếu hay có các khoản đi vay hoặc cho vay, nếu khoản cho vay được tiến hành theo đúng trình tự quy định và khoản này là không trọng yếu

Trước tình hình đó, trong thập niên 1990, đã bắt đầu xuất hiện nhiều cảnh báo liên quan đến tính độc lập và các đề nghị gia tăng tính độc lập của kiểm toán viên Các cảnh báo này tập trung vào việc cung cấp đồng thời nhiều dịch vụ và kiểm toán lâu năm cho cùng một khách hàng

Vì thế, P.Moizier đã đề nghị nhiều giải pháp nhằm làm gia tăng tính độc lập, như là cấm kiểm toán viên có lợi ích tài chính trong công ty khách hàng, xoay vòng

Trang 12

kiểm toán … Ngoài ra, về dịch vụ phi kiểm toán, P.Moizier cũng đã cảnh báo rằng các dịch vụ này có thể sẽ làm ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên và công ty kiểm toán

Thế nhưng các cảnh báo trên đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ năm công ty kiểm toán hàng đầu Các công ty này cho rằng do các chi phí kiểm toán cho những năm đầu tiên bao giờ cũng cao và nếu phải xoay vòng, sẽ không thể bù đắp được chi phí này, chính việc cung cấp nhiều dịch vụ sẽ có lợi hơn cho khách hàng và không gây phương hại đến tính độc lập Vào thời kỳ này, ngay cả SEC cũng không ủng hộ ý kiến xoay vòng và vẫn cho phép cung cấp nhiều dịch vụ, vì họ cho rằng việc cung cấp đồng thời các dịch vụ phi kiểm toán hoặc kiểm toán lâu năm cho cùng một khách hàng hầu như không có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên

1.3.3 Giai đoạn hiện tại

Đến đầu những năm 2000, sau hàng loạt vụ bê bối tài chính (do sự thất bại trong kiểm toán các công ty Eron, WorldCom, Ahold …) đã hình thành nên quan điểm cho rằng chính việc kiểm toán viên kiêm nhà tư vấn cho khách hàng là một trong những nguyên nhân đưa đến các vụ trên, đặc biệt là đưa đến sự tan rã của công ty kiểm toán Arthur Andersen

Chính vì vậy, sau năm 2001, Ủy ban chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quốc tế cũng như nhiều Hiệp hội nghề nghiệp của các quốc gia trên thế giới đã sửa đổi một số quy định về đạo đức nghề nghiệp Các thay đổi trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tập trung vào việc nâng cao mức độ độc lập giữa kiểm toán viên và nhà quản lý của khách hàng, thông qua việc cấm cung cấp đồng thời dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán, cũng như nhấn mạnh việc xoay vòng kiểm toán

1.4 Các nội dung cơ bản của hệ thống quy định về đạo đức nghề nghiệp

1.4.1 Tổ chức lập quy và cơ chế giám sát

Thông thường tại các quốc gia trên thế giới, việc xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chủ yếu là do Hội nghề nghiệp đảm nhận hay một tổ chức hỗn hợp trong

đó có các thành viên là Hội nghề nghiệp, vừa có các thành phần khác Ở Hoa Kỳ, đó là

Ủy ban Đạo đức nghề nghiệp (PEEC), ở Pháp là Liên đoàn Quốc gia các Chuyên viên

Kế toán (CNCC) nhưng phải được Ủy ban tham chính thông qua Bên cạnh chuẩn mực

Trang 13

đạo đức nghề nghiệp do Hội nghề nghiệp soạn thảo, còn có các quy định pháp luật có liên quan

Để các quy định đạo đức nghề nghiệp đi vào thực tế, cần phải thiết lập một cơ chế để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, cũng như nhằm xét xử các hành vi

vi phạm đạo đức nghề nghiệp Thông thường việc giám sát tuân thủ đạo đức nghề nghiệp được thực hiện cùng với quá trình giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán Vì vậy cần có bộ phận chuyên trách về giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán cũng như

bộ phận phụ trách xét xử kỷ luật Bộ phận kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán

có thể trực thuộc Hội nghề nghiệp, hoặc có thể là bộ phận vừa trực thuộc Hội nghề nghiệp vừa trực thuộc Ủy ban chứng khoán, đó cũng có thể là cơ quan được thành lập theo yêu cầu của luật pháp

Tùy theo đặc điểm từng quốc gia, để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, cần giải quyết mối quan hệ đúng đắn giữa Nhà nước và Hội nghề nghiệp Nếu

tổ chức nghề nghiệp phát triển mạnh và đưa ra được chuẩn mực hay quy định chặt chẽ, lúc này, Nhà nước sẽ chỉ giới hạn vai trò của mình trong việc đưa ra khuôn khổ pháp

lý Ngược lại, nếu tổ chức nghề nghiệp không đủ mạnh để đảm nhận vai trò này, Nhà nước phải can thiệp sâu hơn bằng việc ban hành các văn bản pháp lý về việc giám sát

sự tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

1.4.2 Nội dung của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Về thực chất, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là sự tiêu chuẩn hóa các nguyên tắc và hướng dẫn nhằm giúp các thành viên hoạt động một cách trung thực để đáp ứng

sự mong đợi của xã hội đối với nghề nghiệp

Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều tình huống phát sinh khác nhau ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Chính vì vậy, nội dung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp phải đưa ra được phương pháp giải quyết đối với các trường hợp có thể phát sinh trong thực tế liên quan đến đạo đức nghề nghiệp Nhưng điều đó không có nghĩa chuẩn mực đưa ra các giải quyết quá chi tiết, tức đề cập quá sâu vào các trường hợp cụ thể, vì như vậy chuẩn mực sẽ rất dễ lạc hậu do phải thay đổi liên tục

Ngược lại, nếu thiết lập các quy định quá chung chung sẽ rất khó áp dụng vào thực tiễn Vì vậy, cần lựa chọn cân bằng giữa tính khái quát hóa và chi tiết hóa nhằm giúp kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể dễ dàng áp dụng chúng vào thực tế và

Trang 14

chuẩn mực ít bị thay đổi nhất Điều đó có nghĩa là, khi mà chuẩn mực chỉ thiết lập các nguyên tắc chung nhất, bên cạnh chuẩn mực sẽ cần có những hướng dẫn và giải thích

để dễ dàng áp dụng chúng vào thực tế

Bên cạnh đó, tất cả các quốc gia là thành viên của IFAC, khi xây dựng các quy định về đạo đức nghề nghiệp phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của IFAC Các quốc gia chỉ được đưa ra các nguyên tắc nghiêm ngặt hơn quy định của quốc tế

Thông thường, các nội dung sau đây được quy định trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập:

- Chính trực: kiểm toán viên phải thực hiện công việc với một tinh thần trung thực, thẳng thắn, bất vụ lợi

- Khách quan: kiểm toán viên phải công minh, nghĩa là không được phép phán quyết một cách vội vàng, hoặc áp đặt, hay gây áp lực đối với người khác

- Độc lập: kiểm toán viên phải độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức

- Bảo mật: kiểm toán viên phải giữ bí mật của những thông tin đã thu thập được trong thời gian thực hiện các dịch vụ chuyên môn, và không được sử dụng hoặc tiết lộ bất cứ thông tin nào nếu không có thẩm quyền rõ ràng và hợp lý, trừ khi

có nghĩa vụ pháp lý, hoặc trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu phải công bố

- Chấp hành các chuẩn mực nghiệp vụ trong khi tiến hành công việc

- Trình độ nghiệp vụ: kiểm toán viên có nghĩa vụ phải duy trì trình độ nghiệp vụ của mình trong suốt quá trình hành nghề, kiểm toán viên chỉ được phép nhận làm những công việc khi đã có đủ trình độ nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ

- Tư cách nghề nghiệp: kiểm toán viên phải tự điều chỉnh những hành vi của mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, và phải tự kiềm chế những hành động có thể phá hoại uy tín nghề nghiệp

Trang 15

CHƯƠNG 2 : THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI

VIỆT NAM

2.1 Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Liên đoàn Kế toán quốc tế

Năm 1994, IFAC ban hành các chuẩn mực kiểm toán vào năm 1994 và bắt đầu soạn thảo bộ đạo đức nghề nghiệp Ban đầu, việc soạn thảo bộ đạo đức nghề nghiệp do

Ủy ban đạo đức nghề nghiệp trực thuộc IFAC đảm nhận, còn hiện nay do IESBA đảm trách Ủy ban này tư vấn cho IFAC về các vấn đề liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, đồng thời soạn thảo các hướng dẫn chi tiết về những vấn đề đã được IFAC phê chuẩn

Bộ đạo đức nghề nghiệp do IFAC cho đến nay là đã được sửa đổi hai lần vào năm

2001 và 2005 kể từ thời điểm ban hành (1996)

2.1.1 Điều lệ đạo đức năm 1996

Tháng 7/1996, ủy ban đạo đức nghề nghiệp (trực thuộc IFAC) ban hành bộ đạo đạo đức nghề nghiệp chính thức cơ sở kế thừa các hướng dẫn trước đó của IFAC Nội dung gồm có 3 phần: phần A áp dụng cho người hành nghề chuyên nghiệp, phần B áp dụng cho kiểm toán viên, phần C áp dụng cho người hành nghề kế toán trong các doanh nghiệp Điều lệ có nêu lên các tình huống làm ảnh hưởng đến tính độc lập người hành nghề, những tình huống mà các kiểm toán viên dễ gặp phải như sau:

- Có lợi ích tài chính Khi kiểm toán viên có các khoản đầu tư trong công ty

khách hàng, có khoản đi vay hay cho vay, nắm giữ các lợi ích tài chính trong công ty khách hàng có thể sẽ làm ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên khi tiến hành kiểm toán

- Bổ nhiệm công ty kiểm toán Công ty kiểm toán không được bổ nhiệm một

người làm kiểm toán viên trong nhóm kiểm toán khi người đó đang là thành viên trong ban giám đốc hay hội đồng quản trị của khách hàng

- Các dịch vụ khác Kiểm toán viên có thể thực hiện các dịch vụ khác đồng thời

với việc thực hiện kiểm toán cho khách hàng khi thỏa mãn các điều kiện như: kiểm toán viên không có mối liên hệ với khách hàng hay xung đột lợi ích có thể

Trang 16

ảnh hưởng đến tính trung thực và đọc lập; kiểm toán viên không được là nhân viên hay người quản lý của khách hàng

- Mối liên hệ cá nhân và gia đình Mối liên hệ gia đình sẽ tạo nguy cơ ảnh hưởng

đến tính độc lập Mối liên hệ gia đình thường là mối liên hệ trong đó kiểm toán viên hay chủ phần hùn có quan hệ với những người lãnh đạo chủ chốt trong công ty được kiểm toán

- Phí kiểm toán và dịch vụ khác Nếu khoản phí thu được từ hợp đồng là quá lớn,

nhóm kiểm toán có thể sẽ bị phụ thuộc vào khách hàng và sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập

- Quà tặng Nếu kiểm toán viên hay gia đình họ nhận từ khách hàng những món

quà mà không phải mang tính chất xã giao thì sẽ rất dễ bị ảnh hưởng tới tính độclập

- Quyền sở hữu về vốn Vốn đầu tư trong công ty kiểm toán nên thuộc vè kiểm

toán viên Nếu thuộc quyền sở hữu của người khác kiểm toán viên có thể bị gây

áp lực

- Tranh chấp pháp lý với khách hàng Những tranh chấp này cũng có thể ảnh

hưởng tới tính độc lập và khách quan của kiểm toán viên

- Cộng tác lâu dài với khách hàng Việc một kiểm toán viên cộng tác lâu dài với

khách hàng có thể đe dọa tính độc lập, vì thế công ty kiểm toán nên xoay vòng các kiểm toán viên trong một thời gian kiểm toán nhất định để không ảnh hưởng đến tính độc lập và khách quan

2.1.2 Điều lệ đạo đức nghề nghiệp năm 2001

Sau khi ban hành điều lệ đạo đức nghề nghiệp năm 1996, đến năm 2000, do sự phá sản của các công ty lớn trên thế giới như Enron, Wordcom, cũng như sự phá sản của Arthur Andersen đã đánh mất lòng tin của quần chúng Ủy ban thực hành kiểm toán (IAPC) thanh đổi thành ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) IFAC đã xem xét lại toàn bộ các quy định về đạo đức và ban hành điều

lệ đạo đức mới có hiệu lực từ tháng 11 năm 2001

Kết cấu của điều lệ đạo đức nghề nghiệp năm 2001 cũng gồm có ba phần chính tương tự điều lệ đạo đức nghề nghiệp ban hành năm 1996: Phần A áp dụng cho tất cả

Trang 17

người hành nghề; phần B áp dụng cho kiểm toán viên; phần C áp dụng cho người hành nghề làm việc tại các doanh nghiệp Trong điều lệ năm 2001 này, ở phần B đã định nghĩa rõ ràng hơn về tính độc lập trong khi điều lệ 1996 không nói rõ thế nào là độc lập IFAC đã đưa ra cách tiếp cận và định nghĩa thuật ngữ đạo đức trên hai phương diện là độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức

 Phạm vi áp dụng: Không chỉ áp dụng cho hợp đồng kiểm toán mà còn áp dụng

cho các hợp đồng dịch vụ và đảm bảo

Thay vì giải thích riêng từng trường hợp cụ thể như trước đây, IFAC xác lập các nguy cơ và biện pháp bảo vệ IFAC cho rằng có năm nhóm nguy cơ là nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra, nguy cơ về quan hệ gia đình, nguy cơ bị đe dọa Biện pháp bảo vệ bao gồm các biện pháp do luật và chuẩn mực quy định, các biện pháp bảo vệ của người sử dụng dịch vụ đảm bảo, các biện pháp bảo vệ trong các quy định của bản than công ty kiểm toán

 Về quan điểm: IFAC thay đổi tạp trung vào ba chủ đề chính như sau:

- Các dịch vụ cung cấp: Trước đây, các công ty kiểm toán được phép thực hiện

các dịch vụ kế toán và một số dịch vụ phi kiểm toán, nhưng điều lệ năm 2001 lại yêu cầu các kiểm toán viên không được phép thực hiện đồng thời các dịch vụ này

- Về quay vòng kiểm toán: Thời gian phụ trách hợp đồng thường là không quá 7

năm, và sau 2 năm mới được tái thực hiện

- Nhấn mạnh các biện pháp bảo vệ trong trường hợp giám đốc hay nhân viên cấp

cao hoặc nhân viên của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo đã từng là giám đốc của công ty kiểm toán không được thực hiện kiểm toán

2.1.3 Điều lệ đạo đức năm 2005

Nếu như trước đây điều lệ đạo đức nghề nghiệp được xem như một mô hình để các quốc gia tham chiếu, đến năm 2005 IFAC đã yêu cầu tất cả các nước thành viên đều phải áp dụng Không thành viên nào được phép áp dụng các quy định kém nghiêm ngặt hơn so với các quy định mà IFAC đã thiết lập Bố cục điều lệ năm 2005 được chia thành ba phần:

Trang 18

 Phần A đề cập đến 6 nguyên tắc đạo đức căn bản cho người hành nghề bao gồm tính chính trực khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng, bảo mật,

tư cách nghề nghiệp

 Phần B áp dụng cho người hành nghề Nội dung của tính độc lập trong điều lệ đạo đức năm 2005 cũng có nhiều thay đổi, bao gồm: thêm phần giới thiệu về hợp đồng bảo đảm; thêm phần trình bày cơ sở dẫn liệu căn bản cho hợp đồng đảm bảo, trong đó có phân biệt hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính và hợp đồng đảm bảo khác; thay đổi bên chịu trách nhiệm có liên quan là Ban lãnh đạo của công ty, trong khi chuẩn mực 2001 cho rằng đó là Ban quản lý

Năm 2007, Ủy ban chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp (IESBA) đưa ra bản dự thảo mới trong đó hiệu đính một số nội dung nhằm mục đích tạo ra sự dễ hiểu hơn cho người đọc

Tháng 4/2008, IESBA đã phê chuẩn việc điều chỉnh phần 290, trong đó nguyên tắc độc lập chỉ được áp dụng cho các dịch vụ kiểm toán và soát xét Ủy ban cũng phê chuẩn việc đưa thêm phần 291 liên quan đến yêu cầu về tính độc lập cho các dịch vụ đảm bảo khác

Tháng 7/2009, tại New York, Ủy ban chuẩn mực đạo đức kế toán quốc tế (IESBA) đã công bố Sửa đổi bộ Chuẩn mực đạo đức cho kế toán viên chuyên nghiệp

Bộ chuẩn mực Sửa đổi này làm rõ các yêu cầu đối với tất cả kế toán viên chuyên nghiệp và tăng cường đáng kể các yêu cầu về tính độc lập đối với kiểm toán viên

Trong Tuyên bố về trách nhiệm của các thành viên của Liên đoàn kế toán quốc

tế (IFAC), các quốc gia thành viên có mục tiêu trung tâm là hội nhập các chuẩn mực quốc gia với Bộ chuẩn mực đạo đức cho kế toán viên chuyên nghiệp quốc tế Thêm vào đó tuyên bố này cũng yêu cầu cụ thể các quốc gia không được áp dụng các chuẩn mực quốc gia ít nghiêm ngặt hơn chuẩn mực quốc tế

2.2 Quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Hoa Kỳ

2.2.1 Lịch sử ra đời

Hoạt động kiểm toán độc lập của Hoa Kỳ đã hình thành từ thế kỷ 19 từ sự phát triển của các công ty cổ phần Thế nhưng, mãi đến năm 1933, với sự ra đời của Luật Chứng khoán Liên bang, mới đưa ra yêu cầu bắt buộc báo cáo tài chính của các công

Trang 19

ty cổ phần niêm yết phải được kiểm toán Đặc biệt, vào năm 1934, Luật giao dịch chứng khoán đã ra đời và Chương 13 đã đưa ra quy định về tính độc lập của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính

Trước khi có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, tại Hoa Kỳ đã có các quy định,

đó là các vấn đề do AICPA trả lời cho các câu hỏi do người hành nghề đặt ra về vấn đề

cụ thể, và thường được công bố trên tạp chí Kế toán

Do nhu cầu thực tiễn, PEEC (Ủy ban đạo đức nghề nghiệp) trực thuộc AICPA (Hiệp Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ) đã soạn thảo và ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đầu tiên vào ngày 12/01/1988 Nội dung chủ yếu đề cập đến các nguyên tắc căn bản chi phối hành vi của kiểm toán viên và công ty kiểm toán

2.2.2 Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Hoa Kỳ bao gồm bốn bậc:

 Bậc 1 – Nguyên tắc: là các chuẩn mực lý tưởng về đạo đức và không mang tính bắt buộc

 Bậc 2 – Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp: đây là chuẩn mực tối thiểu về đạo đức, đó là sự chi tiết hoá nguyên tắc và mang tính bắt buộc Người hành nghề nếu không chấp hành sẽ phải giải trình trước Ủy ban kỷ luật về lý do của hành

vi không tuân thủ này

 Bậc 3 – Các giải thích về đạo đức: là những hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng các quy tắc trong thực tế Tuy vậy, các vấn đề phát sinh trong thực tế có thể không chỉ giới hạn ở những hướng dẫn trên

 Bậc 4 – Quy định về đạo đức: đây là các câu hỏi và những câu trả lời của AICPA về các vấn đề do người hành nghề đặt ra

Trong các bậc trên, các nguyên tắc và quy tắc đề cập đến những đức tính lý tưởng của người hành nghề xã hội mong đợi Chính vì vậy, từ khi ra đời đến nay, các nguyên tắc và quy tắc này hầu như chưa thay đổi Còn các giải thích và quy định là những hướng dẫn về cách thức giải quyết vấn đề đạo đức trong các tình huống cụ thể,

vì thế chúng đã thay đổi không ngừng tùy theo sự phát triển của đời sống xã hội

Tính độc lập là nội dung chủ yếu nhất nên được đề cập đến sớm nhất và cũng

có nhiều thay đổi nhất trong nội dung của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các

Trang 20

hướng dẫn ban đầu tập trung vào nguyên tắc độc lập Dần dần, cùng với quá trình phát triển, các nguyên tắc khác lần lượt được quy định

Nội dung của chuẩn mực đạo đức gồm bảy nguyên tắc Nội dung tóm tắt của bảy nguyên tắc như sau:

 Nguyên tắc 1: Các nguyên tắc chung về đạo đức nghề nghiệp

Qua những nguyên tắc này, AICPA đề cập đến trách nhiệm và nghĩa vụ của kiểm toán viên đối với công chúng, khách hàng và đồng nghiệp thông qua các quy tắc về: trách nhiệm; lợi ích cộng đồng; chính trực; khách quan và độc lập; thận trọng đúng mức; phạm vi và loại hình dịch vụ - tuân thủ chuẩn mực chuyên môn

 Nguyên tắc 2: Tuân thủ quy tắc đạo đức và định nghĩa

Điều lệ yêu cầu các thành viên tuân thủ cá quy tắc đạo đức nghề nghiệp và kiểm toán viên phải chứng minh nếu có sự vi phạm các quy tắc này, trừ khi có các quy định khác trái ngược

 Nguyên tắc 3 – Độc lập, chính trực và khách quan

Phần này nói về các quy tắc đạo đức về độc lập, chính trực và khách quan AICPA đã nêu ra một số trường hợp quy định trong khi thực hiện hợp đồng kiểm toán hay vào thời gian phát hành báo cáo, kiểm toán viên không được: có các lợi ích trực tiếp trong công ty khách hàng; là người được ủy thác hay người quản lý tài sản; có mối quan hệ gia đình với cán bộ chủ chốt trong công ty khách hàng;có khaonr cho vay hay

đi vay từ các thành viên, giám đốc hay các cổ đông chủ yếu của công ty khách hàng ngoại trừ khi các khoản này được cho phép hay đã thực hiện đúng trình tự cho vay theo luật định; đang có tranh tụng giữa khách hàng với với kiểm toán viên

 Nguyên tắc 4 – Tuân thủ nguyên tắc kế toán và cá chuẩn mực chung

Người hành nghề cần tuân thủ các chuẩn mực và hướng dẫn do PEEC ban hành về: năng lực chuyên môn; thận trọng nghề nghiệp; lập kế hoạch giám sát; thu thập thông tin đầy đủ và thích hợp Ngoài ra, khi báo cáo tài chính còn chứa đụng những sai phạm trọng yếu và không tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán viên không nên cho ý kiến hay khẳng định rằng báo cáo tài chính đã được trình bày phù hợp với chuẩn mực kế toán

Ngày đăng: 23/07/2014, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w